B T PHP
B GIO DC V O TO
Trường đại học luật hà nội
Tài sản trong pháp luật dân sự Việt Nam
Những vấn đề lý luận và thực tiễn
đề tài khoa học cấp trường
Chủ nhiệm đề tài: TS. Phạm Công Lạc
hà nội 2006
Tt
Chuyên đề
Người thực hiện
1
Khái niệm chung về tài sản và các cách phân loại tài T.S. Phạm Công Lạc
sản trong pháp luật dân sự
2
Ch phỏp lý i vi ti sn v hng hon thin Th.S. Nguyễn Minh Tuấn
cỏc quy nh chung v ti sn trong Lut Dõn s
3
9
Quyền yêu cầu đặc điểm và bản chất pháp lý của Th.S. Vũ Thị Hồng Yến
quyền yêu cầu
T.S. Bùi Đăng Hiếu
T.S. Phùng Trung Tập
10 Quyền sở hữu trí tuệ, đặc điểm và bản chất pháp lý Th.S. Lê Đình Nghị
của quyền sở hữu trí tuệ
11 Những bất cập và phương hướng hoàn thiện các quy Th.S. Ng. Như Quỳnh
định của pháp luật về Vit Nam v quyn s hu trớ
tu
1
Mở ĐầU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài;
Sở hữu là vấn đề trung tâm của các quan hệ xã hội nói chung, pháp luật nói
riêng. Pháp luật của các quốc gia trên thế giới luôn xác định sở hữu, quyền sở
hữu là vấn đề quan trọng nhất của pháp luật dân sự, các quan hệ tài sản luôn
xuất phát từ quan hệ sở hữu và sau đó lại hướng tới quan hệ sở hữu, vì nó và
do nó để tạo thành các quan hệ pháp luật dân sự khác.
Tài sản là đối tượng của quyền sở hữu, là khách thể của quan hệ pháp luật
về sở hữu, là mục đích của nhiều quan hệ pháp luật mà các chủ thể tham gia
các quan hệ đó.
Khái niệm và cách phân loại tài sản không phải là vấn đề mới đối với luật
của nhiều nhà khoa học kinh tế và pháp lý. Tài sản là khách thể của quyền sở
hữu, sở hữu là vấn đề trung tâm của pháp luật dân sự. Có thể khẳng định rằng
tài sản là vấn đề vô cùng quan trọng khi chúng ta xem xét các vấn đề có liên
quan đến tài sản trong các giao dịch dân sự, kinh tế. Dù tài sản là vấn đề quan
trọng như vậy nhưng trong Bộ luật dân sự năm 1995 chúng ta chỉ đề cập đến
khái niệm tài sản dưới dạng liệt kê, phân loại tài sản theo một số tiêu chí nhất
định...
Đã có một số công tình nghiên cứu về tài sản như Tài sản trong Luật
dân sự của Tiến sỹ Nguyễn Ngọc Điện (1999), một số khóa luận của sinh
viên tuy nhiên những công trình này vẫn chưa chỉ ra được những bất cập về
tài sản, phân loại tài sản, hướng hoàn thiện pháp luật. Nghiên cứu một cách cụ
thể, chi tiết, có hệ thống về tài sản dưới góc độ hình thành và phát triển của
khoa học pháp lý, phân loại theo các tiêu chí khác nhau, quan niệm mới về tài
sản trong giai đoạn hiện nay thì chưa có một công trình khoa học nào đề cập
cụ thể.
Trong thời gian vừa qua có một số công trình nghiên cứu có liên quan
đến vấn đề tài sản và quyền sở hữu như:
- Sách tham khảo của tác giả PGS.TS. Nguyễn Văn Thạo và TS. Nguyễn
Hữu Đạt với tên gọi Một số vấn đề về sở hữu ở nước ta hiện nay (NXB
Chính trị quốc gia - 2004). Đây là cuốn sách thuộc ngành Kinh tế học, đề cập
đến vấn đề sở hữu chỉ dưới góc độ kinh tế. Trong nội dung cuốn sách cũng có
chứa một mục nhỏ phân tích về các hình thức sở hữu, nhưng không phân tích
góc độ pháp lý của tài sản, không hề nêu ra phương hướng hoàn thiện pháp
luật về tài sản.
