B GIO DC V O TO
TRNG I HC KINH T QUC DN
*****
Đề tài nghiên cứu Khoa học cấp bộ
Xác định quy mô tối u của các doanh nghiệp
nuôi trồng hải sản trên địa bàn Thanh Hóa
Mó s: B2010 06 - 144
Cỏc thnh viờn:
1. TS. Hong Th Thỳy Nga Th ký
2. Ths. on Vit Dng Thnh viờn
3. TS. Tụ Trung Thnh Thnh viờn
xác nhận cơ quan quản lý chủ nhiệm đề tài
TS. ĐINH THIệN ĐứC
HÀ NỘI - 2012
2
MỤC LỤC
HÀ NỘI - 2012 2
MỤC LỤC 3
DANH MỤC BẢNG BIỂU 4
PHẦN MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG 1 12
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU 12
VỀ HIỆU QUẢ KINH TẾ THEO QUI MÔ 12
Nguồn: Số liệu điều tra 44
DANH MỤC BẢNG BIỂU
HÀ NỘI - 2012 2
HÀ NỘI - 2012 2
MỤC LỤC 3
MỤC LỤC 3
DANH MỤC BẢNG BIỂU 4
DANH MỤC BẢNG BIỂU 4
Việt Nam có nhiều tiềm năng để phát triển nuôi trồng thuỷ sản ở khắp
mọi miền đất nước cả về nuôi biển, nuôi nước lợ và nuôi nước ngọt. Đến
năm 2003, đã sử dụng 612.778 ha nước mặn, lợ và 254.835 ha nước ngọt để
nuôi thuỷ sản. Trong đó, đối tượng nuôi chủ lực là tôm với diện tích 580.465
ha. Gần đây, mô hình nuôi cá tra ao đã đạt đến diện tích trên dưới 6.000 ha,
với sản lượng xuất khẩu đạt gần 600.000 tấn trong năm 2008 (gấp 3 lần sản
lượng tôm xuất khẩu).
5
Tôm đông lạnh, cá tra và mực, bạch tuộc đông lạnh là 3 mặt hàng xuất
khẩu chính của thủy sản Việt Nam trong năm 2008. Trong tổng kim ngạch
xuất khẩu hơn 4,5 tỷ USD của ngành thủy sản, tôm đông lạnh đạt hơn 1,5 tỷ
USD còn cá tra cũng xấp xỉ 1,5 tỷ USD. Hiện nay ngành thủy sản có quan hệ
thương mại với hơn 100 nước trên thế giới, góp phần mở ra những còn
đường mới và mang lại nhiều bài học kinh nghiệm để nền kinh tế Việt Nam
hội nhập ngày càng sâu rộng hơn vào khu vực và thế giới.
Ngành thuỷ sản còn giữ vai trò an ninh lương thực quốc gia, tạo việc
làm và góp phần xoá đói giảm nghèo. Thuỷ sản được đánh giá là nguồn cung
cấp chính đạm động vật cho người dân Việt Nam. Năm 2001, mức tiêu thụ
trung bình mặt hàng thuỷ sản của mỗi người dân Việt Nam là 19,4 kg, cao
hơn mức tiêu thụ trung bình sản phẩm thịt heo (17,1 kg/người) và thịt gia
cầm (3,9 kg/người). Số lao động của ngành thuỷ sản tăng liên tục từ 3,12
triệu người (năm 1996) lên khoảng 3,8 triệu người năm 2001 (kể cả lao động
thời vụ), như vậy, mỗi năm tăng thêm hơn 100 nghìn người.
Đặc biệt do sản xuất của nhiều lĩnh vực như khai thác, nuôi trồng thủy
sản chủ yếu là ở qui mô hộ gia đình nên đã trở thành nguồn thu hút lực lượng
lao động, tạo nên nguồn thu nhập quan trọng góp phần xóa đói giảm nghèo.
