TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
ĐẢNG BỘ TRÀ VINH VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
THỰC
HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO KHMER TRONG SỰ
NGHIỆP ĐỔI MỚI HIỆN NAY
Chuyên ngành: Sư phạm Giáo dục công dân.
Mã ngành
: 52140204
Giáo viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
Th.s. GVC. Trần Kim Trung
Sơn Thị Thanh Loan
MSSV: 6055371
Cần Thơ, tháng 04 năm 2009
Trang 1
khả năng để giải quyết các vấn đề có liên quan đến tôn giáo; công tác vận
động đồng bào tín đồ Phật giáo còn chưa thống nhất, chưa phát huy sức
mạnh đồng bộ của cả hệ thống chính trị từ tỉnh, huyện đến xã, đồng thời
chất lượng các tổ chức cơ sở đoàn thể còn nhiều yếu kém.
Chính vì vậy, để nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách tôn
giáo đối với đồng bào Khmer theo tín đồ Phật giáo Nam Tông ở tỉnh Trà
Vinh, và phát huy những mặt tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực của nó;
xây dựng niềm tin vào sự nghiệp đổi mới, huy động được đông đảo đồng
bào có tín ngưỡng vào sự nghiệp “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh”, qua đó thể hiện được ước nguyện “sống tốt đời đẹp
đạo” của đông đảo đồng bào theo tín ngưỡng tôn giáo và không theo tôn
giáo là vấn đề bức xúc hiện nay. Do đó, nghiên cứu công tác vận dụng tư
tưởng Hồ Chí Minh và những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
trong việc thực hiện chính sách tôn giáo của Tỉnh đảng bộ Trà Vinh đối với
đồng bào Khmer là vấn đề hết sức khó khăn, phức tạp, tế nhị. Đồng thời, vì
tư liệu quá ít ỏi, thời gian tiếp cận thực tế có hạn, nhưng với mong muốn có
thể góp được chút ít hiểu biết của mình vào công tác quan trọng của địa
phương, nên em đã chọn đề tài “Đảng bộ Trà Vinh vận dụng tư tưởng Hồ
Chí Minh thực hiện chính sách tôn giáo đối với vùng đồng bào dân tộc
Khmer trong sự nghiệp đổi mới hiện nay” được xây dựng trên cơ sở đó,
nhằm khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của Phật giáo mang lại cũng như
đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao công tác thực hiện chính sách tôn
giáo đối với đồng bào Khmer trong sự nghiệp đổi mới để thực hiện đúng với
chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích:
Nhằm hệ thống lại tư tưởng Hồ Chí Minh; Chủ trương, chính sách
của Đảng, Nhà nước ta về chính sách tôn giáo và nhằm đánh giá sự vận
dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách tôn giáo của tỉnh đảng bộ Trà
Trang 3
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lí luận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo và các quan điểm của Đảng, chính
sách của Nhà nước về công tác tôn giáo.
- Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng phương pháp chung là phương pháp lịch sử, phương
pháp logic, và kết hợp với một số phương pháp như: phương pháp tổng hợp,
phân tích, so sánh và thông qua đó tác giả đã sắp xếp theo một trình tự nhằm
đáp ứng theo yêu cầu của đề tài.
5. Kết cấu luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,
nội dung chính của Luận văn gồm có 2 chương và 7 tiết.
Trang 5
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀ QUAN ĐIẺM CỦA ĐẢNG VỀ
TÔN GIÁO
1.1. Tư tưởng Hồ Chi Minh về tôn giáo và chính sách tôn giáo.
1.1. 1. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và
chính sách tôn giáo.