- Đề tài khoa học cấp nhà nước mang mã số KX 01-04 (thuộc Chương
trình KX-01 năm 2001 2005) của chủ nhiệm đề tài GS. TS. Nguyễn Thanh
Tuyền (Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh) với tiêu đề Sở hữu tư nhân,
3
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là tìm hiểu các qui định của Bộ
luật Dân sự Việt Nam về tài sản, qua đó đối chiếu, so sánh với pháp luật của
một số nước trên thế giới để có sự đánh giá khách quan, toàn diện trong qui
định của pháp luật về tài sản. Qua đó, có những khuyến nghị liên quan đến
4
việc hiểu, vận dụng pháp luật cũng như hướng sửa đổi, bổ sung các qui định
về tài sản trong Luật Dân sự.
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài;
Đề tài được nghiên cứu trong phạm vi sau đây:
- Nghiên cứu sự phát triển của pháp luật dân sự trong qui định về tài sản
từ năm 1945 đến nay;
- Phân tích, làm rõ các qui định về tài sản, phân loại tài sản trong Bộ luật
Dân sự;
- Tìm hiểu, phân tích các loại tài sản cụ thể, đặc thù của pháp luật dân sự;
- So sánh các qui định về tài sản, phân loại tài sản trong Bộ luật Dân sự
Việt Nam với pháp luật dân sự của một số nước trên thế giới;
- Đưa ra những giải pháp trong việc thực thi, hoàn thiện pháp luật trong
các qui định về tài sản.
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài;
Đề tài được nghiên cứu theo phương pháp duy vật biện chứng, duy vật
lịch sử của Chủ nghĩa Mác Lê Nin; các phương pháp phân tích, so sánh,
diễn giải, qui nạp cũng được sử dụng trong quá trình thực hiện đề tài.
5
TổNG THUậT NộI DUNG CáC CHUYÊN Đề NGHIÊN CứU
6
Tài sản vô hình (tài sản trí tuệ thuộc đối tượng của quyền sở hữu trí
tuệ) là kết quả của hoạt động sáng tạo của con người được thể hiện dưới một
hình thức khách quan nhất định. Tài sản hữu hình là tài sản có thể nhận thấy
bằng các giác quan thông thường của con người. Việc phân loại này có một ý
nghĩa đặc biệt trong xã hội hiện đại. Khi mà sản phẩm trí tuệ với đặc điểm vô
hình không thể chiếm hữu theo nghĩa thông thường về quyền chiếm hữu và
việc sử dụng không nhất thiết gắn với quyền chiếm hữu thì việc bảo vệ quyền
sở hữu đối với loại tài sản này có những đặc điểm khác biệt so với tài sản được
coi là hữu hình. Việc thực hiện các quyền năng của quyền sở hữu, phương
thức bảo vệ đối với tài sản vô hình và tài sản hữu hình có những điểm khác
biệt do đặc tính của chúng.
Trong BLDS 2005 đưa ra khái niệm tài sản với tư cách là đối tượng
trong giao lưu dân sự thì : Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các
quyền tài sản (Điều 163). Đây là khái niệm mang tính liệt kê mà không có
giải thích cụ thể về từng loại và dấu hiệu để để xác định các loại tài sản đó
trong các quy định sau trong Bộ luật Dân sự.