Các hoạt động phục vụ như vá lưới, cung cấp thực phẩm, tiêu thụ sản phẩm
chủ yếu do lao động nữ thực hiện đã tạo ra thu nhập đáng kể, cải thiện vị thế
kinh tế của người phụ nữ, đặc biệt là ở các vùng nông thôn, miền núi. Riêng
trong các hoạt động bán lẻ thủy sản, nữ giới chiếm tỉ lệ đến 90%.
ra một số kết luận và kiến nghị nhằm giúp các doanh nghiệp khai thác được
tính kinh tế theo qui mô tối ưu.
Tính kinh tế theo qui mô hay còn gọi là lợi thế kinh tế nhờ qui mô
(Economies of scale-EOS) chỉ ra mức độ giữa sự thay đổi của chi phí trung
bình khi có sự thay đổi của sản lượng đầu ra.
7
Tính kinh tế theo quy mô là một trong hai nguồn gốc tạo ra lợi ích
thương mại của việc hội nhập (nguồn gốc thứ nhất của lợi ích thương mại
là lợi thế so sánh). Tuy nhiên, theo thời gian, lợi thế so sánh giữa các quốc
gia trên thế giới sẽ dần bị biến mất nhưng trao đổi mậu dịch giữa Mỹ,
Nhật, và Tây Âu cũng như các quốc gia ở Đông Á và Trung Quốc hiện
nay thì đang càng ngày tăng vọt. Nền tảng của ích lợi trao đổi thương mại
giữa các quốc gia này không còn chủ yếu là dựa trên lợi thế so sánh một
cách đơn thuần. Trao đổi hai chiều giữa các quốc gia này bây giờ không
phải mang tính bổ trợ nhau, mà chủ yếu là những hàng hóa tương tự nhau.
Điều đó diễn ra mạnh mẽ vì nguồn lợi thứ hai của trao đổi thương mại.
Đó là lợi thế về quy mô của sản xuất công nghiệp lớn (mass production).
Vấn đề là ở chỗ, cả hai sẽ có lợi hơn, nếu từng bên tập trung vào chỉ một
ngách hẹp (niche) mà mỗi hãng đạt được hiệu quả cao nhất về quy mô. Cả
hai hãng cùng bán ra những sản phẩm tương tự nhau, nhưng đáp ứng thị hiếu
của những lớp người tiêu dùng khác nhau.
Đối với một doanh nghiệp, trong quá trình sản xuất, tính kinh tế và
phi kinh tế theo qui mô đóng vai trò quan trọng trong các quyết định về sản
xuất dài hạn, cụ thể là xác định hình dạng của các đường tổng chi phí trung
bình dài hạn. Đây là cơ sở để xác định bài toán của doanh nghiệp là có nên
tiếp tục tăng qui mô sản xuất hay không.
Các phân tích trên cho thấy, tính kinh tế theo qui mô có ý nghĩa quan
trọng bởi vì đây là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến xác định qui mô tối ưu, sản
lượng và giá bán của một hãng nói riêng và của một ngành nói chung. Đặc
biệt khái niệm này có một ứng dụng nhất định đối với các ngành trong nền
- Doanh nghiệp có qui mô nhỏ
- Doanh nghiệp có qui mô vừa
- Doanh nghiệp có qui mô lớn
Cách phân loại doanh nghiệp theo qui mô này phụ thuộc vào các tiêu
thức sau:
9
- Số lượng lao động hiện tại của doanh nghiệp, bình quân theo năm
- Qui mô vốn của doanh nghiệp (tương đương tổng tài sản được xác
định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp)
Trong đề tài này, do đặc trưng của ngành nuôi trồng hải sản chủ yếu là
dựa vào điều kiện tự nhiên và khí hậu từng vùng nên vốn không quá lớn như
các doanh nghiệp trong các ngành khác do đó các doanh nghiệp được phân
loại nhỏ, vừa, lớn theo tiêu chí sau:
- Các doanh nghiệp nhỏ: có vốn < 2 tỉ VND
- Các doanh nghiệp vừa: có vốn từ 2 tỉ đ đến dưới 5 tỉ VND
- Các doanh nghiệp lớn: có vốn > 5 tỉ VND
3. Câu hỏi nghiên cứu
1. Sử dụng phương pháp nào để đánh giá, định vị tính kinh tế theo qui
mô cho các doanh nghiệp nuôi trồng hải sản?
