BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP BỘ
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP THU HÚT ĐẦU TƯ
TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ
TẠI CÁC TỈNH MIỀN NÚI – TRUNG DU PHÍA BẮC
Mã số: B2011-06-03
HỘI THẢO KHOA HỌC
THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI CÁC TỈNH
MIỀN NÚI TRUNG DU –PHÍA BẮC
Hà Nội, 12/2012
MỤC LỤC
STT Tên bài viết Trang
1 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỀ ĐỊNH HƯỚNG CHÍNH SÁCH NHẰM
THU HÚT FDI THỰC SỰ CÓ HIỆU QUẢ VÀO VIỆT NAM GIAI
ĐOẠN 2011-2020
GS.TS. Đỗ Đức Bình
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
2
2 TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA NHỮNG VẤN ĐỀ KINH TẾ XÃ
HỘI NẢY SINH TRONG FDI ĐỐI VỚI CÁC NƯỚC ĐANG
PHÁT TRIỂN
TS Vũ Quốc Bình
Viện Nghiên cứu KT - XH Hà Nội
10
3 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC
TIẾP NƯỚC NGOÀI NHẰM PHÁT TRIỂN KINH TẾ CÁC TỈNH
MIỀN NÚI-TRUNG DU PHÍA BẮC
TS Đặng Thu Hương
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Công ty TNHH 1 TV Hanel
84
2
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỀ ĐỊNH HƯỚNG CHÍNH SÁCH NHẰM
THU HÚT FDI THỰC SỰ CÓ HIỆU QUẢ VÀO VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2011-2020
GS.TS. Đỗ Đức Bình
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và chính sách thu hút FDI trong
những năm qua, đặc biệt là giai đoạn 2001-2010 đã đưa lại nhiều kết qủa khả quan
trong phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam. Có thể nói thời kỳ dải thảm đỏ để thu
hút FDI đã chấm dứt. Trong bối cảnh khắc phục khủng hoảng kinh tế toàn cầu, xu
hướng mới của dịch chuyển FDI và cạnh tranh dòng FDI đòi hỏi phải điều chỉnh,
đổi mới chính sách thu hút FDI cho thích ứng, đặc biệt là Việt Nam phải làm gì và
làm như thế nào để thu hút được công nghệ nguồn từ các chính sách xuyên quốc
gia (Top 500 TNC) của các quốc gia phát triển. Bài viết sẽ góp phần giải đáp các
vấn đề này.
1. Khái quát về chủ trương, chính sách thu hút FDI đã và đang thực thi
tại Việt Nam
1.1 Tổng quan thực trạng đóng góp của FDI vào Việt Nam giai đoạn
2001-2010
1.1.1 Khái quát đặc điểm hiện trạng FDI vào Việt Nam giai đoạn 2001-2010
Từ tình hình FDI vào Việt Nam thời gian qua, cho phép chúng ta khái
quát nên một số điểm sau:
Quy mô của vốn FDI cũng như tốc độ tăng của vốn FDI gia tăng qua
các năm, nhưng chưa ổn định. Điều này được thể hiện rõ qua 03 giai đoạn: 1)
phục hồi sau khủng hoảng Châu Á-Thái bình dương (2001-2004); 2) Giai đoạn
tăng nhanh (từ năm 2005 đến năm 2008) và, 3) giai đoạn suy giảm (từ năm
2009 đến tháng 11/2010).
3
hiện đại hoá của nền kinh tế Việt Nam. Bản thân khu vực công nghiệp, các dự
án FDI chủ yếu tập trung vào công nghệ gia công, lắp ghép, chưa hướng vào
công nghệ chế tạo để tạo ra các ngành, lĩnh vực “đầu tàu”, mũi nhọn cho nền
kinh tế.
Hiệu quả của khu vực FDI có chiểu hướng giảm. Điều này được thể
hiện ở chỗ hiệu suất sử dụng vốn (ICOOR) thấp hơn bình quân của nền kinh
tế, nhưng có dấu hiệu gia tăng, năng suất lao động của khu vực FDI đạt cao
nhất trong nền kinh tế, nhưng tốc độ lại liên tục sụt giảm.