- Cơ sở lí luận:
Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nho học, từ nhỏ Hồ Chí Minh
đã được làm quen với sách vở, với chữ Nho, Người đã đọc được những điều
về đoàn kết, đồng tâm, đồng chí trong các lời dạy của Khổng Tử, Mạnh Tử
như: “một cái áo làm bằng lông cừu sắc trắng, đâu phải do một con là đủ”,
“một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”. Tính chất
cộng đồng chặt chẽ trong gia đình Việt Nam, truyền thống “ nhiễu điều phủ
lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng” của dân tộc
Việt Nam, một đất nước với nền văn hóa Phương Đông còn là cái nôi cho tư
đoàn kết dân tộc hơn”. Để thực hiện đoàn kết tôn giáo trong chiến lược đại
đoàn kết toàn dân tộc, Hồ Chí Minh đã chú trọng kết hợp sáng tạo các
phương pháp cơ bản sau:
Lấy lợi ích quốc gia dân tộc và quyền lợi căn bản của con người làm
mẫu số chung để thực hiện chiến lược đoàn kết. Đại đoàn kết dân tộc không
đơn giản chỉ là phương pháp tập hợp, tổ chức lực lượng cách mạng, mà cao
hơn, đó là một bộ phận hữu cơ, một sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối chiến
lược cách mạng. Xét đến cùng, ở bất kỳ thời kỳ cách mạng nào, đoàn kết
giữa các lực lượng xã hội đều được hình thành trên cơ sở kết hợp lợi ích tối
cao của dân tộc với quyền lợi của nhân dân lao động và quyền thiêng liêng
của con người. Người cho rằng, mỗi tôn giáo có ưu và nhược điểm của
chúng nhưng tất cả đều có nét tương đồng lớn nhất là khuyên con người
hướng thiện, khuyên con người tìm đến cái chân, thiện, mỹ- dù con đường
tu tập để đạt đến đích đó có thể rất khác nhau. Đạo đức tôn giáo có phần
ràng buộc con người bằng mối quan hệ tâm linh, việc thực hiện đạo đức tôn
giáo hầu như dựa trên sự thấm nhuần và tự giác của mỗi cá nhân. Do đó, Hồ
Chí Minh đã nhấn mạnh những nét tương đồng đó, những “ mẫu số chung”
Trang 7
để hạn chế, khắc phục những khác biệt, giải quyết những mâu thuẫn khi xây
dựng khối đại đoàn kết dân tộc. Người nhấn mạnh những khía cạnh của đạo
đức tôn giáo như:
“ Chúa Giêsu dạy: Đạo đức là bác ái
Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi
Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa”.
Để thực hiện đoàn kết tôn giáo trong chiến lược đại đoàn kết toàn
dân, theo Hồ Chí Minh, một vấn đề mang tính nguyên tắc là phát huy những
yếu tố tương đồng, dùng cái tương đồng để khắc phục sự dị biệt, cố gắng
có ưu điểm của nó là chính sách của nó phù hợp với điều kiện của nước ta”.
Và từ đó Người nêu ra cái chung, cái rộng lớn nhất cả Chủ nghĩa Cộng sản
chính là mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu cầu phúc lợi cho xã hội.
Như vậy, Hồ Chí Minh đã đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu tất cả các tôn giáo, từ
đó người đưa ra nhận xét: “Các tôn giáo ở Việt Nam dù là nội sinh hay
ngoại sinh, đều chứa đựng trong giáo lý của mình những lời khuyên làm
điều thiện, tránh điều ác”..
Trong quá trình lãnh đạo, thực hiện các nhiệm vụ cách mạng, Người
đã đặt quyền lợi giải phóng dân tộc cao hơn hết thảy, vì đất nước không
được độc lập, tôn giáo nói chung, các tín đồ tôn giáo nói riêng cũng không
có tự do. Đấu tranh cho độc lập, tự do của Tổ quốc là nguyện vọng thiết tha
của mọi người dân trong đó có các tín đồ.