Căn cứ vào giá trị và giá trị sử dụng của vật đối với xã hội về kinh tế, an
ninh, quốc phòng, Pháp luật quy định cách thức phát sinh quyền sở hữu, trình
tự và các nguyên tắc dịch chuyển quyền sở hữu đối với các loại vật. Tổng hợp
các quy phạm pháp luật quy định trình tự, phương thức dịch chuyển vật, gọi là
chế độ pháp lý của vật đó. Căn cứ vào chế độ pháp lý của vật, người ta phân
chia vật theo các chế độ: Vật cấm lưu thông, vật hạn chế lưu thông, vật tự do
lưu thông. Vật cấm lưu thông là những vật không được phép chuyển giao
trong các giao dịch dân sự, không thể trở thành đối tượng trong các hợp đồng
dân sự. Vật hạn chế lưu thông là những vật mà khi chuyển dịch các vật đó
phải tuân theo các quy định của pháp luật về việc chuyển dịch các loại vật đó
Để mở rộng giao lưu dân sự trong điều kiện nền kinh tế thị trường, riêng
đối với loại tài sản đặc biệt là đất đai, Luật Đất đai và Luật Dân sự cho phép
những người không phải là chủ sở hữu nhưng cũng có một số quyền năng nhất
định theo quy định tại Phần thứ năm BLDS. Đó là các quyền: quyền sử dụng,
quyền chuyển đổi, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, thế chấp, góp vốn và tặng
cho quyền sử dụng đất.
Như vậy: Pháp luật dân sự ghi nhận và phân loại tài sản theo các tiêu
chí khác nhau. Việc phân loại tài san theo các tiêu chí này có ý nghĩa rất lớn
trong các giao dịch dân sự cụ thể liên quan đến các loại tài sản này. Ngoài ra,
phân loại tài sản còn có ý nghĩa đối với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
trong việc thực hiện các thủ tục hành chính có liên quan đến các loại tài sản
này.
8
2. Ti sn trong Lut Dõn s v hng hon thin phõn loi ti
sn trong Lut Dõn s
Tài sản không phải là vấn đề mới trong pháp luật dân sự. Trong các văn
bản pháp luật của chế độ cũ, các văn bản pháp luật được ban hành sau năm
1945 đã đề cập đến tài sản và một số cách phân loại tài sản.
Bộ luật Dân sự năm 1995, Bộ luật Dân sự sửa đổi năm 2005 đề cập cụ
thể, chi tiết về tài sản, cách phân loại tài sản. Tuy nhiên, khái niệm, cách phân
loại tài sản theo qui định tại Bộ luật Dân sự năm 2005 vẫn còn nhiều bất cập.
Hoàn thiện việc phân loại tài sản là một trong những yêu cầu hết sức cần thiết.
Phân loại tài sản cần phải dựa trên những tiêu chí nhất định:
- Phân biệt tài sản là bất động sản, trước hết căn cứ vào bản chất là
không di dời. Tài sản không tự nó di chuyển được từ chỗ này đến chỗ khác
hoặc do ngoại lực tác động cũng thể dịch chuyển được như đất đai.
- Cn c th hai phõn loi ti sn l bt ng sn l sa vo cụng
Vật trong đời sống xã hội tồn tại ở nhiều dạng khác nhau, mỗi một vật
có đặc tính riêng và vì vậy, công dụng, tính năng của mỗi vật luôn khác nhau.
Dựa vào tính chất di dời hay không di dời được của vật thì vật được chia thành
hai loại như bất động sản, động sản. Dựa vào nguồn gốc hình thành của các
vật thì vật được phân thành hai loại: các hoa lợi, lợi tức. căn cứ vào sự phụ
thuộc lẫn nhau giữa các vật trong quá trình khai thác sử dụng thì vật được
phân thành hai loại: vật chính, vật phụ. Dựa vào kết cấu tự nhiên hoặc vật lý
của vật thì vật được phân thành hai loại: vật không chia được, vật chia được.
căn cứ vào mức độ hao mòn của vật qua một lần sử dụng thì vật được phân
thành hai loại sau đây: Vật tiêu hao, vật không tiêu hao. dựa vào đặc điểm
riêng biệt của vật thì vật được phân thành hai loại sau đây: vật đặc định, vật
cùng loại. Nếu dựa vào tính chỉnh thể, ăn khớp giữa các bộ phận của một vật
thì vật còn được xác định là vật đồng bộ. Mỗi cách phân loại vật đều có ý
nghĩa pháp ký và thực tế trong việc áp dụng pháp luật.