1.1.2 Đóng góp của FDI đối vơi nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2001-2010:
Đóng góp vào gia tăng quy mô nền kinh tế có xu hướng tăng. Theo tính
toán của Bộ KH&ĐT, đóng góp của khu vực FDI vàp GDP của Việt Nam cao
hơn hẳn mức trung bình của thế giới (18,3% so với 10,6%). Điều này cho
thấy ảnh hưởng của FDI đối với nền kinh tế Việt Nam là khá hơn.
Đóng góp cho tăng trưởng kinh tế của khu vực FDI có chiều hướng
không biến động nhiều và có xu hướng giảm từ năm 2007 dến nay. Cụ thể là
đóng góp vào tăng trưởng trong năm 2009 của khu vực này chỉ còn là 12,2%,
giảm 5,3% so với năm 2000 và bình quân đóng góp của khu vực FDI giai
đoạn 2001-2009 cho tăng trưởng là 16,4%.
Khu vực kinh tế có vốn FDI có vai trò đặc biệt quan trọng đối với xuất
khẩu. Trong 5 năm 2001-2005, giá trị xuất khẩu không kể dầu thô đạt hơn
34,6 tỷ USD, cao gấp 3 lần so với thời kỳ 5 năm trước đó. Trong năm 2009,
nếu không có đóng góp của khu vực FDI thì kim ngạch xuất khẩu của Việt
Nam còn giảm nhiều hơn. Trên thực tế trong những năm gần đây, các doanh
nghiệp FDI luôn chiếm khoảng 60% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng năm của
Việt Nam.
Từ hiện trạng FDI tại Việt Nam thời gian qua đang nổi lên một số điểm
cần suy nghĩ, tiếp tục giải quyết, đó là: Khu vực FDI nhìn chung hiệu quả cao
5
hơn so với khu vực đầu tư trong nước, nhưng đang nổi lên tình trạng “lãi thật,
lỗ giả”; lợi dụng các chính sách ưu đãi về đầu tư, về thuế … của Việt Nam, …
đã coi những tập đoàn xuyên quốc gia hàng đầu trên thế giới (top 500 TNC
mẹ) là những đối tác chiến lược (có vốn lớn; công nghệ cao tiên tiến, hiện đại;
đầu tư ổn định; …) trong thu hút FDI của mình và theo chúng tôi Việt Nam
không phải ngoại lệ. Đã đến thời điểm Việt Nam phải chấm dứt ngay tình
trạng “dải thảm đỏ”, đưa ra nhiều chính sách quá ưu đãi đối với thu hút FDI.
Trái lại, việc thu hút FDI giai đoạn 2011-2020 phải kèm theo những điều kiện
chặt chẽ và những mục tiêu rõ ràng, minh bạch, bình đẳng đối với tất cả các
đối tác đầu tư.
2. Một vài kiến nghị về định hướng chính sách nhằm thu hút FDI
giai đoạn 2011-2020
Nhiều nghiên cứu quốc tế và trong nước đã chỉ ra rằng hiện trại và
tương lai các công ty xuyên và đa quốc gia vẫn giữ vai trò quan trọng nhất đối
với FDI của thế giới và các nước tiếp nhận đầu tư. Trên thực tế, các TNC vẫn
có ưu thế vượt trội về vốn, công nghệ, trình độ quản lý, nghiên cứu và triển
khai (R & D), khả năng cạnh tranh và xâm nhập thị trường, … xu hướng
chung các TNC tiếp tục đầu tư mạnh vào các ngành công nghiệp ô tô, viễn
thông, dược phẩm, dầu khí, thiết bị điện, tài chính, xây dựng cơ sở hạ tầng, …
về các thị trường đầu tư. Mạc dù Trung Quốc, Ấn Độ, Nga được đánh gía là
những điểm đến lý tưởng cho các nhà đầu tư, nhưng theo báo cáo của
UNCTAD năm 2009, thì một số quốc gia Đông Nam Á, trong đó có
Inđônêxia và Việt Nam vẫn duy trì tăng trưởng về FDI và do đó trong những
năm tới Việt Nam vẫn có thể duy trì tăng trưởng về FDI, cho dù vẫn đang
phải đối mặt với khủng hoảng toàn cầu.