Sự thống nhất và đoàn kết tôn giáo trên cơ sở mẫu số chung là quyền
lợi dân tộc và quyền lợi của con người, là phương pháp đoàn kết cơ bản,
nhằm tạo nên sự nhất trí cao độ của toàn dân, tạo nên một trận tuyến chung
của mọi tầng lớp nhân dân yêu nước, đoàn kết phấn đấu quên mình cho nền
độc lập thống nhất của dân tộc. Đây cũng là cơ sở vững chắc để bác bỏ mọi
mưu toan lợi dụng tôn giáo của kẻ thù, hòng chia rẽ tôn giáo và dân tộc, phá
hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân. Để đoàn
kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo; đoàn kết đồng
bào theo các tôn giáo khác nhau, theo Người, một phương pháp quan trọng
Trang 9
là phải tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín
ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không
tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần không thể thiếu đối với nhân dân,
là cái thiêng liêng của mỗi người không ai được xâm phạm hay làm tổn hại
có quan niệm rõ ràng, phân biệt một cách dứt khoát tổ chức giáo hội Việt
Nam, đặc biệt là tổ chức Giáo hội Thiên Chúa giáo của những người có đạo
chân chính với “chủ nghĩa giáo hội” của một số giáo sĩ nhân danh Chúa, lợi
dụng giáo hội câu kết với bọn thực dân, đế quốc, gây tội ác xâm lược, thống
trị và bóc lột nhân dân Việt Nam. Quan điểm này được thể hiện trong Bản
án chế độ thực dân Pháp (Chương 10 “Chủ nghĩa giáo hội”).
Và hơn nữa khi Hồ Chí Minh tìm gặp chủ nghĩa Mác-Lênin về đoàn
kết tôn giáo. Chủ nghĩa Mác- Lênin coi tôn giáo là một hình thái ý thức xã
hội phản ánh một cách hoang đường, hư ảo hiện thực khách quan. Nhưng
Chủ nghĩa Mác- Lênin cũng thừa nhận vai trò của tôn giáo trong đời sống xã
hội, thừa nhận tôn giáo là một hiện tượng xã hội còn tồn tại lâu dài, đồng
thời tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân.
Như vậy, phương pháp đoàn kết tôn giáo của Hồ Chí Minh là sự vận dụng
sáng tạo phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy
vật lịch sử để xử lý, giải quyết các mối quan hệ tôn giáo, nhằm thực hiện
đoàn kết tôn giáo trong khối đại đoàn kết dân tộc vì mục tiêu độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội.
-
Cơ sở thực tiễn:
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết tôn giáo, không những được
hình thành trên cơ sở lí luận mà nó còn được tiếp thu qua cơ sở thực tiễn.
Đối với Hồ Chí Minh việc thông qua thực tiễn để xác lập tư tưởng, phương
pháp, đường lối, thì được xem như là điểm xuất phát, điểm đích của Người.
Tư tưởng đại đoàn kết được hình thành trên cơ sở tổng kết những kinh
nghiệm của phong trào cách mạng Việt Nam và phong trào cách mạng thế
giới, nhất là phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa. Những
thành công hay thất bại của các phong trào đều được Người nghiên cứu để
rút ra bài học kinh nghiệm cần thiết cho việc hình thành tư tưởng khối đại
nước Lênin. Điều này giúp cho người hiểu sâu sắc thế nào là một cuộc cách
mạng đến nơi đến chốn, để chuẩn bị cho cuộc cách mạng Việt Nam. Từ đó,
Người đã rút được nhiều kinh nghiệm quý báu để đưa cuộc cách mạng Việt
Nam thắng lợi hoàn toàn.
Trang 12
Từ lịch sử dân tộc và thực tiễn cách mạng, Hồ chí Minh đã rút ra một
bài học là: “ Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn
người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn
kết thì bị nước ngoài xâm lấn”.[HCM về đại đoàn kết, tr 348].
Tư tưởng đoàn kết lương – giáo, hòa hợp dân tộc xuất phát từ nhiệm
vụ cụ thể của cách mạng Việt Nam. Là một người phấn đấu suốt đời hy sinh
cho độc lập, tự do của tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân, Hồ Chí Minh luôn
ấp ủ trong mình niềm ước mơ, khát vọng là làm sao cho đất nước được giải
phóng, đồng bào ai cũng có cơm ăn , áo mặc, ai cũng được học hành. Thực
hiện được khát vọng đó là một nhiệm vụ vô cùng lớn lao, gian khổ nặng nề,
là trách nhiệm của toàn dân chứ không phải là nhiệm vụ của riêng ai. Giành
được độc lập dân tộc đã khó, giữ vững nền độc lập, xây dựng Chủ nghĩa xã
hội còn khó hơn.
