Hoạt động huy động vốn bằng hình thức nhận tiền gửi tiết kiệm của ngân hàng thương mại theo pháp luật việt nam - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BÙI THỊ HUYỀN TRANG

HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN BẰNG HÌNH THỨC
NHẬN TIỀN GỬI TIẾT KIỆM CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Chuyên ngành: LUẬT KINH TẾ
Mã số

: 60380107

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN VĂN TUYẾN

HÀ NỘI - 2013


CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng
tôi. Các số liệu và trích dẫn trong luận văn là trung thực. Các kết quả nghiên
cứu của luận văn không trùng với bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.

Tác giả luận văn


MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ................................................................................... 29
2.1. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HUY ĐỘNG VỐN BẰNG HÌNH
THỨC NHẬN TIỀN GỬI TIẾT KIỆM CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI .................................................................................................................... 29
2.1.1. Thực trạng quy định về chủ thể tham gia quan hệ nhận tiền gửi tiết
kiệm của ngân hàng thương mại ............................................................. 29
2.1.2. Thực trạng quy định về quyền và nghĩa vụ của chủ thể tham gia
quan hệ nhận tiền gửi tiết kiệm của ngân hàng thương mại ..................... 32
2.1.3. Thực trạng quy định về thủ tục nhận tiền gửi tiết kiệm của ngân
hàng thương mại ..................................................................................... 38
2.1.4. Thực trạng quy định về lãi suất trong hoạt động huy động vốn bằng
hình thức nhận tiền gửi tiết kiệm của ngân hàng thương mại .................. 39


2.1.5. Thực trạng quy định về bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền trong
hoạt động nhận tiền gửi tiết kiệm của ngân hàng thương mại ................. 49
2.2. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
NHẬN TIỀN GỬI TIẾT KIỆM CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ....... 56
2.2.1. Thống nhất quy định theo hướng mở rộng phạm vi chủ thể được
phép gửi tiền gửi tiết kiệm ...................................................................... 56
2.2.2. Bổ sung và hoàn thiện quy định về hình thức tiền gửi tiết kiệm .... 58
2.2.3. Hoàn thiện các quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham
gia quan hệ nhận tiền gửi tiết kiệm ......................................................... 60
2.2.4. Hoàn thiện các quy định về lãi suất ............................................... 62
2.2.5. Bổ sung, hoàn thiện các quy định về bảo hiểm tiền gửi ................. 64
KẾT LUẬN ................................................................................................... 69







2

Việc nghiên cứu, tìm hiểu quá trình huy động tiền gửi tiết kiệm, tìm hiểu
quá trình kinh doanh để có những phương án huy động tiền gửi tiết kiệm linh
hoạt, mang tính cạnh tranh là hết sức cần thiết.
Hệ thống pháp luật hiện hành về lĩnh vực huy động vốn bằng hình thức
nhận tiền gửi tiết kiệm được ban hành khá đầy đủ tuy nhiên những quy định
này còn tồn tại những mâu thuẫn, chồng chéo, điều này ảnh hưởng đến tâm lý
của các chủ thể có tiền nhàn rỗi, ảnh hưởng đến hiệu quả huy động vốn của các
NHTM.
Ngoài ra, hội nhập thế giới trong lĩnh vực kinh tế nói chung và trong lĩnh
vực ngân hàng nói riêng là rất cần thiết. Vì vậy, để đáp ứng nhu cầu đó thì cần
phải có những thay đổi để tạo được sự tương thích cũng như phù hợp với pháp
luật quốc tế, tập quán và chuẩn mực quốc tế. Do đó, pháp luật về huy động vốn
nói chung và pháp luật điều chỉnh hoạt động huy động vốn bằng hình thức
nhận tiền gửi tiết kiệm nói riêng cần có những thay đổi kịp thời, đáp ứng nhu
cầu thực tiễn.
Vì những lý do trên, việc nghiên cứu những quy định của pháp luật hiện
hành điều chỉnh hoạt động nhận tiền gửi tiết kiệm của NHTM để từ đó chỉ ra
những hạn chế và đưa ra những phương hướng hoàn thiện pháp luật trong lĩnh
vực này là một yêu cầu khách quan, có ý nghĩa cả về mặt khoa học và thực
tiễn. Bởi vậy, học viên đã chọn đề tài “Hoạt động huy động vốn bằng hình
thức nhận tiền gửi tiết kiệm của ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt
Nam” làm luận văn tốt nghiệp Cao học Luật tại Trường Đại học Luật Hà Nội.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ trước tới nay, dưới góc độ nghiên cứu pháp luật, một số khóa luận tốt
nghiệp ở bậc đại học đã đề cập đến vấn đề này, tiêu biểu: “Pháp luật về huy
động vốn bằng nhận tiền gửi của các tổ chức tín dụng thực trạng và hướng