4. Tiền và ngoại tệ trong quan hệ pháp luật dân sự
Bộ luật Dân sự năm 1995, năm 2005 có qui định về tiền là một loại tài
sản. Tuy nhiên, trong Bộ luật Dân sự Việt Nam lại chưa hề có quy định nào về
tiền. Lịch sử hình thành tiền có những sự thay đổi nhất định theo thời gian.
Thời xa xưa, khi xã hội loài người còn chưa biết đến tiền tệ thì các quan hệ
giao lưu hàng hoá được thực hiện thông qua phương thức trao đổi, vật đổi lấy
vật. Vật để đổi lấy vật được gọi là công cụ đa năng. Công cụ trao đổi đa
năng đó phải đáp ứng được ba điều kiện là: Phải có giá trị, mang lại lợi ích
nào đó cho con người; Phải mang tính thông dụng; dễ dàng tích trữ. Tuy
nhiên, công cụ đa năng này lúc đầu chưa được coi là tiền. Nói cách khác, các
công cụ trao đổi đa năng chỉ được coi là tiền từ khi có sự can thiệp của Nhà
nước lên chúng. Tiền kim loại được hình thành trước, tiền giấy được hình
10
Dưới góc độ kinh tế thì việc sử dụng tiền được hiểu thông qua hành vi
đầu tư tiền vào các hoạt động kinh doanh (mua bán thiết bị, cho vay lấy lãi,
góp vốn,...) hay tiêu dùng. Nhưng dưới góc độ luật dân sự thì các hành vi đầu
11
tư hay tiêu dùng đó lại phải được hiểu là hành vi thực hiện quyền định đoạt
tiền (chuyển giao quyền sở hữu tiền cho chủ thể khác), chứ không phải là thực
hiện quyền sử dụng.
Trong pháp luật dân sự thì ngoại tệ không được coi là tiền, bởi lẽ ngoại tệ
không bao giờ được coi là công cụ thanh toán đa năng một tính năng quan
trọng nhất của tiền. Hơn thế nữa, ngoại tệ cũng không đáp ứng được một chức
năng quan trọng nữa của ngoại tệ công cụ tích luỹ tài sản. Vấn đề khó giải
quyết nhất là: nếu ngoại tệ không phải là tiền thì liệu ta sẽ nên xếp ngoại tệ
vào loại tài sản nào trong số các loại tài sản được quy định tại Điều 163 Bộ
luật Dân sự 2005 (vật, tiền, giấy tờ có giá, quyền tài sản)? Ngoại tệ cũng
không nên coi là vật, bởi lẽ ta cũng không thể khai thác công dụng hữu ích từ
chính tờ ngoại tệ được. Ngoại tệ cũng không nên coi là giấy tờ trị giá được
bằng tiền hay quyền tài sản, bởi lẽ ta sẽ không xác định được ai là chủ thể
nghĩa vụ trong đó. Phải chăng khó khăn đó xuất phát từ chính nguyên nhân
rằng khái niệm tài sản (theo cách liệt kê khép kín được quy định tại Điều 172
Bộ luật Dân sự) còn quá hạn hẹp. Qua đó ta cũng nhận thấy nhu cầu bắt đầu
phải xây dựng cách hiểu rộng hơn nữa cho khái niệm tài sản (sao cho trong đó
có thể bao quát được cả ngoại tệ và cả một số các đối tượng phức tạp khác của
giao dịch dân sự như nhà máy xí nghiệp, hệ thống mô hình dịch vụ,...).
5. Giấy tờ có giá, các loại giấy tờ có giá, bản chất và chế độ pháp lý
của giấy tờ có giá với tư cách là một loại tài sản;
Các giao dịch thương mại, dân sự, các hoạt động tài chính của Nhà
nước làm phát sinh nhiều loại phương tiện xác nhận quyền và nghĩa vụ của
- Căn cứ vào quyền của người sở hữu đối với người phát hành, có giấy
tờ có giá xác nhận quyền góp vốn và giấy tờ có giá xác nhận quyền đòi nợ.
* Chế độ pháp lý của giấy tờ có giá với tư cách là một loại tài sản: Việc
nghiên cứu chế độ phát hành giấy tờ có giá xét dưới góc độ tài sản có thể coi
như nghiên cứu quá trình hình thành một loại tài sản đặc biệt - giấy tờ có giá.
