XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN hóa học của các hợp CHẤT ít PHÂN cực từ rễ cây bần CHUA (sonneratia caseolaris (l ) engl ) - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
------------

TỪ MINH TỎ

XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN HÓA HỌC
CỦA CÁC HỢP CHẤT ÍT PHÂN CỰC
TỪ RỄ CÂY BẦN CHUA
(Sonneratia caseolaris (L.) Engl.)
LUẬN VĂN ĐẠI HỌC

Chuyên Ngành: HÓA HỌC
Mã số: TN 338

CẦN THƠ − 2010


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
------------

TỪ MINH TỎ

XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN HÓA HỌC
CỦA CÁC HỢP CHẤT ÍT PHÂN CỰC
TỪ RỄ CÂY BẦN CHUA
(Sonneratia caseolaris (L.) Engl.)
LUẬN VĂN ĐẠI HỌC
Chuyên Ngành: HÓA HỌC
Mã số: TN 338


TÓM TẮT LUẬN VĂN
----o0o---Cây Bần hay còn gọi là Thủy liễu (liễu nước), hải đồng, bần chua,…loài cây mà
đom đóm rất thích đậu trên lá vào ban đêm, tên khoa học là Sonneratia caseolaris (L.)
Engl., thuộc họ Lythraceae. Ở Việt Nam, bần là một loại cây rất quen thuộc có mặt
khắp nơi ven sông, ven biển, các bãi bồi….Các bộ phận của cây bần được sử dụng
trong dân gian như: hoa bần chữa tiêu viêm chữa tụ máu, sưng tấy, giải nhiệt cảm
sốt,…Quả có thể dùng để nấu canh chua, có thể chữa bệnh bong gân, cầm
máu,…Trong đề tài này, chúng tôi xác định thành phần hóa học của các hợp chất ít
phân cực từ rễ cây bần.
Bằng phương pháp sắc ký cột silica gel KG 60 F254 kết hợp với sắc ký lớp mỏng,
chúng tôi phân lập ra được bốn chất sạch từ cao PE. Sử dụng các dữ liệu phổ NMR đã
xác định được một chất đó là: betulinaldehyde, chất còn lại đang trong quá trình tìm
hiểu.

ii


MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
TÓM TẮT
DANH MỤC HÌNH
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ TỪ VIẾT TẮT

TỔNG QUAN
I. ĐẠI CƯƠNG VỀ THỰC VẬT[2] ............................................................................2
1. Đặc Điểm Cây Bần Chua ....................................................................................2
2. Phân Bố Sinh Thái...............................................................................................4
3. Tác Dụng Dược Lý Của Cây Bần Chua .............................................................5

2.1.1 Thu Hái Nguyên Liệu ................................................................................20
2.1.2 Xử Lý Nguyên Liệu...................................................................................21
2.2 Quá Trình Điều Chế Thu Cao..........................................................................21
2.2.1 Quá Trình Điều Chế Thu Cao Etanol (Cao Tổng) ......................................21
2.2.2 Quá Trình Điều Chế Cao ete dầu hỏa (PE).................................................22
2.3 Cách Phân lập Các Chất Trong Rễ Bần ..........................................................23
3. Các Bước Tiến Hành.........................................................................................24
II.QUÁ TRÌNH PHÂN LẬP VÀ TINH CHẾ CÁC CHẤT TRÊN CAO CHIẾT .24
1.Quá Trình Phân Lập Và Tinh Chế Các Chất Trên Cao PE ............................24
2. Xác Định Các Tính Chất Vật Lý Đặc Trưng Và Xác Định Cấu Trúc của Hợp
Chất Vừa Phân Lập Được ....................................................................................30
2.1. Các Đặc Tính Của Chất PHUOC-TO-01 ........................................................30
2.2 Xác Định Cấu Trúc Của Chất PHUOC-TO-01................................................30
I. KẾT LUẬN............................................................................................................34
II. ĐỀ NGHỊ..............................................................................................................34
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................35
TÀI LIỆU THAM KHẢO TRÊN SÁCH:............................................................35
TÀI LIỆU THAM KHẢO TRÊN WEB:..............................................................35

iv


DANH MỤC HÌNH

Hình 1: Cây bần ven sông
Hình 2: Hoa bần
Hình 3: Thân cây và quả bần
Hình 4: Cành và quả bần
Hình 5: Các rễ bần
Hình 6: Quả bần dùng làm món ăn