- Một số vấn đề lý luận về huy động vốn bằng hình thức nhận tiền gửi tiết
kiệm của NHTM và pháp luật điều chỉnh hoạt động huy động vốn bằng hình
thức nhận tiền gửi tiết kiệm của NHTM


4

- Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật trong hoạt động huy
động vốn bằng hình thức nhận tiền gửi tiết kiệm của NHTM
- Giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về huy động vốn bằng hình thức
nhận tiền gửi tiết kiệm nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn của các NHTM.
b. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật điều chỉnh
hoạt động huy động vốn bằng hình thức nhận tiền gửi tiết kiệm của các NHTM
ở Việt Nam thông qua việc phân tích, đánh giá pháp luật thực định và thực tiễn
thi hành lĩnh vực pháp luật này, từ đó để đưa ra những phương hướng và giải
pháp cụ thể để hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động huy động vốn bằng
hình thức nhận tiền gửi tiết kiệm của các NHTM ở Việt Nam.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Đề tài được nghiên cứu và thực hiện dựa trên phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Bên cạnh đó, luận văn
còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khác như: phương pháp tổng
hợp, so sánh, phân tích, thống kê các số liệu thực tế…
5. Mục đích, nhiệm cụ của việc nghiên cứu đề tài
- Nghiên cứu, làm rõ một số vấn đề lý luận về hoạt động huy động vốn
bằng hình thức nhận tiền gửi tiết kiệm và pháp luật huy động vốn bằng hình
thức nhận tiền gửi tiết kiệm của NHTM ở Việt Nam.
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật
trong lĩnh vực huy động vốn bằng hình thức nhận tiền gửi tiết kiệm của các
NHTM ở Việt Nam.

- Chương II: Thực trạng pháp luật về huy động vốn bằng hình thức nhận
tiền gửi tiết kiệm của Ngân hàng thương mại và một số kiến nghị.


6

Chương I:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG VỐN BẰNG HÌNH
THỨC NHẬN TIỀN GỬI TIẾT KIỆM CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI VÀ MÔ HÌNH PHÁP LUẬT VỀ NHẬN TIỀN GỬI TIẾT KIỆM
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG VỐN BẰNG HÌNH
THỨC NHẬN TIỀN GỬI TIẾT KIỆM CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1.1.Bảnchấtcủahoạtđộnghuyđộngvốnbằnghìnhthứcnhậntiền
gửitiếtkiệmcủangânhàngthươngmại
1.1.1.1. Quan niệm về ngân hàng thương mại và các hoạt động chính
của ngân hàng thương mại
Quan niệm về ngân hàng thương mại
Có nhiều cách hiểu, cách tiếp cận khác nhau về khái niệm NHTM trong
hệ thống pháp luật thực định ở các nước. Tuy nhiên, các quan niệm, cách tiếp
cận này đều có một điểm chung, đó là đều dựa vào chức năng và mục đích
hoạt động của NHTM để đưa ra định nghĩa về NHTM. Cụ thể là:
Ở Mỹ: Luật ngân hàng thương mại Mỹ thừa nhận NHTM là một công ty
kinh doanh chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công
nghiệp dịch vụ tài chính.
Ở Pháp: Theo Luật Ngân hàng của Pháp năm 1941 định nghĩa: NHTM là
những xí nghiệp hay cơ sở thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức
ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ
chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính.