2. Từ kết quả đánh giá tính kinh tế theo qui mô và phân tích thực trạng
các doanh nghiệp ở Thanh Hóa có thể đưa ra những nguyên nhân
riêng biệt nào ảnh hưởng đến mức độ tính kinh tế theo qui mô của các
doanh nghiệp nuôi trồng hải sản?
3. Xem xét xu thế phát triển của các doanh nghiệp nuôi trồng hải sản tại
Thanh Hóa và kết hợp các phân tích trên, có thể đưa ra các giải pháp
nào cho việc định hướng phát triển nhằm khai thác tính kinh tế theo
qui mô?
4. Phương pháp nghiên cứu
Nhóm tác giả áp dụng cách tiếp cận khảo sát có sự tham gia trong
tất cả các phương pháp thu thập thông tin từ đối tượng nghiên cứu. Các
11
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU
VỀ HIỆU QUẢ KINH TẾ THEO QUI MÔ
1.1. Cơ sở lý luận về tính kinh tế theo qui mô (Economies of scale)
1.1.1. Các khái niệm về tính kinh tế theo qui mô
Khái niệm tính kinh tế theo qui mô (Economies of Scale) được Reem
Heakal định nghĩa như sau: khi hãng sản xuất ngày càng nhiều số lượng
hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó thì chi phí trung bình cho một đơn vị sản
phẩm càng ngày càng giảm xuống, tức là hãng đạt được hiệu quả kinh tế nhờ
qui mô. Điều này có nghĩa là, khi hãng tăng trưởng và sản xuất nhiều hơn,
hãng sẽ có cơ hội tốt để giảm giá. Theo lý thuyết này, một ngành có thể có
tăng trưởng nếu các hãng trong ngành đạt được tính kinh tế theo qui mô.
Tính kinh tế theo qui mô được các nhà Kinh tế học hiểu là nếu một
doanh nghiệp tăng qui mô sản xuất sẽ dẫn đến chi phí sản xuất giảm. Hay có
thể hiểu một cách khác là % tăng lên trong các yếu tố đầu vào dẫn đến % tăng
nhiều hơn trong sản lượng đầu ra.
Adam Smith
- nhà kinh tế học trong lý thuyết của mình về kinh tế học
là người đầu tiên xác định phân công lao động và chuyên môn hóa cao là hai
yếu tố giúp doanh nghiệp đạt được tính kinh tế theo qui mô. Nếu hai hoạt
động này được thực hiện, người công nhân sẽ chỉ tập trung vào một công
việc cụ thể, và theo thời gian họ sẽ có ảnh hưởng học hỏi để hoàn thành công
việc đó ít thời gian hơn. Tức là, theo thời gian, thời gian và tiền bạc được tiết
kiệm khi mức sản lượng sản xuất tăng lên. Ông cũng nói rằng, bên cạnh tính
kinh tế theo qui mô còn tồn tại phi tính kinh tế theo qui mô. Nó xảy ra khi
sản lượng tăng nhưng chi phí bình quân cũng tăng theo. Điều này thể hiện
hãng họat động không hiệu quả làm cho chi phí bình quân tăng lên.
Alfred Marshall cũng là một nhà kinh tế học tiến một bước cao hơn
ngoài phát sinh trong phạm vi một khu vực.
13
Trong đề tài này, nhóm tác giả theo quan điểm như sau:
- Tính kinh tế theo qui mô hay còn gọi lợi thế kinh tế nhờ qui mô
(Economies of scale) chỉ ra mức độ giữa sự thay đổi của chi phí trung bình
của doanh nghiệp khi có sự thay đổi của sản lượng đầu ra.