- Chủ thể phát hành và các loại giấy tờ có giá được phép phát hành: Với những
dấu hiệu riêng, giấy tờ có giá có thể được phát hành bởi các chủ thể có điều
kiện và mục đích khác nhau.
- Việc xác định thời điểm có giá trị của các giấy tờ có giá với tư cách là thời
điểm xác định đó là một loại tài sản: Giấy tờ có giá chỉ thực sự là tài sản khi
chúng đã được phát hành hợp pháp và ở vào thời điểm có hiệu lực. Cho dù
giấy tờ có giá được phát hành với mục đích nào, chúng chỉ phát sinh hiệu lực
vào một trong hai thời điểm sau đây:
Thứ nhất, thời điểm do hai bên thoả thuận.
13
Thứ hai, thời điểm ký phát giấy tờ có giá.
Việc xác định thời điểm có hiệu lực có ý nghĩa rõ ràng trong việc phân
biệt loại tài sản này với các loại tài sản khác đồng thời cũng có ý nghĩa khi
xác định quyền, trách nhiệm của các bên có liên quan đối với loại tài sản là
giấy tờ có giá. Thời điểm có hiệu lực của giấy tờ có giá không đồng nghĩa với
thời điểm có giá trị thanh toán của giấy tờ có giá.
Giấy tờ có giá có thể được chuyển nhượng hoặc không được phép
chuyển nhượng. Tuỳ thuộc vào loại giấy tờ có giá, mỗi loại xác định không
được chuyển nhượng là khác nhau. Đối với cổ phiếu ưu đãi biểu quyết, Điều
81 khoản 3 Luật Doanh nghiệp qui định không được phép chuyển nhượng cổ
phần đó cho người khác. Đối với cổ phiếu phổ thông, pháp luật không qui
định cấm chuyển nhượng, kể cả trường hợp cổ phiếu của cổ đông sáng lập.
Trong thời gian qua, pháp luật đã mở rộng cơ hội cho các chủ thể sử
dụng tối đa cơ hội có vốn và có mức sinh lời tốt nhất từ đồng vốn của mình
thông qua những qui định về các loại giấy tờ có giá và đa dạng hoá các loại
giấy tờ có giá có thể phát hành. Bên cạnh đó, quá trình áp dụng pháp luật
trong quản lý hoạt động phát hành giấy tờ có giá đã bắt đầu bộc lộ những vấn
đề pháp lý, theo đó, cần phải tính toán, xem xét để đưa ra phương án lựa chọn
tốt nhất. Những hạn chế đó có thể được biểu hiện: về bản chất của giấy tờ có
giá; về chủ thể phát hành các giấy tờ có giá thể hiện quyền gọi vốn; về chủ thể
phát hành giấy tờ có giá là trái phiếu...
Tranh chấp liên quan đến giấy tờ có giá cũng là một loại tranh chấp liên
quan đến tài sản, vì vậy cơ sở pháp lý, trình tự thủ tục áp dụng đối với tranh
chấp liên quan đến giấy tờ có giá cũng áp dụng trên cơ sở giải quyết các tranh
chấp liên quan đến tài sản nói chung.
Khi giải quyết tranh chấp liên quan đến giấy tờ có giá, ngoài những nội
dung thường gặp, có một số vấn đề chưa được các bên quan tâm và hiện cũng
chưa được giải quyết thỏa đáng. Đó là các vấn đề về việc xác định giá trị của
giấy tờ có giá; việc thực hiện cam kết của tổ chức phát hành...