động vốn của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước. NHTM phát hành
các giấy tờ có giá như kỳ phiếu ngân hàng, trái phiếu ngân hàng, chứng chỉ
tiền gửi ngân hàng… cho các đối tượng khách hàng là tổ chức, cá nhân.
- Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác.
- Vay vốn ngắn hạn của Ngân hàng trung ương.
Thực tế cho thấy, vốn huy động từ tổ chức, cá nhân là nguồn vốn chủ yếu
và chiếm tỷ trọng lớn (trên 80%) trong tổng nguồn vốn kinh doanh của ngân
hàng thương mại. Sở dĩ như vậy là bởi vì, do bản chất của NHTM là một định
chế tài chính trung gian nên muốn thực hiện được vai trò, chức năng của định
chế tài chính trung gian thì NHTM bắt buộc phải sử dụng nguồn vốn huy động
(vốn vay) của khách hàng là chủ yếu để cấp tín dụng cho khách hàng khác trên


8

thị trường vì mục tiêu lợi nhuận. Cũng chính vì sử dụng nguồn vốn vay là chủ
yếu để kinh doanh nên hoạt động kinh doanh của NHTM thường được đánh
giá là có độ rủi ro rất cao, dù rằng hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh của
NHTM luôn được đánh giá là rất đáng kể.
Thứ hai, hoạt động cấp tín dụng.
Trên cơ sở nguồn vốn huy động, NHTM được quyền cấp tín dụng cho
khách hàng là tổ chức, cá nhân dưới hình thức cho vay, chiết khấu giấy tờ có
giá, bảo lãnh, cho thuê tài chính, bao thanh toán và các hình thức tín dụng khác
theo quy định của pháp luật.
Theo thông lệ, NHTM được cấp tín dụng cho khách hàng thông qua các
hình thức chủ yếu sau đây:
- Cho vay có bảo đảm và không có bảo đảm đối với khách hàng. Việc cho
vay được thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn
của khách hàng là tổ chức, cá nhân. Trong các hoạt động cấp tín dụng, cho vay
luôn được xem là hoạt động quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn nhất. Hình thức

NHTM thường bao gồm những nội dung chính như:
- Cung cấp các phương tiện thanh toán;
- Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng;
- Thực hiện dịch vụ thu hộ và chi hộ;
- Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước và quốc tế theo yêu cầu
của khách hàng.
Ngoài các hoạt động chính nêu trên với tính cách là hoạt động ngân hàng,
NHTM còn có thể thực hiện thêm một số hoạt động khác như:
(i) Góp vốn và mua cổ phần của các doanh nghiệp khác trên cơ sở nguồn
vốn điều lệ và quỹ dự trữ của NHTM;
(ii) Tham gia thị trường tiền tệ thông qua các hình thức mua bán các công
cụ của thị trường tiền tệ;
(iii) Kinh doanh ngoại hối trên thị trường ngoại hối trong nước và thị
trường ngoại hối quốc tế;
(iv) Uỷ thác và nhận uỷ thác làm các dịch vụ ngân hàng cho các tổ chức
tín dụng khác theo hợp đồng uỷ thác, đại lý;
(v) Cung ứng dịch vụ bảo hiểm trên cơ sở thành lập các công ty bảo hiểm
độc lập;
(vi) Tư vấn tài chính, tiền tệ và đầu tư…


10

Từ các phân tích trên đây về ngân hàng thương mại và các hoạt động
chính của NHTM, có thể rút ra kết luận rằng: nói đến NHTM là nói đến hoạt
động huy động vốn một cách thường xuyên, chuyên nghiệp và dùng chính
nguồn vốn đó để thực hiện cấp tín dụng trên thị trường vì mục tiêu lợi nhuận.
Trong số các hình thức huy động vốn của NHTM, việc huy động vốn bằng
hình thức nhận tiền gửi tiết kiệm luôn có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng.
Phần phân tích dưới đây sẽ cho thấy rõ hơn bản chất của hoạt động huy