- Tính kinh tế theo qui mô bên trong sẽ phát sinh do các yếu tố thuộc
bản thân một doanh nghiệp, còn Tính kinh tế theo qui mô bên ngoài phát
sinh trong phạm vi một ngành- tức là các yếu tố thuộc ngành và tất cả các
doanh nghiệp trong ngành đều được hưởng lợi từ các yếu tố đó.
- Tính kinh tế theo qui mô bên trong bao gồm 2 loại:
o Thứ nhất là xảy ra khi chi phí sản xuất trung bình của sản phẩm giảm
xuống nếu số lượng sản phẩm đó tăng lên. Điều này dẫn đến sự vận động
xuống dưới dọc theo đường chi phí trung bình do sản lượng tăng ở 1 thời
điểm nào đó.
o Thứ hai là xảy ra khi chi phí cho 1 đơn vị sản phẩm giảm xuống nếu
số lượng sản phẩm tích lũy tăng lên - được gọi là ảnh hưởng của đường cong
kinh nghiệm. Điều này dẫn đến sự dịch chuyển của toàn bộ đường chi phí
trung bình xuống phía dưới.
- Tính kinh tế theo qui mô bên ngoài là chi phí trung bình của 1 hãng
sẽ giảm xuống khi sản lượng của cả ngành tăng lên (không có sản lượng của
hãng đang xét).
1.1.2. Những yếu tố tác động đến tính kinh tế theo qui mô
1.1.2.1. Những yếu tố tác động đến tính kinh tế theo qui mô bên trong
• Khả năng dàn trải của chi phí cố định cho một khối lượng sản xuất
lớn hơn: các chi phí cố định là những chi phí mà hãng phải chịu để sản xuất
sản phẩm bất kể ở mức sản lượng nào. Những chi phí này bao gồm chi phí
mua máy móc, chi phí lắp đặt máy móc cho các công đoạn sản xuất riêng
biệt và những chi phí cho quảng cáo, nghiên cứu và phát triển. Việc dàn trải
chi phí cố định cho một khối lượng đầu ra lớn hơn dẫn đến chi phí trung bình
định tăng đầu tư vào máy móc thiết bị để tăng hiệu quả sản xuất, công ty đó
15
nên tăng sản xuất để bù đắp phần tăng lên về khoản đầu tư cải tiến công nghệ
này và do đó chi phí trung bình cho một đơn vị sản phẩm sản xuất sẽ giảm.
• Ảnh hưởng của kinh nghiệm : Nếu quy mô sản xuất tăng lên, ở một số
hãng, chi phí sản xuất trung bình dài hạn có thể giảm theo thời gian do công
nhân và Ban giám đốc tiếp thu được thông tin công nghệ mới khi họ có kinh
nghiệm hơn trong công việc của mình.
Do đội ngũ quản lý và công nhân có thêm kinh nghiệm sản xuất, chi
phí cận biên và chi phí trung bình của hãng giảm vì bốn lý do sau:
- Một là trong một thời gian ngắn ban đầu khi mới vào làm việc, những
người lao động thường mất nhiều thời gian hơn để hòan thành một
công việc định trước. Khi họ thạo việc hơn, tốc độ làm việc của họ
tăng lên.
- Hai là, những người quản lý học được cách lập kế hoạch quá trình sản
xuất một cách hiệu quả hơn, từ việc cung ứng nguyên vật liệu tới việc
tổ chức bản thân để họat động sản xuất.
- Ba là, các kỹ sư, những người ban đầu hết sức thận trọng trong việc
thiết kế các sản phẩm của họ, có thể thu được đủ kinh nghiệm để cho
phép có một số điều chỉnh trong thiết kế, sao cho tiết kiệm được chi
phí mà không tăng lượng phế phẩm.
- Bốn là, những người cung ứng nguyên vật liệu có thể học được cách
làm thế nào cung ứng những nguyên liệu mà hãng đòi hỏi một cách
hiệu quả hơn và có thể chuyển cho hãng một phần lợi thế ấy dưới
hình thức giá nguyên liệu rẻ hơn….