7
Để có thể tiếp tục và đẩy mạnh hơn nữa thu hút FDI của các đối tác
chiến lược, đó là các TNC của các quốc gia có trình độ phát triển cao (các
quốc gia phát triển)-nơi có “công nghệ nguồn”, công nghệ tiên tiến, hiện đại
vào thực hiện có hiệu quả và vững chắc quá trình CNH-HĐH đất nước, để
đến năm 2020 Việt Nam thực sự trở thành nước công nghệ có trình độ tiên
tiến, hiện đại không thua kém và tụt hậu so với các quốc gia trong khu vực và
đảm bảo này thì mới có thể thực thi tốt các mục tiêu đề ra;
- Thực hiện chính sách ưu đãi đặc biệt dành cho các đối tác đầu tư chiến
lược (các TNC của các quốc gia có trình độ phát triển cao-top 500 TNC
mẹ để có công nghệ nguồn) với sự cam kết thực sự của Nhà nước.
Không ưu đãi đối vơi tất cả các nhà đầu tư mà chỉ tập trung vào những
đối tác đa dạng cần để thực hiện mục tiêu đến năm 2020 thực sự là nước
công nghiệp phải đạt trình độ tiên tiến, hiện đại không tụt hậu so với
nhiều nước trong khu vực và thế giới.
- Đổi mới, nâng cao chất lượng quản trị Nhà nước và quản trị doanh
nghiệp, đẩy mạnh xây dựng các chương trình xúc tiến đầu tư có hiệu quả
và có tầm nhìn tổng thể và dài hạn. Đi đối với việc phân cấp đầu tư, cần
phải nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác kiểm tra, giám sát của các
cơ quan Nhà nước, Trung ương. Thực hiện mạnh mẽ việc “thổi còi” đối
với các dự án thu hút FDI (nói riêng) không tuân thủ quy hoạch, chiến
lược tổng thể về thu hút FDI đã đề ra.
Thực hiện các vấn đề này đòi hỏi phải khắc phục triệt để tư tưởng thu
hút đầu tư mang tính chủ quan, tràn lan, tính nhiệm kỳ, tính phong trào, … đề
cao thành tích bề nổi, coi nhẹ tính hiệu quả. Bên cạnh các công việc Nhà nước
phải thực thi, cần đề cao tính thụ chịu trách nhiệm, chịu sự giám sát đối với
9
các cơ quan thực thi chính sách từ xã hội dân sự, khu vực tư nhân và mọi
công dân, thực sự tích cực sửa chữa kịp thời các sai lầm. Đề cao tư tưởng và
hành động luôn luôn dám đối mặt với sai lầm, không lẩn tránh khi đã mắc
phải, tích cực sửa sai và đưa ra các quyết sách đúng và khách quan không vi
phạm các cam kết quốc tế và các nguyên tắc của kinh tế thị trường.
Tài liệu tham khảo
1. FDI tại Việt Nam-những bất cập về chính sách và giải pháp hoàn thiện. Tạp
chí kinh tế và phát triển, số 145, tháng 9/2009.
2. Kinh tế và dự báo các số tháng 10 và 11 tháng 11 năm 2010.
3. Các báo cáo của Cục đầu tư nước ngoài - Bộ KH&ĐT.
11
hiệu quả các nguồn lực… thấp hơn nhiều so với mong đợi. Mặc dù tốc độ
tăng trưởng của nền kinh tế đạt những con số khá khả quan, nhưng chất lượng
tăng trưởng hầu như rất thấp.
Thực tiễn thế giới hết sức sống động chỉ ra rằng, thông thường các nhà
đầu tư nước ngoài khi bắt đầu triển khai hợp tác và đầu tư thường hứa hẹn với
nhiều dự án hấp dẫn, công nghệ thích hợp hoặc hiện đại… song thực tế đã
khẳng định những con số về vốn FDI chỉ là số đăng ký, còn số thực hiện lại là
vấn đề khác và thường có khoảng cách khá xa so với vốn đăng ký. Ví dụ, ở
Việt Nam từ năm 1988 đến năm 2009, tổng vốn FDI thực hiện là 66,9 tỷ USD,
chỉ bằng 34,7% tổng vốn đăng ký. Riêng năm 2008, mức vốn đăng ký kỷ lục là
71,7 tỷ USD, gấp 3 lần năm 2007, cao nhất từ trước đến nay, nhưng thực tế số
vốn thực hiện chỉ đạt 11,5 tỷ USD, chiếm 16% số vốn đăng ký. Hiện tại, nền
kinh tế Việt Nam luôn được đánh giá là tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào
thâm dụng lao động, tài nguyên và vốn. Trong khi đó, nguồn vốn FDI vào các
dự án không đúng như cam kết. Điều đó làm cho không ít các dự án triển khai
chậm, kém hiệu quả và do đó là một trong số các nguyên nhân làm giảm tốc
độ, chất lượng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam so với mục tiêu đặt ra.