Với cách định nghĩa trên đây, các nhà làm luật Việt Nam đã mặc nhiên ấn
định rằng tiền gửi tiết kiệm chỉ dành cho chủ thể là cá nhân, không bao gồm
các hộ gia đình và các tổ chức, hiệp hội, đoàn thể. Quan niệm này có vẻ chưa
thật sự hợp lý và chưa phù hợp với thông lệ quốc tế, bởi vì: Thứ nhất, tuy có
tính chất là một khoản tiết kiệm của người gửi tiền nhưng thực tế cho thấy
không phải chỉ các chủ thể là cá nhân mới có nhu cầu này mà nhiều khi các
chủ thể khác như hộ gia đình, tổ chức, hiệp hội, đoàn thể hay thậm chí là các
doanh nghiệp cũng có nhu cầu này. Vì vậy, khó có căn cứ thuyết phục để cho
rằng tiền gửi tiết kiệm là phương thức chỉ dành cho chủ thể là cá nhân. Thứ
hai, theo thông lệ quốc tế, nhiều quốc gia chấp nhận quyền gửi tiết kiệm của
các chủ thể không phải là cá nhân như hộ gia đình, các doanh nghiệp và cho
phép NHTM được nhận tiền gửi tiết kiệm của các tổ chức này, ngoài đối tượng
khách hàng gửi tiền phổ biến là cá nhân. Sở dĩ như vậy là bởi vì, bản chất của
tiền gửi tiết kiệm là một khoản đầu tư ngày hôm nay để có được một khoản
tiền lớn hơn trong tương lai (bao gồm phần gốc là số tiền gửi ban đầu và khoản
tiền lãi) và về nguyên tắc, mục đích đầu tư và quyền đầu tư vốn dĩ không phải
chỉ dành cho chủ thể là cá nhân.
Thực tiễn hoạt động nhận tiền gửi tiết kiệm của NHTM cho thấy, các hình
thức tiết kiệm là rất đa dạng và ngày càng phát triển do sự nỗ lực sáng tạo của
chính NHTM trong việc thiết kế các sản phẩm tiền gửi tiết kiệm nhằm đáp ứng
nhu cầu huy động vốn của mình và đồng thời cũng đáp ứng nhu cầu đầu tư của
khách hàng gửi tiền. Trong danh mục sản phẩm TGTK do các NHTM thiết kế
và cung cấp trên thị trường thì hình thức phổ biến nhất là loại tiền gửi tiết kiệm
có sổ. Với sản phẩm này, khi gửi tiền ngân hàng sẽ cấp cho người gửi tiền một
cuốn sổ dùng để ghi nhận các khoản tiền gửi vào và rút ra. Quyển sổ này đồng
thời có giá trị như một chứng thư xác nhận về khoản tiền đã gửi. Ngoài ra, còn
có những hình thức TGTK khác như chứng chỉ tiết kiệm (savings certificate),
trái phiếu tiết kiệm (savings bonds).
Nhìn chung, tiền gửi tiết kiệm là loại tiền gửi chỉ dành cho mục đích đầu
tư kiếm lời của người gửi tiền chứ không phải để thực hiện nhu cầu thanh toán

chỉ có thể rút tiền khỏi NHTM sau một thời hạn nhất định theo thỏa thuận (1
tháng, 2 tháng, 3 tháng, 6 tháng…) và được trả mức lãi tương ứng với mỗi loại
thời hạn gửi tiền. Tuy nhiên, trong thực tế các NHTM thường chấp nhận cho
phép khách hàng được rút vốn trước thời hạn đã thỏa thuận để đáp ứng nhu cầu
bất thường của họ, nhưng có thể phải thông báo trước cho ngân hàng và chấp
nhận bị phạt vi phạm hợp đồng bằng chế tài thông dụng là chỉ được hưởng lãi