Proton Nuclear Magnetic Resonance



Chemical shift

d

Doublet (NMR)

t

Triplet (NMR)

s

Singlet (NMR)

TLC

Thin Layer Chromatography

PE

Petroleum ether (60-90)

EtOAc, EA

Ethyl acetate


Hình 1: Cây bần ven sông
Cây gỗ, thân cao 4-5 m hoặc hơn, luôn xanh. Rễ thở tập trung thành khóm ở quanh gốc
thân, mọc ngập sâu vào bùn. Cành non có 4 cạnh nhẵn. Lá mọc đối, lá non hình mũi
mác dài, lá già hình trái xoan, dài 5-10 cm, rộng 3,5-4,5 cm, gốc thuôn, đầu tù, phiến

2


lá dài và dai, hơi mọng nước, rất giòn, gân lá rõ, thường rụng vào mùa đông; cuống lá
và phần gân chính ở gốc có màu đỏ.

Hình 2: Hoa bần
Hoa màu trắng, mọc đơn độc ở ngọn thân hoặc kẽ lá; cuốn hoa ngắn và mập; đài có có
6 răng hình tam giác, dày hàn liền ở gốc tạo thành một ống dài 1.5 cm, mặt ngoài màu
lục mặt trong màu tím hồng, tràng 6 cánh hình dải, đầu thuôn nhọn; nhị nhiều, chỉ nhị
dài, mảnh; bầu hình cầu dẹt.
Quả mọng, hình cầu dẹt, đường kính 3 cm, có mũi thuôn nhọn ở đầu; hạt nhiều dẹt.
Toàn cây nhẵn.

Hình 3: Thân cây và quả bần

3


Hình 4: Cành và quả bần
Mùa hoa: tháng 3-5; mùa quả: tháng 8-10
Bộ phận dùng:
Quả, vỏ, thân và cành.


Giải nhiệt chữa cảm sốt: Quả bần rửa sạch, nhai với muối, rồi nuốt nước.
Cầm máu nhất là chảy máu cam: Quả bần rửa sạch, giã nát, đắp vào vết thương, máu
sẽ cầm ngay. Tác dụng này chính là do chất pectin chứa trong dịch quả.
Tiêu viêm chữa tụ máu, sưng tấy: Quả bần giã nhỏ, ép lấy dịch, cô thành cao mềm.
Lúc cao còn nóng phết lên giấy, khi dùng, hơ thuốc cho mềm rồi đắp lên chổ đau ngày
làm một lần.
Sử dụng làm thuốc đắp vào chỗ viêm tấy vì bong gân. Ở Ấn Độ, người ta dùng dịch
quả lên men làm thuốc ngăn chặn của chứng xuất huyết. Ta dùng lá giã ra, thêm tí

5


muối, làm thuốc đắp tốt các vết thương đụng giập và vết thương nhẹ. Ở Malaixia,
người ta giã lá lẫn với cơm làm thuốc đắp chữa bí tiểu tiện.
3.2 Y Học Và Hóa Sinh Hiện Đại
Hiện nay cây bần chỉ mới được sử dụng làm thuốc theo dân gian, chưa có nghiên cứu
khoa học cụ thể nào phục vụ trong y học hiện đại.

II. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÂY BẦN CHUA
1. Các Công Trình Nghiên Cứu Ở Việt Nam
Hiện nay tại Việt Nam có rất ít công trình hay đề tài khoa học nghiên cứu về cây
bần chua Sonneratia caseolaris (L.).
- Theo thông tin gần đây ngày 12 tháng 04 năm 2010 có bài báo nghiên cứu về loại
cây này, do hai tác giả là La Vũ Thùy Linh và Trương Ngọc Đức (Trường Đại Học
Tôn Đức Thắng) từ loại nguyên liệu có sẵn ở Đồng bằng Nam Bộ là rễ bần họ đã
nghiên cứu sản xuất thành công than hoạt tính.
Các tác giả cho biết, công trình đã xác định được đặc trưng của rễ bần và sản xuất
thành công than hoạt tính với điều kiện than hóa ở 450C trong 3 giờ và hoạt hóa bằng
cách tẩm muối cacbonat và nung trong môi trường CO2 ở nhiệt độ 800C trong khoảng
1 giờ…Kết quả cho thấy than hoạt tính từ rễ bần có thể thay thế các loại than hoạt tính