Với những phân tích về đặc điểm, bản chất của giấy tờ có giá, sự tương
đồng giữa giấy tờ có giá với các giấy tờ xác nhận quyền tài sản, chúng tôi cho
rằng cần có cách nhìn thống nhất về loại tài sản này. Cụ thể, Điều 163 Bộ luật
Dân sự nên qui định "Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá". Theo đó, giấy
tờ có giá bao gồm
- Giấy tờ có giá xác nhận góp vốn
- Giấy tờ có giá xác nhận quyền đòi nợ
- Giấy tờ có giá xác nhận các quyền tài sản khác
15
Do một số loại giấy tờ có giá mới được xuất hiện trong điều kiện hình
- Có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự
- Bản thân quyền tài sản là đối tượng chuyển giao trong các hợp đồng
dịch chuyển tài sản và quyền sở hữu tài sản (Khi chuyển giao quyền tài sản
16
chính là việc bán quyền tài sản mà không kèm theo việc chuyển giao bất kỳ
đối tượng được coi là tài sản nào khác).
8. Quyền sử dụng đất - một loại quyền dân sự đặc thù và là tài sản
đặc biệt trong Luật Dân sự.
Trong Hiến pháp và trong Bộ luật Dân sự, đất đai được xếp vào phần tài
sản nhưng lại đánh đồng với tài nguyên (đặt trong mục tài nguyên ). Tại
Luật đất đai năm 1993 và những lần sửa đổi vào năm 1998 và 2001 đều khẳng
định ở phần lời nói đầu đất đai là tài nguyên. Do được góp ý cho nên trong
Luật đất đai năm 2003 không có lời nói đầu và cũng không nói đất đai là tài
nguyên hay tài sản nữa, nhưng thực chất đất đai vẫn được cư xử như một thứ
tài nguyên.
Đất đai là một bộ phận của lãnh thổ thuộc chủ quyền của Nhà nước
Việt Nam là tài sản quốc gia vô giá, thiêng liêng thuộc quyền sở hữu tuyệt đối
của toàn thể nhân dân Việt Nam. Trên thế giới, nhiều nước tuyên bố đất đai là
tài sản, ví dụ như Australya, Thụy Điển, hoặc tuy không tuyên bố đất đai là tài
sản nhưng trong thực tiễn pháp luật, họ điều chỉnh quan hệ đất đai trong lĩnh
vực luật tư. Đất đai - tài sản được điều chỉnh theo các nguyên tắc cốt tử của
dân luật và không tuân thủ quy tắc về đất đai là một dạng tài nguyên.
Quan niệm đất đai là tài nguyên thời hiện đại không chỉ là sai lầm và
sai lầm này dẫn đến hàng loạt sai lầm nghiêm trọng tiếp theo có tính bao trùm
như đã coi nhẹ, bỏ qua hoặc làm trái hàng loạt những tư tưởng chỉ đạo quan
trọng trong quản lý tài sản ở một thực thể kinh tế do nhiều chủ thể tham gia
vận hành trong nền kinh tế thị trường.
đối với mọi thành phần kinh tế tham gia vào nền kinh tế thị trường, mở ra cho
mọi đối tượng sử dụng đất những quyền năng cần thiết trong giao lưu dân sự
về đất đai.
Từ việc nhận dạng bản chất đất đai, các đặc điểm pháp lý của quyền sử
dụng đất và nội dung pháp lý của nó theo quy định của các văn bản pháp luật
hiện hành có thể đúc rút một vài kết luận sau:
- Đất đai không nên quan niệm thuần tuý là một tài nguyên, phải xác định
nó là một tài sản và quản lý tài sản quý giá này bằng các cơ chế chính sách
chặt chẽ để không mắc những sai lầm trong quan niệm và trong quản lý đất
đai suốt vài chục thập niên qua.
- Quyền sử dụng đất là một tài sản đặc biệt, nó phải được đối xử với đúng
tính cách đặc biệt đó.
- Coi thị trường quyền sử dụng đất là bộ phận hợp thành bất di bất dịch của
thị trường bất động sản ở Việt Nam.
- Mở rộng các quyền cho người sử dụng đất, dù đó là người sử dụng đất ở
trong nước hay người Việt Nam ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài
18
đầu tư kinh doanh phát triển kinh tế hay bất cứ một mục đích nào khác có lợi
cho hạ tầng kinh tế- xã hội của đất nước.