13

suất không kỳ hạn hoặc thậm chí không được trả lãi cho số tiền gửi đã rút
trước hạn cam kết.
Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là hình thức tiền gửi theo đó người gửi
tiền có thể rút vốn khỏi NHTM bất kỳ lúc nào trong thời gian giao dịch của
ngân hàng mà không cần phải thông báo trước cho ngân hàng. Tiền gửi tiết
kiệm không kì hạn khác với tiền gửi thanh toán ở chỗ, khách hàng gửi tiền gửi
tiết kiệm không kì hạn chỉ nhằm mục đích đầu tư để hưởng lãi chứ hoàn toàn
không có mục đích sử dụng các dịch vụ thanh toán của ngân hàng (vốn dĩ là
mục đích chính của khách hàng mở tài khoản tiền gửi thanh toán). Mặt khác,
tài khoản tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn không được sử dụng để phát hành
séc và thực hiện các công cụ dịch vụ thanh toán bằng các công cụ thanh toán
không dùng tiền mặt để chi trả cho người khác, trừ trường hợp tài khoản tiền
gửi tiết kiệm bằng đồng Việt Nam của người cư trú được sử dụng để chuyển
khoản thanh toán tiền vay của chính chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm hoặc đồng
chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm tại tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm đó; hoặc
chuyển khoản sang tài khoản khác do chính chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm hoặc
đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm là chủ tài khoản tại tổ chức nhận tiền gửi
tiết kiệm đó.
Khái niệm huy động vốn bằng hình thức nhận tiền gửi tiết kiệm và
các đặc trưng của nó

cá nhân, mà còn là nhu cầu của các chủ thể khác như hộ gia đình, các tổ chức,
đoàn thể, hiệp hội và doanh nghiệp.
Hai là, về mục đích tham gia giao dịch. Người gửi tiền luôn hướng đến
mục đích đầu tư để hưởng lãi chứ không nhằm mục tiêu sử dụng các dịch vụ
thanh toán hay các dịch vụ tiện ích khác của ngân hàng. Đây là đặc trưng cơ
bản nhất để phân biệt tiền gửi tiết kiệm với các hình thức tiền gửi khác như
tiền gửi thanh toán, chứng chỉ tiền gửi ngân hàng hay trái phiếu ngân hàng.
Ba là, về thủ tục xác lập và thực hiện giao dịch. Việc huy động tiền gửi
tiết kiệm thường được thực hiện với thủ tục đơn giản, nhanh chóng, thuận tiện,
ít tốn kém cho khách hàng gửi tiền. Đặc trưng này phản ánh lợi thế của hình
thức nhận tiền gửi tiết kiệm so với các hình thức nhận tiền gửi khác do NHTM
thực hiện trong quá trình huy động vốn kinh doanh.
1.1.2.Ýnghĩa,vaitròcủahoạtđộnghuyđộngvốnbằnghìnhthức
nhậntiềngửitiếtkiệmcủangânhàngthươngmại
Nhận tiền gửi là phương thức không thể thiếu trong hoạt động huy động
vốn của NHTM nói riêng và của ngân hàng nói chung. Các phân tích và luận


15

giải dưới đây sẽ cho thấy rõ hơn vai trò thực sự của hoạt động nhận tiền gửi
trong quá trình kinh doanh của NHTM, bởi vì việc phát triển các hình thức huy
động tiền gửi không những đem lại lợi ích cho các NHTM, mà còn cho cả toàn
bộ nền kinh tế, liên quan mật thiết với quyền lợi của người gửi tiền và những
người cần tiền.
Đối với ngân hàng thương mại
Đối với NHTM, việc huy động tiền gửi tiết kiệm có những tác dụng cơ
bản sau đây:
Thứ nhất, vốn là cơ sở để ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh.
Để bước vào hoạt động kinh doanh thì đầu tiên ngân hàng phải cần có