Ying Wen, Zheng Zhao thuộc bộ bộ môn Dược Lý và Độc Chất trường Đại Học
Chuẩn Phương Đông, Trung Quốc. Họ đăng bài viết vào ngày 25 tháng 09 năm 2008
được chấp nhận ngày 18 tháng 01 năm 2009 và có tài khoản online ngày 20 tháng 02
năm 2009. Đề tài của họ là nghiên cứu thành phần hóa học trên quả của cây
Sonneratia caseolaris (L.) và Sonneratia ovata (Sonneratiaceae) và họ đã có được kết
quả như sau:
Chín chất (1-9) và bảy chất (1-6,10) lần lượt được phân lập từ quả Sonneratia
caseolaris và Sonneratia ovata. Các cấu trúc của chúng được xác định bởi sự so sánh
dữ liệu MS và NMR của chúng tốt như các đặc tính vật lý có trong lý thuyết. Tất cả
các hợp chất được phân lập được sàn lọc thử nghiệm trên chuột dãy các tế bào C-6 sử
dụng phương pháp thử nghiệm MTT; chỉ có hợp chất (-)-(R)-nyasol (1), (-)-(R)-4′-Omethylnyasol (2) và maslinic acid (6) được phát hiện có biểu hiện khả năng giết chết tế
bào.
Trên Thân và cành:
- Năm 2009, Nhóm nghiên cứu Tian, Minqing; Dai, Haofu; Li, Xiaoming; Wang,
Bingui có bài viết đăng tháng 05 năm 2009 trên tạp chí quốc gia Trung Quốc trang
(288-296). Đề tài nghiên cứu Thành Phần Hóa Học của Cây Ngập Mặn Có Dược Tính
Sonneratia caseolaris (L.). Kết quả họ có được như sau:
24 chất bao gồm 8 steroids (1-8), 9 triterpenoids (9-16,24), 3 flavonoids (20-22) và 4
dẫn xuất của benzenecarboxylic (17-19,23) đã được phân lập và xác định từ thân và
các cành non của cây Sonneratia caseolaris (L.). Cấu trúc của các chất đã phân lập
được xác định bằng phân tích nhiều dữ liệu quang phổ. Trong việc chóng lại tế bào
mang bệnh thử nghiệm SMMC-7721 các tế bào hepatoma người, chất 21
(3',4',5,7-tetrahydroxyflavone) đã biểu hiện khả năng đáng kể với IC50 2.8 μg/mL,
trong khi oleanolic acid (14), 3,3'-di-O-methyl ether ellagic acid ( 18) và 3,3',4-O-tri7


O-methyl ether ellagic acid ( 19) biểu hiện hoạt tính yếu. Không có chất nào trong số
đó biểu hiện hoạt tính kháng khuẩn.
Trên hoa:
Năm 1995 nghiên cứu về thành phần hóa học trên hoa của cây Sonneratia caseolaris

OH
HO

O

OH

O

+ Khối lượng phân tử: 286.24 g/mol
- Luteolin 7-O-β-glucoside
+ Tên IUPAC:
7-((2S,3R,4S,5S,6R)-tetrahydro-3,4,5-trihydroxy-6-(hdroxymethyl)-2H-pyran-2yloxy)-5-hydroxy-2-(3,4-dihydroxyphenyl)-4H-chromen-4-one
+ Công thức cấu tạo:
OH
OH
O

HO
HO

O

O

OH
OH

OH



O

OH
OH

-

O

Quercetin

+ Tên IUPAC: 2-(3,4-dihydroxyphenyl)-3,5,7-trihydroxy-4H- chromen-4-one
+ Phân tử khối 302,236 g/mol
+ Công thức phân tử: C15H10O7
+ Công thức cấu tạo:
OH
OH
HO

O

OH
OH

O

III. GIỚI THIỆU VỀ PHƯƠNG PHÁP SẮC KÝ
1. Phương Pháp Sắc Ký Lớp Mỏng (TLC)
1.1 Giới Thiệu Chung Về Phương Pháp Sắc Ký Lớp Mỏng