Thứ hai, công nghệ tiếp nhận kém hiệu quả
Các nhà đầu tư nước ngoài luôn có mặt bằng công nghệ cao hơn mặt
bằng công nghệ của các nước tiếp nhận. Nếu luật pháp, chính sách ở nước
tiếp nhận không rõ ràng, thiếu minh bạch, trình độ quản lý yếu kém, các nhà
đầu tư lợi dụng kẽ hở này để chuyển giao công nghệ lạc hậu, công nghệ
không theo cam kết. Họ sẵn sàng chỉ tập trung đầu tư và chuyển giao cho
nước tiếp nhận công nghệ gia công, lắp ráp cho các ngành dệt may, da giày,
điện tử, ô tô… hầu như ít đầu tư vào ngành công nghệ cao và do đó không thể
sớm đưa các nước tiếp nhận thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở các nước tiếp nhận khó có thể thực thi đúng
12
tiến độ và hiệu quả.
doanh nghiệp “mẹ” ở nước ngoài thôn tính.
- Cơ cấu vốn của nền kinh tế ở quốc gia tiếp nhận sẽ bị đột ngột thay đổi do
hành vi chuyển giá của các doanh nghiệp FDI (trong đó có các công ty đa
quốc gia) làm cho các luồng vốn chảy vào nhanh mạnh, sau đó lại có xu
hướng chảy ra trong thời gian ngắn. Hậu quả là gây ra tình trạng bất ổn định
kinh tế vĩ mô ở các quốc gia này trong các thời kỳ khác nhau.
- Với việc thực hiện chuyển giá và thao túng thị trường, chính phủ các nước
tiếp nhận đầu tư khó khăn trong hoạch định chính sách điều tiết nền kinh tế vĩ
mô và thúc đẩy các ngành sản xuất trong nước phát triển.
- Việc chuyển giá phá vỡ cán cân thanh toán quốc tế và các kế hoạch phát
triển kinh tế của các quốc gia tiếp nhận đầu tư. Vì vậy, nếu không kiểm
soát tốt sẽ dẫn tới sự lệ thuộc vào các nước chính quốc, lâu dài dẫn đến sự
lệ thuộc về chính trị.
Thứ năm, nhà đầu tư đột ngột rút vốn
Đây là loại rủi ro thường xảy ra trong đầu tư trực tiếp nước ngoài gây
thiệt hại cho cả bên xuất khẩu vốn đầu tư và quốc gia tiếp nhận. Tình trạng
này xảy ra khi nhà đầu tư không yên tâm về sự an toàn của các khoản vốn đầu
tư do quan hệ của quốc gia xuất khẩu vốn và quốc gia tiếp nhận xấu đi, do
chính sách thu hút và sử dụng vốn ở quốc gia tiếp nhận không ổn định, thiếu
nhất quán… Một khi các nhà đầu tư rút vốn với khối lượng lớn có thể dẫn đến
tình trạng mất ổn định về nhiều mặt đối với nước tiếp nhận như đồng nội tệ
mất giá; gia tăng thất nghiệp do các doanh nghiệp không vượt qua khỏi những
khó khăn trong sản xuất kinh doanh, buộc phải giảm quy mô, thậm chí ngừng
sản xuất kinh doanh, thị trường rối loạn…
14
Khi xảy ra hiện tượng thoái vốn của nhà đầu tư ở một nước tiếp nhận
nào đó, dẫn đến phản ứng dây chuyền lan toả rộng khắp và do đó kéo theo sự
thoái lui, rút vốn đầu tư hàng loạt ở các nước khác. Thực tiễn hai cuộc khủng
hoảng kinh tế, tài chính gần đây (khủng hoảng tài chính - tiền tệ Châu Á năm
1997 - 1998 và cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008 - 2009) đã cho
chuyển giao công nghệ lạc hậu trong đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng là nguyên
nhân gây ô nhiễm môi trường trong các nước tiếp nhận đầu tư.