9. Quyền yêu cầu: đặc điểm và bản chất pháp lý
Khái niệm tài sản đã được quy định tại điều 163 của Bộ luật Dân sự
2005 dưới dạng liệt kê các đối tượng được coi là tài sản, bao gồm các loại sau:
Vật, tiền, giấy có giá và các quyền tài sản. Quyền yêu cầu là một loại quyền
tài sản, nó thể hiện đầy đủ bản chất pháp lý của loại tài sản này. Quyền yêu
cầu là một quan hệ trong đó chủ thể nắm giữ quyền sẽ được hưởng một lợi ích
vật chất trong tương lai khi chủ thể mang nghĩa vụ thực hiện đúng và đầy đủ
nghĩa vụ của họ theo như nội dung của quyền yêu cầu. Quyền yêu cầu có đặc
- Quyền yêu cầu phải có thể trị giá thành một khoản tiền nhất định
- Phải là các quyền yêu cầu có thể chuyển giao được. Hay nói cách
khác, các quyền yêu cầu gắn liền với nhân thân của một chủ thể nhất định
không thể chuyển giao thì không được xác định là tài sản.
10. Quyền sở hữu trí tuệ: đặc điểm và bản chất pháp lý
Hoạt động lao động của con người tạo ra sản phẩm trí tuệ thể hiện ở hai
loại: tài sản hữu hình và tài sản vô hình. Hai loại tài sản này là đối tượng của
quyền sở hữu tài sản thông thường (sở hữu tài sản vật chất) và quyền sở hữu trí
tuệ (sở hữu tài sản trí tuệ). Quyền sở hữu tài sản thông thường và quyền sở
hữu tài sản trí tuệ có những khác biệt cơ bản - điều này được thể hiện ở đặc
điểm và bản chất pháp lý của quyền sở hữu trí tuệ. Làm rõ đặc điểm, bản chất
pháp lý của quyền sở hữu trí tuệ có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc xác
định đối tượng, nội dung quyền, phương thức bảo vệ cũng như các yếu tố khác
có liên quan.
Thuật ngữ Quyền sở hữu trí tuệ chính thức được sử dụng trong Bộ luật
Dân sự năm 1995. Tuy nhiên, Bộ luật Dân sự năm 1995 của nước ta cũng
không đưa ra khái niệm quyền sở hữu trí tuệ. Theo Công ước Stockholm
Công ước thành lập Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) thì Quyền sở hữu
trí tuệ bao gồm các quyền liên quan tới: 1) Các tác phẩm văn học, nghệ thuật
và khoa học; 2) Việc thực hiện biểu diễn nghệ thuật, phát thanh, ghi âm,
truyền hình; 3) Các sáng chế trong mọi lĩnh vực đời sống con người; 4) Các
phát minh khoa học; 5) Kiểu dáng công nghiệp; 6) Nhãn hiệu hàng hoá, nhãn
hiệu dịch vụ, tên thương mại và chỉ dẫn thương mại; 7) Bảo hộ chống cạnh
tranh không lành mạnh; và tất cả các quyền khác bắt nguồn từ hoạt động trí
tuệ trong lĩnh vực công nghiệp, khoa học, văn học hay nghệ thuật.
Như vậy, khái niệm Quyền sở hữu trí tuệ theo Tổ chức Sở hữu trí tuệ
Thế giới được hiểu theo nghĩa rộng. Phù hợp với qui định này, Luật Sở hữu trí
tuệ của nước CHXHCN Việt Nam (được QH thông qua ngày 29/11/2005, có
hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/7/2006) đưa ra khái niệm sở hữu trí tuệ như sau:
Quyền sở hữu trí tuệ là một loại quyền dân sự của chủ thể mang quyền
đây là một loại quyền tuyệt đối. Giống như bất cứ một loại quyền dân sự nào
khác, quyền sở hữu trí tuệ cũng mang những đặc điểm, bản chất của quyền
dân sự. Tuy nhiên, với sự đặc thù là quyền đối với tài sản vô hình tài sản trí
tuệ nên quyền sở hữu trí tuệ cũng có những yếu tố đặc thù nhất định, những
yếu tố này phản ánh được bản chất của quyền sở hữu trí tuệ.