Tư tưởng đoàn kết luôn bao trùm rộng lớn và có ý nghĩa quyết định
thành công trong cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh, đặc biệt là thấy rõ
sự khác nhau giữa trước và sau năm 1945.
Thời kì trước Cách mạng Tháng Tám, dưới bút danh Nguyễn Ái
Quốc, chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết nhiều mẫu chuyện, luận văn và bài báo
chủ yếu vạch trần những thủ đoạn tàn bạo của Chủ nghĩa thực dân và những
người cầm đầu giáo hội ở Việt Nam cấu kết với Chủ nghĩa thực dân. Lúc
này vấn đề đoàn kết tôn giáo chưa được nhắc đến vì hoàn cảnh hoạt động bí
mật khiến cho những người Cộng sản trước và sau khi lập Đảng chưa có
cách mạng, Hồ Chí Minh đã tiếp xúc với nhiều đồng bào tôn giáo, từ những
chức sắc cấp cao đến những người bình thường, kể cả các cháu thiếu nhi.
Hồ Chí Minh đã có nhiều năm hoạt động ở các nước tư bản, đế quốc thực
dân, cho nên Người thấu hiểu các thủ đoạn cai trị và tâm địa của Chủ nghĩa
thực dân. Những thủ đoạn chia rẽ, lừa bịp dân chúng “chia để trị” của Chủ
nghĩa đế quốc, trong đó thủ đoạn dùng tôn giáo để mê hoặc, để kích động
nhân dân vốn là ngón đòn quen thuộc. Chính vì thế, ngay khi nước nhà mới
giành được độc lập, Hồ Chí Minh đã rất quan tâm đến công tác đoàn kết
trong vùng đồng bào tôn giáo, bởi đây là yếu tố tác động đáng kể đến việc
xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất của Đảng.
Trang 14
Bên cạnh đó, qua thực tiễn thì nhiều người Công giáo đã nhận thức
được tư tưởng bao dung hòa hợp và đường lối sáng suốt của Hồ Chí Minh
về đoàn kết tôn giáo. Linh mục Trần Tam Tỉnh trong một tác phẩm nghiên
cứu về lịch sử công giáo Việt Nam thời cận hiện đại, đã có nhiều trang ca
ngợi tư tưởng, tình cảm của chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo. Ông
viết: “Đối với giáo hội công giáo, cụ Hồ Chí Minh tỏ ra hết sức có tình, có
lý”. Một chính khách thực dân Pháp tại ở tại Hà Nội ông Xanhtơny cũng có
nhận xét: “Về phần tôi, tôi phải nói rằng chưa bao giờ tôi có cớ để nhận thấy
các chương trình của cụ Hồ một dấu vết nào dù là rất nhỏ, của sự công kích,
đa nghi hoặc chế giễu đối với bất kì tôn giáo nào”.
1.1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo- tín ngưỡng.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo- tín ngưỡng không chỉ là sự vận
dụng sáng tạo quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Lênin về tôn giáo vào điều
kiện cụ thể của Việt Nam mà Người còn có những cống hiến mới, sáng tạo
mới đặc biệt quan trọng vào kho tàng lí luận chủ nghĩa Mác- Lênin. Kết hợp
hài hòa giữa lợi ích giai cấp với lợi ích dân tộc, với độc lập dân tộc và chủ
kết, từ đó có hình thức xử lí phù hợp. Muốn đoàn kết phải chú ý kế thừa giá
trị nhân bản của các tôn giáo, trân trọng những người sáng lập các tôn giáo.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói : “nếu như Phật Thích Ca, Chúa Giêsu, Các
Mác, Tôn Dật Tiên sống cùng thời thì chắc chắn các ông sẽ là bạn tốt của
nhau, vì các ông đều có mong muốn giải phóng cho con người”. Người luôn
quan tâm đến các giáo sĩ, giáo dân, độ lượng, vị tha đối với những người
lầm lỗi, phê phán bọn phản động. Quan điểm đoàn kết của người là quan
điểm bao trùm lên tất cả, vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì lợi ích của nhân
dân. Muốn đoàn kết với đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo trước hết phải tôn
trọng đảm bảo quyền tự do, tín ngưỡng của họ.