Mặt khác, do tiêu chuẩn kiểm soát môi trường và vấn đề bảo vệ môi
trường trong các nước đang phát triển chưa được quan tâm đúng mức, kết hợp
với sự cần thiết của thu hút FDI đã làm cho vấn đề môi trường ngày càng trở
nên nghiêm trọng. Lợi dụng vấn đề này, các nhà đầu tư nước ngoài sản xuất
các sản phẩm trong các lĩnh vực gây hại cho môi trường đã chuyển các nhà
máy của họ sang các nước đang thu hút đầu tư nhằm tiết kiệm chi phí xử lý
chất thải và tránh né sự kiểm soát chặt chẽ của quốc gia đi đầu tư.
Hậu quả của ô nhiễm môi trường rất đáng quan ngại. Đó là những tác động
tổng hợp tới sức khỏe cộng đồng, sản xuất nông nghiệp, thủy sản, gây ra những
thiệt hại không nhỏ về kinh tế và ảnh hưởng xấu tới các hệ sinh thái tự nhiên.
Trên thế giới, 30 năm qua có khoảng 40 bệnh mới phát sinh và có
nguồn gốc từ ô nhiễm môi trường. Nổi bật là các bệnh về đường hô hấp và
đường tiêu hóa.
Ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường đến sự phát triển kinh tế - xã hội
được biểu hiện cụ thể qua: (i) Các thiệt hại kinh tế do gia tăng gánh nặng bệnh
tật; (ii) Thiệt hại kinh tế do ảnh hưởng đến nông nghiệp, thủy sản; (iii) Thiệt
hại kinh tế đối với hoạt động du lịch; (iv) Thiệt hại kinh tế do chi phí cải thiện
môi trường; (v) Phát sinh xung đột về môi trường. Đây là xung đột về lợi ích
giữa các nhóm xã hội trong khai thác và sử dụng tài nguyên và môi trường;…
16
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Thị Phương Hoa (2011), Tăng cường kiểm soát nhà nước đối
với hoạt động chuyển giá trong doanh nghiệp trong điều kiện hội nhập
kinh tế ở Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Trường Đại
Học Kinh tế Quốc dân.
2. Nguyễn Mại (2011), “Đầu tư trực tiếp nước ngoài với phát triển bền
vững ở Việt Nam”, Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia, ngày
14/6/2011.
Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương…bởi nơi đây có
nhiều điều kiện thuận lợi hơn về cơ sở hạ tầng, về nguồn nhân lực, …còn ở
những địa phương khác như các tỉnh miền núi - trung du phía Bắc thì sự có
mặt của các nhà đầu tư nước ngoài ít hơn rất nhiều. Điều này cũng dễ hiểu
bởi chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của vùng miền núi trung du này được
đánh giá ở mức trung bình thấp. Đặc biệt, năm 2012, tỉnh Điện Biên chỉ đạt
45,12 điểm (xếp thứ 63/63 tỉnh, thành phố của cả nước); tỉnh Cao Bằng đạt
50,55 điểm (61/63); tỉnh Lai Châu đạt 52,47 điểm (55/63). Khá nhất chỉ có 2
tỉnh là Lào Cai đạt 63,08 điểm (3/63); tỉnh Thái Nguyên 60,07 điểm (17/63)
1
.