1.1.2.2. Những yếu tố tác động đến tính kinh tế theo qui mô bên ngoài
Tính kinh tế theo qui mô của 1 ngành cũng có thể nảy sinh từ các yếu
tố như trên nhưng với cách hiểu là phạm vi địa lý của doanh nghiệp rộng hơn
so với trước đây. Vì vậy, các doanh nghiệp trong 1 ngành trên cùng 1 địa bàn
sẽ có lợi từ chi phí vận chuyển thấp hơn và lực lượng lao động có kỹ năng
Nguyên nhân khác nữa là do yếu tố quản lý: khi doanh nghiệp sản
xuất ở mức sản lượng cao hơn nó sẽ trở thành một tổ chức lớn hơn và “tình
trạng không kiểm soát nổi” chắc chắn sẽ xảy ra.
17
1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu về tính kinh tế theo qui mô
1.2.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về tính kinh tế theo qui mô trong
các ngành
Adam Smith - nhà kinh tế học trong lý thuyết của mình về kinh tế học
là người đầu tiên xác định phân công lao động và chuyên môn hóa cao là hai
yếu tố giúp doanh nghiệp đạt được tính kinh tế theo qui mô.
Tiếp sau quan điểm của Adam Smith, Alfred Marshall, tiến một
bước cao hơn khi phân biệt sự khác nhau giữa tính kinh tế theo qui mô
bên trong và bên ngoài (internal and external economies of scale). Khi
một hãng tăng sản lượng dẫn đến giảm chi phí trung bình, đấy là hiệu quả
kinh tế nội bộ. Hiệu quả kinh tế bên ngoài xảy ra bên ngoài hãng, trong
một ngành. Ông cũng đưa ra các nguyên nhân dẫn đến tính kinh tế theo
qui mô và phi tính kinh tế theo qui mô.
Như vậy dẫn đến một câu hỏi liệu qui mô lớn có thực sự là tốt cho các
doanh nghiệp hay không? Trên thế giới vẫn luôn có sự tranh luận lớn về ảnh
hưởng của việc mở rộng qui mô kinh doanh, thương mại quốc tế và toàn cầu
hóa nền kinh tế nhằm tìm kiếm tính kinh tế theo qui mô. Những người không
ủng hộ việc toàn cầu hóa đã nói rằng các doanh nghiệp nhỏ sẽ không còn nữa
khi toàn cầu hóa, đồng thời môi trường cũng bị ảnh hưởng, các quốc gia phát
triển sẽ không tăng trưởng nữa và lực lượng lao động sẽ không còn có sự
sáng tạo trong công việc. Khi qui mô kinh doanh tăng lên, cân bằng giữa
cung và cầu sẽ yếu đi, đẩy các doanh nghiệp xa rời việc đáp ứng nhu cầu của
người tiêu dùng. Và người ta còn e ngại rằng, cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp sẽ biến mất khi các công ty lớn sát nhập với nhau. Lúc đó, họ không
còn quan tâm đến khách hàng khi xác định giá bán nữa.
Cuối năm 1980, Paul Krugman đã xuất bản cuốn “Scale Economies,
mô tối ưu trong việc cung cấp nước nông thôn (Economies of scale and firm
size optimum in rural water supply)”. Nghiên cứu này tập trung vào việc mô
hình hóa và phân tích cơ cấu chi phí của các công ty cung cấp nước. Một
biểu số liệu giữa các công ty trong khu vực cung cấp nước nông thôn vùng
Tây và Đông đức đã được tác giả nghiên cứu và phân tích bằng mô hình
19
SGM do McFadden đưa ra. Kết quả là không công ty được nghiên cứu nào
đạt được hiệu suất không đổi theo qui mô. Qui mô tối ưu của các công ty
được nghiên cứu gấp 3 lần so với qui mô hiện tại của nó. Những nghiên cứu
này đã đưa ra các bằng chứng để chứng minh rằng các quản lý bằng hành
chính của Chính phủ Đức trong ngành này đã không tạo ra hoạt động hiệu
quả cho các doanh nghiệp. Vì vậy, chính phủ cần phải điều chỉnh chính sách
để giúp các doanh nghiệp trong ngành này đạt được tính kinh tế theo qui mô.