Sắc

mỏng

HPLC

cổ điển

chớp



nhoáng
Cơ chế sắc Hấp


Hấp thu

Hấp thu

Phân chia

Phân chia

thu/phân
chia

Tính

chất Dung


Rất tốt

Rất tốt

tách chất
Thời

gian Vài

tách chất

phút Nhiều giờ

đến vài giờ

Vài

mươi Vài phút

Vài phút

phút

11


Hiệu

quả Rất tốt

Rất tốt

Rất tốt

định lượng
Khả
tách

năng Có thể



lượng

thể Rất tốt

nhưng khó

lớn mẫu

Sắc ký lớp mỏng có một số ưu điểm như sau:
- Chỉ cần một lượng ít mẫu để phân tích.
- Có thể phân tích đồng thời mẫu và chất chuẩn đối chứng, trong cùng điều kiện phân
tích.
- Tất cả các hợp chất trong mẫu phân tích có thể được định vị trên tấm sắc ký lớp
mỏng; trong khi so với HPLC: những hợp chất có tính phân cực mạnh sẽ có sắc ký đồ
ở dạng một mũi hấp thu rộng và dài, nên quan sát viên khó phân biệt được đó là mũi
(để chỉ sự hiện diện của một chất) hay chỉ là tạp bẩn.
1.3 Chất Hấp Thu Silica gel
Silica gel là chất hấp thu được sử dụng thông dụng nhất. Silica gel được sử dụng

Cấu trúc mạng silica gel
12


Bản chất hóa học của bề mặt hạt silica gel là những nhóm silanol-OH; đây là những
tâm rất hoạt động có thể tạo nối hydrogen mạnh với hợp chất được sắc ký. Vì thế, khi
sắc ký cột với cột nhồi bằng silica gel, những hợp chất phân cực (có mang nhóm chức
–OH, NH2, -COOH..) có khả năng tạo mối hydrogen mạnh, bị silica gel giữ chặt lại
trong cột và bị giải ly muộn hơn so với những chất khác có tính kém phân cực như
alcan, terpen (là những hợp chất không chứa những nhóm chức có thể tạo nên nối
hydrogen) ít bị silica gel giữ lại, sẽ ra khỏi cột sớm.
1.4 Dung Môi Giải Ly
Nguyên tắc chọn dung môi: Nên chọn loại dung môi rẻ tiền, vì phải cần một lượng
lớn, có độ tinh khiết cao, tránh có các vết kim loại. Dung môi không được quá dễ bay
hơi, ví dụ như etyl ete, nhiệt độ sôi xấp xỉ 35C, gần bằng nhiệt độ của phòng thí
nghiệm vào mùa nóng (miền nam Việt Nam). Dung môi dễ bay hơi sẽ dễ dàng bay đi
khỏi tấm lớp mỏng sau khi giải ly.
Một mẫu chất cần phân tích có chứa nhiều cấu tử khác nhau. Khả năng tách riêng các
hợp chất này bằng sắc ký lớp mỏng tùy thuộc vào tỷ lệ phân phối của các hợp chất này
giữa chất hấp thu và dung môi giải ly. Muốn thay đổi khả năng tách, người tat hay đổi
thành phần các dung môi sử dụng để giải ly. Thường thì người ta sử dụng với hệ hai
dung môi.
Về nguyên tắc tổng quát, nếu có thể, nên tránh sử dụng hỗn hợp dung môi có nhiều
hơn hai cấu tử, vì hỗn hợp phức tạp như thế dễ dàng dẫn đến việc thay đổi pha khi có
sự thay đổi nhiệt độ.
Sự lựa chọn dung môi để tách tốt các chất khác nhau vẫn tùy thuộc vào kinh nghiệm
cá nhân, nhưng những hiểu biết về các đặc tính của chất cần phân tích sẽ giúp ích cho
người nghiên cứu.
1.5 Các Công Dụng Của Sắc Ký Lớp Mỏng
+ Để công bố đặc điểm của hợp chất vừa chiết tách cô lập.