Chỉ số năng lực cạnh tranh này liên quan tới hàng loạt các nhân tố như: thủ
1 Theo báo cáo về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của VCCI năm 2012
18
tục hành chính, tính minh bạch và trách nhiệm; quy hoạch đất đai, năng lực
quản lý của cấp chính quyền, cơ sở hạ tầng, chất lượng nguồn nhân lực…
Đây chính là những nhân tố cơ bản tác động đến thu hút FDI ở nước ta cũng
như ở các địa phương trên cả nước
1.2.1. Sự ổn định về chính trị, kinh tế
Sự ổn định về kinh tế, chính trị sẽ tạo ra môi trường đầu tư, kinh doanh
thuận lợi. Một chính quyền mạnh, thực thi hữu hiệu các chính sách phát triển
kinh tế -xã hội đáp ứng yêu cầu chính đáng của nhân dân sẽ đem lại lòng tin
và sự hấp dẫn cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Một quốc gia có chính
trị ổn định, kinh tế phát triển sẽ là điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tưu. Các
nhà đầu tư sẽ yên tâm hơn khi bỏ vốn vào đầu tư lâu dài và ngược lại, nếu
một nước có chính trị không ổn định, có sự bất hòa với quốc gia khác thì khi
xảy ra xung đột, các quốc gia thường áp dụng chính sách cấm vận, trừng phạt
kinh tế, chính trị…điều này sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến nhà đầu tư. Do vậy sự
ổn định kinh tế, chính trị là là điều kiện tiên quyết nhằm giảm thiểu những rủi
ro khi hoạt động đầu tư ở nước sở tại bởi vì đây là những nhân tố nhạy cảm,
1.2.3. Cơ sở hạ tầng
Sự phát triển của cơ sở hạ tầng kỹ thuật của một quốc gia luôn là
điều kiện vật chất hàng đầu để các chủ đầu tư có thể nhanh chóng thông
qua các quyết định và triển khai các dự án đầu tư đã cam kết.
Một tổng thể hạ tầng phát triển phải bao gồm một hệ thống giao thông
vận tải đồng bộ và hiện đại với các cầu, cảng, đường sá, kho bãi và các
phương tiện vận tải đủ sức bao phủ quốc gia và đủ tầm hoạt động quốc tế;
một hệ thống bưu điện thông tin liên lạc viễn thông với các phương tiện nghe
- nhìn hiện đại, có thể nối mạng thống nhất toàn quốc và liên thông với toàn
cầu; hệ thống điện nước dồi dào và phân bổ tiện lợi cho các hoạt động sản xuất
20
kinh doanh cũng như đời sống và một hệ thống mạng lưới cung cấp các loại
dịch vụ khác (y tế, giáo dục, giải trí, các dịch vụ hải quan, tài chính, thương mại,
quảng cáo, v.v ) phát triển rộng khắp, đa dạng và có chất lượng cao.
Để hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài, việc nâng cấp cơ sở hạ tầng kỹ
thuật là một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy tiến trình đầu tư. Sức
cạnh tranh của nhiều ngành dịch vụ như bưu chính viễn thông, vận tải hàng
không, điện, vận tải biển ngày càng phát triển nhanh chóng cả về chiều rộng
và chiều sâu ở tất cả các quốc gia, trong đó dịch vụ thông tin và tư vấn đầu tư
đóng vai trò rất quan trọng đối với cả những nước thu hút vốn nước ngoài lẫn
đối với các chủ đầu tư. Nội dung hoạt động dịch vụ này rất phong phú, đa
dạng và ngày càng được mở rộng, bao gồm từ việc cung cấp thông tin cập
nhật, tin cậy, có hệ thống về môi trường đầu tư, kinh doanh của nơi tiếp nhận
đầu tư cũng như các chủ đầu tư. Thực tế hiện nay ở Việt Nam, các địa phương
đều đã có trang web riêng của tỉnh, các chính sách, các dự án ưu đãi đầu tư
cũng được đăng tải khá chi tiết. Đây là những thông tin rất quan trọng đối với
các nhà đầu tư khi muốn tìm hiểu môi trường đầu tư tại địa phương. Ngoài ra
môi trường đầu tư còn bị ảnh hưởng khá lớn của hệ thống hạ tầng xã hội như
hệ thống y tế, chăm sóc sức khỏe, hệ thống giáo dục đào tạo, phong tục tập
quán, văn hóa, tôn giáo…
Do vậy để DN nhanh chóng tiến hành sản xuất kinh doanh thì thời gian phê
duyệt, quyết định cấp giấy phép đầu tư, cũng như thời gian thẩm định thiết kế
kỹ thuật, thẩm định môi trường cho các dự án phải nhanh chóng.