Khái niệm về tính kinh tế theo qui mô không chỉ tồn tại ở Châu Âu và
Châu Mỹ mà còn lan sang Châu Á. Năm 2004, trong ngành Công nghệ thông
tin ở Ấn Độ, một trong những nền kinh tế phát triển sớm ở Châu Á, các công
ty đã nhanh chóng đạt được tính kinh tế theo qui mô nhằm giảm bớt áp lực
từ nhu cầu tăng lương cho nhân viên. Chính vì vậy, nhiều công ty trong đó
có Sierra Atlantic, một công ty phát triển các phần mềm ứng dụng dựa vào
Sillicon Valley đã nhanh chóng lựa chọn những chiến lược dài hạn mở rộng
qui mô công ty để tìm cách đạt được tính kinh tế theo qui mô.
Còn ở Việt nam, đã có một số đề tài nghiên cứu về vấn đề này như
“Diễn đàn phát triển Việt nam” năm 2004, cụ thể trong lĩnh vực sữa và
nghiên cứu này cũng cho thấy, ngành sữa cũng tìm thấy tính kinh tế theo qui
mô khi qui mô sản xuất của các doanh nghiệp trong ngành tăng lên.
Năm 2003, PGS. TS. Nguyễn Khắc Minh , cựu giảng viên Khoa Kinh
tế học của Trường Đại học Kinh tế quốc dân đã nghiên cứu một đề tài cấp
Bộ có liên quan với vấn đề về hiệu quả theo qui mô và có liên quan đến
ngành Dệt may, đó là “Sử dụng phương pháp ước lượng hàm sản xuất để
xác định ảnh hưởng của tiến bộ công nghệ đến tăng trưởng kinh tế của một
nhiều mặt hàng đa dạng hơn.
Tính kinh tế theo quy mô và chi phí vận chuyển giảm cũng giúp chúng
ta lý giải tại sao ngày càng nhiều người dân trên thế giới sống ở các thành
phố và tại sao các hoạt động kinh tế tương tự nhau lại tập trung tai cùng địa
điểm. Chi phí chuyên chở thấp hơn có thể là động lực mở đầu cho một quá
21
trình tự cường nhờ đó lượng dân số đô thị đang tăng lên có thể làm tăng hoạt
động sản xuất quy mô lớn, mức tiền lương thực tế cao hơn và cung hàng hóa
đa dạng hơn. Ngược lại, điều này sẽ kích thích nhập cư vào các thành phố.
Những giả thuyết của Krugman đã cho thấy tác động của các quá trình này là
các vùng trên thế giới sẽ phân chia thành trung tâm đô thị công nghệ cao và
các vùng ngoại biên kém phát triển.
1.2.2. Vấn đề về tính kinh tế theo qui mô của các doanh nghiệp nuôi trồng
hải sản
Nhiều tranh cãi liên quan đến bản chất tính kinh tế theo quy mô, cấu
trúc tối ưu và quy mô tối ưu trong nông nghiệp đã tồn tại từ lâu trong kinh tế
nông nghiệp. Hiện tại vấn đề này được đề cập lại về nhận thức trong chuyển
dịch nền kinh tế theo hướng cùng tồn tại quy mô lớn (thường là các doanh
nghiệp nhà nước hoặc hợp tác xã) và quy mô nhỏ (xuất hiện sau cải cách
ruộng đất và sự phát triển kinh tế hộ cá thể). Nghiên cứu đánh giá quy mô
của các hộ theo 4 cách tiếp cận: ước lượng hàm sản xuất Cobb-Douglas,
quan sát các chi phí sản xuất hải sản theo quy mô nuôi trồng, ước lượng hàm
chi phí bậc hai và áp dụng phương pháp DEA (phương pháp bao dữ liệu).