Hai là, Tôn trọng và đảm bảo quyền tự do, tín ngưỡng của nhân
dân.
Hồ Chí Minh cho rằng: quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng
là một trong những quyền tự do, tín ngưỡng của con người. Chủ tịch Hồ Chí
Minh luôn giáo dục mọi người và bản thân người luôn luôn gương mẫu tôn
Trang 16
trọng quyền tự do tín ngưỡng của đồng bào có đạo. Sự tôn trọng ấy không
chỉ thể hiện trên văn bản, lời nói mà còn cả trên hoạt động thực tiễn của
Bác. Chủ tịch Hồ Chí Minh nghiêm khắc phê phán những phần tử những kẻ
lợi dụng tôn giáo, những kẻ hành nghề mê tín dị đoan, phê phán những việc
làm sai chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước. Xử lí đúng
đắn mối quan hệ tôn giáo với dân tộc là mấu chốt. Mọi chính sách pháp luật
về tôn giáo phải xoay quanh đoàn kết. Nhằm thực hiện thắng lợi chiến lược
đoàn kết lương giáo, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân, Hồ Chí
Minh chủ trương giải quyết hài hòa giữa lợi ích của bộ phận và toàn thể,
giữa cá nhân với xã hội. Một mặt, Người chủ trương tôn trọng quyền tự do
tín ngưỡng của nhân dân, để thể chế hóa quyền đó thông qua hệ thống pháp
luật của nhà nước, yêu cầu công dân và các cơ quan nhà nước phải tuân thủ
tưởng của Người vẫn còn giá trị, là tài sản vô cùng quý giá giúp Đảng và
Nhà nước ta có cơ sở lí luận hoạch định chính sách tôn giáo diễn biến không
ít phức tập như ngày nay.
1.1. 3. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết tôn giáo.
Đại đoàn kết là một tư tưởng lớn được hình thành và phát triển cùng
với toàn bộ quá trình hoạt động lí luận và thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí
Minh, đồng thời là một nội dung quan trọng trong chiến lược đại đoàn kết
toàn dân của Người.
Tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh đã tập hợp, phát huy sức mạnh
dân tộc, quốc tế vì mục tiêu độc lập tự do, chủ nghĩa xã hội. Với tầm cao trí
tuệ và chủ nghĩa nhân văn cộng sản, Hồ Chí Minh đã giải quyết khoa học
các mối quan hệ phức tạp giữa dân tộc- giai cấp, quốc gia- quốc tế phù hợp
với xu thế phát triển khách quan của thời đại. Người đã khơi dậy và phát
huy đến đỉnh cao của các tập hợp xã hội, từ lực lượng chí cốt cách mạng đến
tầng lớp trung gian, của từng con người để tạo thành tổng hợp lực, thu hẹp
và đè bẹp các thế lực thù địch ngoan cố, phản động nhất. Khối đại đoàn kết
dân tộc được xây dựng theo tư tưởng Hồ Chí Minh đã, đang và sẽ mãi mãi
là một trong những quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, các tôn giáo được du nhập
trong những điều kiện lịch sử đặc biệt. Vì vậy, vấn đề tôn giáo có tác động
Trang 18
không nhỏ đến việc xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc. Lịch sử
Việt Nam đã cho chúng ta nhiều bài học liên quan đến vấn đề này. Khi nào
vấn đề tôn giáo được giải quyết tốt, khi đó khối đại đoàn kết dân tộc mới
được củng cố vững chắc.