Bên cạnh những vấn đề liên quan đến các thủ tục hành chính thì hiệu
quả quản lý của chính quyền địa phương cũng rất quan trọng, nhất là trong
phân cấp quản lý bởi vì việc phân cấp trong các khâu lập, thẩm định, phê
22
duyệt, thi công hợp lý sẽ phát huy được quyền tự chủ của địa phương và
DN. Ngược lại, giao quyền tự chủ cho các DN nhưng không có các chế tài
quản lý, kiểm tra, theo dõi sẽ dẫn đến tình trạng thả nổi DN. Sự lẫn lộn giữa
quyền sở hữu và quyền sử dụng dẫn đến cơ chế xin cho, tiêu cực cũng sẽ
dẫn đến thất thoát, lãng phí trong đầu tư và làm ảnh hưởng đến môi trường
đầu tư, kinh doanh tại địa phương.
Hiệu quả quản lý của nhà đầu tư nói lên năng lực điều hành của chính
quyền địa phương và sự phối hợp, phân cấp giữa các cơ quan công quyền
trong việc giải quyết các vấn đề có liên quan đến quá trình sản xuất kinh
doanh của nhà đầu tư. Muốn có một bộ máy hành chính gọn nhẹ, sáng suốt,
các thủ tục hành chính và những quy định pháp lý đơn giản, công khai và nhất
quán đòi hỏi trình độ cán bộ công chức phải không ngừng được nâng cao về
chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp, tin thông luật pháp và ứng xử
hợp lý, linh hoạt trong các tình huống
1.2.6. Chất lượng nguồn nhân lực
Nhân lực là một trong những yếu tố đầu vào của sản xuất, như vậy chất
lượng lao động và giá cả lao động cũng sẽ quyết định hiệu quả sản xuất của
DN. Việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để đáp ứng nhu cầu của các
nhà đầu tư là một vấn đề rất cấp bách bởi vì DN có tồn tại và phát triển hay
không phụ thuộc rất lớn đến chất lượng nguồn nhân lực. Thực tế chứng minh
rằng chất lượng nguồn nhân lực có tác động rất mạnh đến khả năng thu hút
đầu tư và ngược lại chất lượng nguồn nhân lực thấp sẽ hạn chế khả năng tiếp
cận công nghệ tiên tiến, hiện đại. Thông thường một địa phương có năng lực
TS Trần Thị Hồng Minh
Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Trong những năm gần đây, vùng kinh tế trọng điểm phía Nam luôn là một
trong những khu vực kinh tế năng động và thu hút vốn đầu tư nước ngoài nhiều
nhất trong cả nước. Trong đó, nổi bật trong thu hút FDI là các tỉnh Bình Dương,
Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Nai và Tây Ninh, luôn trong nhóm 10 tỉnh, thành dẫn
đầu về thu hút đầu tư nước ngoài. Sức hấp dẫn thu hút các dòng vốn đầu tư của
vùng vẫn đã và đang được phát huy với mục tiêu nâng cao hiệu suất đầu tư ở mức
cao nhất. Kinh nghiệm của các tỉnh này trong việc thu hút FDI phát triển kinh tế -
xã hội rất đáng để các tỉnh khác tham khảo.
1.3.1. Kinh nghiệm thu hút FDI tỉnh Bình Dương
Là một tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ được tách ra từ tỉnh Sông Bé
(cũ) và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/01/1997, Bình Dương nằm
trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, tiếp giáp với TP.HCM, Đồng Nai,
Bình Phước. Do có vị trí nằm gần TP.HCM - là trung tâm kinh tế - văn hóa,
đầu mối giao thông lớn của cả nước, đồng thời có các trục lộ giao thông huyết
mạch của quốc gia chạy qua như quốc lộ 13, quốc lộ 14, đường Hồ Chí Minh,
đường Xuyên Á …; cách sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất và các cảng biển chỉ
từ 10–15km… nên Bình Dương có nhiều điều kiện thuận lợi phát triển công
nghiệp cũng như phát triển kinh tế - xã hội toàn diện. Bình Dương hiện là một
trong 5 địa phương dẫn đầu về độ hấp dẫn thu hút đầu tư nước ngoài. Hiện
nay, Bình Dương có 28 KCN và cụm công nghiệp tập trung có tổng diện tích
hơn 8.700 ha với hơn 1.200 DN trong và ngoài nước đang hoạt động có tổng
vốn đăng ký hơn 13 tỷ đôla Mỹ.
25