khi giao thiệp với ngân hàng. Trong nên kinh tế bất ổn hiện nay, khả năng
thanh toán luôn được các ngân hàng ưu tiên hàng đầu và để được như vậy thì
các ngân hàng luôn tìm cách huy động được nhiều vốn hơn
Thứ tư, vốn quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng. Trong thời đại
kinh tế cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, vốn là điều kiện để các ngân hàng
tham gia cạnh tranh. Nó giúp cho ngân hàng mở rộng quy mô hoạt động, tăng
cường quan hệ với các đối tác. Đồng thời nó lôi kéo khách hàng mới, giữ chân
các khách hàng truyền thống. Doanh số của ngân hàng tăng lên đồng thời làm
tăng nguồn vốn của ngân hàng. Vốn của ngân hàng lớn giúp cho ngân hàng có
khả năng tài chính dồi dào để cạnh tranh với các ngân hàng khác: hạ lãi suất,
linh hoạt về thời hạn tín dụng, hình thức trả lãi... Các dịch vụ ngân hàng sẽ
ngày càng được cải tiến, phát triển và được thực hiện tốt hơn
Huy động tiền gửi của NHTM được sử dụng để bổ sung lượng vốn cho
nền kinh tế, nâng cao mức sống cho người dân thay vì sử dụng nguồn vốn đó
vào việc chi tiêu khác. Nhờ việc tiết kiệm chi tiêu đã tăng cường các hoạt động
sản xuất kinh doanh, tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động, tạo điều
kiện cho các tổ chức kinh tế có thể tiếp cận với các nguồn vốn ngân hàng thúc
đẩy kinh tế phát triển. Thông qua việc huy động tiền sẽ góp phần phát triển tài
khoản tiền gửi thanh toán cá nhân, từ đó phát triển các hình thức thanh toán
không dùng tiền mặt, tiết kiệm chi phí phát hành và lưu thông tiền mặt trong
nền kinh tế.
Như vậy, hoạt động huy động tiền gửi của NHTM mang lại lợi ích cho cả
ngân hàng, các tầng lớp dân cư và nền kinh tế.
Đối với người gửi tiền
Hình thức nhận tiền gửi tiết kiệm của NHTM tạo ra những lợi ích quan
trọng đối với người gửi tiền. Cụ thể là:


17


trước hết sẽ giúp cho họ những khoản tiền lãi hay có được các dịch vụ thanh


18

toán đồng thời các khoản tiền không bị chết, luôn được vận động, quay vòng.
Đối với những người cần vốn: Họ sẽ có cơ hội mở rộng đầu tư, phát triển
sản xuất kinh doanh từ chính nguồn vốn huy động của ngân hàng.
Việc huy động vốn của ngân hàng giúp cho nền kinh tế có được sự cân
đối về vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Các cơ hội đầu tư luôn có điều
kiện để thực hiện. Quá trình tái sản xuất mở rộng sẽ được thực hiện dễ dàng
hơn với việc huy động vốn của các ngân hàng thương mại. Tuy việc huy động
vốn có thể thực hiện bằng nhiều kênh: thị trường chứng khoán, ngân sách nhà
nước... nhưng trong điều kiện nước ta hiện nay thì huy động vốn qua các ngân
hàng thương mại vẫn là hình thức chủ yếu và quan trọng nhất.
1.1.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn bằng hình
thức nhận tiền gửi tiết kiệm của ngân hàng thương mại
Ở mức độ khái quát, có thể hình dung hoạt động uy động vốn bằng hình
thức nhận tiền gửi tiết kiệm của NHTM chịu sự tác động của các yếu tố cơ bản
sau đây:
Chiến lược kinh doanh của ngân hàng
Chiến lược kinh doanh có thể nói là đường lối, phương hướng hoạt động
cho một ngân hàng. Mỗi ngân hàng có một chiến lược kinh doanh khác nhau.
Điều này phụ thuộc vào từng điểm mạnh, điểm yếu, khả năng cũng như hạn
chế của ngân hàng. Chiến lược kinh doanh xác định quy mô huy động có thể
mở rộng hay thu hẹp, cơ cấu vốn có thể thay đổi về tỷ lệ các loại nguồn, chi
phí hoạt động có thể tăng hay giảm.
Chiến lược kinh doanh có liên quan đến huy động vốn bao gồm: Chính
sách về giá cả, lãi suất tiền gửi, tỷ lệ hoa hồng và phí dịch vụ. Đây là các yếu
tố quan trọng. Với việc lãi suất huy động tăng thì sẽ dẫn đến nguồn vốn vào