Thực hiện phương châm: “Tín ngưỡng tự do, lương - giáo đoàn kết”.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng CSVN và Chủ tịch Hồ Chí
Minh luôn luôn tôn trọng bình đẳng các tôn giáo và quyền tự do tín ngưỡng,
giáo, các lực lượng cách mạng vào sự nghiệp chung của dân tộc. Nội dung
tư tưởng của Người mang tính chất toàn diện, điều được thể hiện ở trong tất
cả các lĩnh vực, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Người nói: “Phải đoàn
kết chặt chẽ giữa đồng bào Lương và đồng bào Giáo, cùng nhau xây dựng
đời sống hòa thuận ấm no, xây dựng Tổ quốc”. Trọng tâm tư tưởng của Hồ
Chí Minh là đoàn kết tất cả các tôn giáo, giữa người theo đạo và người
không theo đạo. Cơ sở đoàn kết Lương – giáo theo tư tưởng của Hồ Chí
Minh chính là sự đồng nhất với mục tiêu vì độc lập, tự do của dân tộc.
Người cho rằng: đồng bào Lương hay đồng bào giáo đều là người Việt Nam,
đều là người lao động và sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp lớn, lâu dài.
Để thực hiện đoàn kết tôn giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra các
giải pháp có ý nghĩa lí luận và thực tiễn to lớn là: “Xây dựng hệ thống chính
trị trong vùng đồng bào tôn giáo, làm tốt công tác vận động các chức sắc và
tín đồ tôn giáo, tích cực đấu tranh chống bọn đế quốc, phản động lợi dụng
tôn giáo”. Người luôn chú trọng lãnh đạo và chỉ đạo việc xây dựng và phát
huy vai trò của Tổ chức Đảng các cấp, các hệ thống chính quyền, của Mặt
trận dân tộc thống nhất và các đoàn thể quần chúng khác ở các địa phương,
nhất là vùng có đông đồng bào theo đạo. Người đặc biệt chú ý tới công tác
phát triển Đảng ở các tín đồ tôn giáo, điều này rất quan trọng trong việc tăng
cường mối liên hệ giữa Đảng với đồng bào tôn giáo. Khi trả lời câu hỏi
“người công giáo có thể vào Đảng được không?”. Chủ tịch Hồ Chí Minh
nói: “Có”. Người công giáo nào cũng vào được, miễn là trung thành, hăng
hái làm nhiệm vụ, giữ đúng kỷ luật của Đảng. Nước ta kinh tế lạc hậu, kỹ
thuật kém, tôn giáo là duy tâm, cộng sản là duy vật, nhưng trong điều kiện
hiện tại, người theo đạo vẫn vào Đảng được”.
Trang 20
Ngoài ra, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đặc biệt quan tâm đến vấn đề
Trang 21
Trong tư tưởng của Người, nhân đạo, nhân văn là điểm mấu chốt, là
xuất phát điểm cấu thành đại đoàn kết dân tộc. Chỉ thực hiện đoàn kết được
khi có lòng nhân đạo, bao dung, vì lợi ích của Tổ quốc mà gác lại mọi lợi
ích cục bộ, bản vị, hẹp hòi. Với lòng bao dung đó, tháng 4 năm 1955, Người
nhắn nhủ đồng bào công giáo đã đi vào Nam: những người muốn đi thì
Chính phủ để tự do đi, nhưng nay gặp tai nạn, chắc nhiều người muốn trở
về. Vậy tôi thay mặt Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa an ủi và nhắn
nhủ đồng bào ấy, để được yên ổn thờ Chúa và làm ăn, nhân dân và Chính
phủ sẵn sàng hoan nghênh và giúp đỡ. Đó chính là sự tôn trọng ý nguyện
của đồng bào công giáo, dù họ nhất thời bị kẻ xấu lợi dung, xúi giục dưới
chiêu bài Chúa đã vào Nam.
Trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, với mọi tôn giáo, Chủ tịch
Hồ Chí Minh luôn thể hiện sự tôn trọng và thực hiện bình đẳng tôn giáo.
Người khẳng định: Năm ngón tay có ngón dài, ngón ngắn. Nhưng ngắn dài
đều hợp nhau lại nơi bàn tay. Ta phải nhận ra rằng đã là con Hồng cháu Lạc
thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc.
Thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin, Bác Hồ là người am hiểu kinh
thánh, kinh phật và vận dụng những điều răn dạy của Chúa, của Phật vào
thực hiện đoàn kết dân tộc. Trong thư gửi đại biểu đồng bào theo đạo Thiên
Chúa toàn miền Bắc, Người viết: Kinh thánh có câu: Ý dân là ý Chúa. Con
đường yêu nước mà đồng bào đang đi là hoàn toàn đúng. Tôi mong rằng các
cụ phụ lão, các vị giám mục và linh mục hăng hái khuyến khích tín đồ trong
mọi công việc ích nước, lợi dân. Trong Thư gửi Hội Phật tử Việt Nam tháng
8/1947, Người nêu bậc sức mạnh đoàn kết và những đóng góp của Phật tử
cả nước vào sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc, Người viết: Đức Phật là đại
từ bi, cứu khổ, cứu nạn, muốn cứu chúng sinh ra khỏi khổ nạn, Người phải
hy sinh tranh đấu, diệt lũ ác ma. Nay đồng bào ta đại đoàn kết thì sinh ra của
và phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc. Nhờ vậy cách mạng nước ta đã
đi từ thắng lợi này sang thắng lợi khác.
Đoàn kết tôn giáo và tự do tín ngưỡng là quan điểm cơ bản và cũng là
nội dung chủ yếu của chính sách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta.
Trang 23
Chỉ một ngày sau khi đọc bản tuyên ngôn độc lập, trong Phiên họp đầu tiên
của Chính phủ mới thành lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị Chính phủ
tuyên bố “ tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết”. Từ đó đến nay, quan
điểm ấy của Người đã trở thành định hướng chung cho việc hoạch định và
thực thi chính sách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta trong thời kì
cách mạng.
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, các tôn giáo luôn đồng hành
cùng dân tộc. Trong công cuộc đổi mới đất nước, chính sách tự do tín
ngưỡng và đoàn kết tôn giáo được Ðảng và Nhà nước đặc biệt coi trọng và
được thể hiện qua các văn kiện Đại hội từ năm 1986 đến nay.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (18/12/1986), đây là Đại hội
đánh dấu một bước quan trọng, đề ra đường lối đổi mới toàn diện trong tất
cả các lĩnh vực, trong đó có vấn đề Tôn giáo được Đảng quan tâm. Đảng
khẳng định: Đảng và Nhà nước ta trước sau như một thực hành chính sách
tôn trọng tự do tín ngưỡng. Lãnh đạo và giúp đỡ đồng bào theo tôn giáo
đoàn kết xây dựng cuộc sống mới và hăng hái tham gia bảo vệ Tổ quốc.
Cảnh giác kiên quyết và kịp thời chống lại âm mưu, thủ đoạn của bọn đế
quốc và phản động chia rẽ đồng bào có đạo với đồng bào không có đạo,
giữa đồng bào theo đạo này với đồng bào theo đạo khác.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII (24/6/1991), Đảng đề ra quan
điểm: Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân.
Đảng và Nhà nước ta tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng
của nhân dân, thực hiện bình đẳng, đoàn kết lương giáo giữa các tôn giáo.
khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật.
Hai là, Đảng và Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn
kết toàn dân tộc. Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau; đoàn kết
đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo. Giữ gìn và phát
huy những giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những
người có công với Tổ quốc và nhân dân. Nghiêm cấm sự phân biệt đối xử
với công dân vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo. Đồng thời, nghiêm cấm lợi dụng
tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái pháp luật và
Trang 25