21
Quyền sở hữu trí tuệ là một loại quyền pháp lý nên chịu ảnh hưởng sâu
sắc bởi bản chất giai cấp, bản chất Nhà nước. Mỗi Nhà nước khác nhau có kế
hoạch, định hướng và chiến lược khác nhau liên quan đến việc khuyến khích
hoạt động sáng tạo cũng như bảo vẹ quyền sở hữu trí tuệ.
Tóm lại, có thể hiều rằng Sở hữu trí tuệ là một chế định về sở hữu tài sản,
tuy nhiên chỉ là sự sở hữu về các tài sản tri thức, các sản phẩm trí tuệ tồn tại ở
dạng vô hình. Quyền của các chủ thể liên quan đến các sản phẩm trí tuệ bao
hàm cả quyền về tài sẩn cả quyền về nhân thân. Trong khi nói đến quyền tài
sản với tư cách là tài sản phải là những quyền mà thông qua đó chủ thể của nó
sẽ được hưởng một lợi ích vất chất trong tương lai. Vì vậy, có thể nói rằng
quyền sở hữu trí tuệ là một khái niệm rất rộng, trong đó được coi là tài sản chỉ
bao gồm các quyền về tài sản của các chủ thể đối với các đối tượng sở hữu trí
tuệ. Ngoài ra, có một số quyền nhân thân của tác giả cũng được coi là tài sản
nếu quyền đó có thể chuyển giao được và khi quyền đó được thực hiện, chủ
thể được hưởng một lợi ích vật chất nhất định, Chẳng hạn như quyền công bố
và cho người khác công bố tác phẩm của tác giả.
11. Những bất cập và phương hướng hoàn thiện các qui định của
pháp luật Việt Nam về quyền sở hữu trí tuệ.
Nhận thức được tầm quan trọng của tài sản vô hình cũng như quyền sở
hữu trí tuệ và yêu cầu hoàn thiện pháp luật sở hữu trí tuệ trong bối cảnh hội
không?
-Khoản 2 Đ46 Luật sở hữu trí tuệ quy định việc thực hiện, sửa đổi,
chấm dứt hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan được áp
dụng theo quy định của BLDS. Tuy nhiên, trong BLDS năm 2005 không quy
định về hợp đồng này.
- Đ. 213 Luật sở hữu trí tuệ quy định hàng hoá giả mạo về sở hữu trí
tuệ, theo đó, hàng hoá giả mạo nhãn hiệu hàng hoá là hàng hoá, bao bì của
hàng hoá có gắn nhãn hiệu, dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt với nhãn hiệu,
chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ dùng cho chính mặt hàng đó mà không được
phép của chủ nhãn hiệu hoặc của cơ quan quản lý chỉ dẫn địa lý. Khó phân
biệt có phải là tương tự hay không? Hơn nữa, mặc dù điều 213 có tên gọi là
hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ nhưng khoản 1 của điều luật lại quy định
rằng hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật này bao gồm
hàng hoá giả mạo nhãn hiệu và giả mạo chỉ dẫn địa lý. Vậy nếu hàng hoá
được sản xuất theo quy trình đã được bảo hộ là sáng chế có phải là hàng hoá
giả mạo về sở hữu trí tuệ hay không ?
Hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ cần được chú trọng, trong đó tập
trung những vấn đề cụ thể sau:
- Rà soát lại tất cả các văn bản pháp luật hiện hành về sở hữu trí tuệ, các quy
định pháp luật cụ thể về sở hữu trí tuệ. Trên cơ sở đó, xem xét để loại bỏ, sửa
đổi, bổ sung quy định nào, văn bản nào.
23
- Xây dựng và ban hành ngay hai Nghị định: Nghị định hướng dẫn các quy
định về quyền tác giả trong BLDS và Luật sở hữu trí tuệ; Nghị định hướng dẫn
các quy định về quyền sở hữu công nghiệp trong BLDS và Luật sở hữu trí tuệ.
- Xây dựng và ban hành văn bản pháp luật điều chỉnh những vần đề cơ bản
nhưng lại chỉ được quy định chung chung trong BLDS, Luật sở hữu trí tuệ và