độ 10 mg/ml, gọi là dung dịch mẫu (A).
+ Bước 2: Chuẩn bị 4-6 tấm bản mỏng 2.5×10 cm. Chấm lên những tấm bản này, mỗi
tấm chấm khoảng 2-5 μL dung dịch (A).
+ Bước 3: Mỗi bản mỏng được triển khai với một loại dung môi giải ly khác nhau, kế
đó hiện hình các vết trên bản bằng đèn UV hoặc bằng các thuốc thử. Với đơn dung
môi sẽ dễ dàng thấy được dung môi nào là phù hợp. Từ kết quả đó, cố gắng tìm một
hỗn hợp dung môi, trong đó một dung môi kém phân cực và một dung môi phân cực,
thí dụ như ete dầu hỏa: etyl acetate.
+ Bước 4: Đối với mẫu cao thô chiết từ cây cỏ (cao có nhiều hợp chất từ không phân
cực đến rất phân cực), chọn dung môi giải ly đầu tiên là dung môi có thể đẩy vết ít
14


phân cực nhất của cao chiết, lên vị trí ở bản với Rf = 0.5 và chọn dung môi chấm dứt
sắc ký cột là dung môi có thể đẩy vết phân cực nhất của cao chiết, lên vị trí ở bản với
Rf = 0.2.
Sau khi chọn được hệ dung môi phù hợp, có thể áp dụng hệ dung môi này cho sắc ký
cột. Giải ly trước tiên bằng dung môi không phân cực và tăng dần tính phân cực cho
dung môi giải ly.
Lưu ý:
* Phải sử dụng pha tĩnh của sắc ký lớp mỏng và sắc ký cột giống nhau.
* Dung môi để giải ly cột là hệ dung môi đã chọn trong phần thực nghiệm trên, nhưng
phải chỉnh tỷ lệ dung môi sao cho có tính kém phân cực một ít so với dung môi đã
chọn. Bởi vì chất hấp thu, thí dụ silica gel dùng cho sắc ký lớp mỏng, với kích cỡ hạt
nhuyễn mịn, lại được phun xịt tráng lên bản bằng áp lực lớn nên có độ chặt chẽ lớn.
Trong khi đó chất hấp thu do nghiên cứu viên tự nạp cột trong phòng thí nghiệm là
loại silica gel dùng cho sắc ký cột, với cỡ hạt lớn hơn, lại được nạp vào cột ở áp suất
thường, nên có tính lỏng lẽo hơn.
2.3 Tỷ Lệ Giữa Mẫu Chất Cần Tách Với Kích Thước Cột
+ Tỷ lệ giữa lượng mẫu cần tách và lượng chất hấp thu sử dụng:

+ Nhờ một phễu lọc có đuôi dài, đặt trên đầu cột, rót hỗn hợp sệt vào cột, vừa mở
khóa nhẹ ở bên dưới cột để cho dung môi chảy ra, hứng vào một becher trống để ở bên
dưới cột, dung môi này được sử dụng lại để rót trả lại đầu cột.
+ Tiếp tục rót chất sệt vào cột cho đến khi hết số lượng, vừa rót vừa dùng thanh cao
su khỏ nhẹ vào bên ngoài thành cột để chất hấp thu nén đều trong cột.
+ Sau khi nạp xong, cho dung môi chảy ra và rót lại đầu cột vài ba lần để việc nạp cột
được chặt chẽ, cho đến khi thấy chất hấp thu trong cột có dạng đồng nhất.
Lưu ý trong quá trình nạp cột, dung môi vẫn liên tục chảy nhẹ đều ra khỏi cột, hứng
lượng dung môi này sử dụng để rót trả lại trên đầu cột. Không được để cho đầu cột bị
khô, nghĩa là luôn luôn có dung môi phủ trên phần đầu cột.
+ Sau khi nạp xong, mặt thoáng chất hấp thu ở đầu cột phải nằm ngang. Nếu mặt
thoáng không nằm ngang, phải cho dung môi thêm cao lên trên phần đầu cột, dùng đũa
thủy tinh khuấy đảo nhẹ phần dung môi gần sát mặt thoáng, làm xáo một phần chất
hấp thu ở trên phần đầu cột, để yên, chất hấp thu lắng xuống từ từ tạo nên một mặt
thoáng bằng phẳng.
2.5 Đặc Mẫu Chất Cần Tách Lên Đầu Cột Sắc Ký
Có hai cách để nạp mẫu chất cần tách lên đầu cột: nạp mẫu chất dạng dung dịch và nạp
mẫu chất dạng bột khô
+ Nạp mẫu chất ở dạng dung dịch: Nếu mẫu ở dạng chất lỏng, có thể cho trực tiếp
mẫu lên đầu cột sắc ký. Nếu mẫu dạng rắn, hòa tan mẫu chất vào một lượng nhỏ dung
16



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status