Điểm chính của đề tài được thể hiện trong các nghiên cứu, tính kinh tế theo
quy mô phụ thuộc vào phương pháp được sử dụng. Giả thiết về quy mô
không đổi không bị loại trừ trong một số kết quả. Các kết quả khác cũng thể
hiện những hoạt động tốt nhất mà các hộ gia đình đạt được ở quy mô vừa.
Cấu trúc nuôi trồng của các hộ gia đình và hợp tác xã ở Việt Nam phụ thuộc
vào nhiều yếu tố. Với những ứng dụng của CAP mới, sự khởi đầu của thanh
toán tách riêng có thể làm hạn chế quan điểm cấu trúc hợp tác xã thông qua
thể cho mô hình công nghệ. Giả thiết này được thể hiện trong cách tiếp cận
phi tham số dựa trên phương pháp bao dữ liệu (DEA - Data Envelopment
Analysis) và ngày nay phương pháp này được sử dụng ngày càng nhiều.
Cách tiếp cận này có thể áp dụng cho nhiều sản phẩm đầu ra và nhiều nhân
23
tố, có thể phân tích thống kê hiệu quả của trang trại theo hiệu quả kỹ thuật
(1)
và hiệu quả theo quy mô và có thể có khả năng áp dụng cho quy mô tối ưu
cho từng trang trại. Phương pháp DEA có một số lợi thế sau: (i) DEA sử
dụng quy hoạch tuyến tính trong ước lượng và không yêu cầu dạng hàm sản
xuất cụ thể (Seiford và Thrall, 1990); (ii) DEA có thể dùng trong trường hợp
có nhiều đầu ra và nhiều đầu vào; và (iii) DEA có thể phân tách hiệu quả kỹ
thuật thành hiệu quả kỹ thuật thuần và hiệu quả quy mô.
Những lưu ý mới nhất là so sánh hai phương pháp đánh giá quy mô
lớn và quy mô nhỏ ở Mỹ (Paul và các cộng sự, 2004). Bên cạnh những đặc
thù của mỗi phương pháp, các lưu ý trên quan tâm đến kết quả của sự phát
triển cấu trúc nông nghiệp ở Mỹ. Đây là xu hướng trong việc thiết lập tập
đoàn nông nghiệp ở Mỹ và lập luận rằng quy mô lớn sẽ tốt hơn quy mô nhỏ.
Tác giả cũng đề cập đến khả năng tồn tại loại hình quy mô nhỏ.
Đối với các nền kinh tế chuyển đổi, câu hỏi đặt ra có khi ngược lại: nó
liên quan đến tương lai của hợp tác xã. Do đó, Ngân hàng thế giới (1998)
phát hiện thêm những ưu thế tốt hơn trong trang trại của hộ gia đình so với
trang trại quy mô lớn của hợp tác xã. Minh chứng rõ nhất là những nghiên
cứu được đúc kết trong nghiên cứu 6 quốc gia thuộc liên minh châu Âu
(Gorton và Davidova, 2004) đã làm rõ hơn kết luận trên. Các nghiên cứu này
phụ thuộc vào các phương pháp khác nhau, nhưng hầu hết là cách tiếp cận
theo DEA. Trong đề tài này, nghiên cứu tham số đã đưa ra quá nhiều giả
định về công nghệ và đó là tại sao cách tiếp cận DEA được sử dụng nhiều
hơn. Các nghiên cứu thực nghiệm đó kết luận rằng mối liên hệ giữa quy mô
và hiệu quả không rõ ràng: nó phụ thuộc vào từng quốc gia và sự chuyên
0. Trong trường hợp này, chi phí cận biên và chi phí bình quân bằng nhau và
là hằng số. Hàm chi phí trung bình có dạng chữ L khi f > 0, g > 0 và h = 0.
Chi phí trung bình có dạng chữ U nếu f > 0, g > 0 và h > 0. Trong trường
hợp này, quy mô tối ưu (P*) được xác định cùng với giá trị nhỏ nhất của chi
phí bình quân (C*).
P*= (f/h)
(1/2)
C* = (f + gP* + hP*
2
) / P*
25