thức bảo hiểm tiền gửi làm tăng độ an toàn, tăng uy tín của ngân hàng. Một
điều quan trọng ở nước ta là hình thức sở hữu cũng có ảnh hưởng quan trọng
tới huy động vốn. Các ngân hàng quốc doanh bao giờ cũng có độ an toàn cao
hơn cho người gửi tiền, uy tín của các ngân hàng thương mại quốc doanh cao
hơn so với các ngân hàng khác. Những ngân hàng có uy tín luôn chiếm được
lòng tin của khách hàng là tiền đề cho việc họ huy động được những nguồn
vốn lớn hơn với chi phí rẻ hơn và tiết kiệm được thời gian.
Trình độ công nghệ của ngân hàng
Có thể nói công nghệ ngân hàng hiện đại khác xa so với trước đây. Việc
áp dụng máy tính là một cuộc cách mạng trong hoạt động của ngân hàng. Nhờ


20

có hệ thống tin học hiện đại, ngân hàng có thể thu thập thông tin về khách
hàng, về thị trường tốt. Từ đó, có thể hoạch định ra các hình thức huy động,
thời gian huy động, hình thức trả lãi... Mặt khác, nhờ hệ thống thông tin tốt
khiến cho ngân hàng có thể nâng cao hiệu quả huy động vốn.
Các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng trở nên phổ
biến, đó là một xu thế tất yếu. Việc thanh toán không dùng tiền mặt sẽ khiến
cho các ngân hàng ngày càng gắn liền với các hoạt động xã hội. Ngoài ra mạng
lưới phục vụ cho việc huy động vốn cũng tác động tới việc huy động vốn của
ngân hàng. Mạng lưới huy động rộng rãi, tạo điều kiện cho người gửi tiền.
Mạng lưới hẹp thì sẽ gây khó khăn cho khách hàng có tiền nhàn rỗi gửi vào
ngân hàng, chi phí giao dịch lớn, mất nhiều thời gian.
Nhìn chung có rất nhiều những yếu tố ảnh hưởng đến việc huy động vốn
của ngân hàng. Các yếu tố này tác động đến mọi hoạt động, ảnh hưởng đến kết
quả kinh doanh của ngân hàng. Mỗi ngân hàng khi hoạt động đều cần phải tiến
hành nghiên cứu, tìm hiểu. Những yếu tố tác động này có tính hai mặt: có thể
có tác động tích cực đồng thời có thể tác động tiêu cực tới ngân hàng. Ngân

định cho người lao động và do đó người dân sẽ có phần tiết kiệm gửi vào ngân
hàng.
- Chính sách về lãi suất: Nếu NHTW đưa ra một mức lãi suất cùng với
biên độ biến động phù hợp với tình hình thực tế thì các NHTM trên cơ sở đó sẽ
đưa ra mức lãi suất linh hoạt hấp dẫn thu hút nhiều khách hàng hơn.
- Chính sách tiết kiệm: Nếu Nhà nước khuyến khích các đơn vị kinh tế và
các dân cư thực hiện tiết kiệm tránh lãng phí để dùng vốn nhãn rỗi đầu tư phát
triển kinh tế thì hoạt động huy động vốn bằng nhận tiết kiệm của NHTM sẽ dễ
dàng, thuận lợi hơn.
- Chính sách thuế: Chính sách thuế ảnh hương trực tiếp đến thu nhập và
tiết kiệm của dân cư, tổ chức kinh tế. Vì vậy ảnh hưởng đến việc gửi tiền vào
ngân hàng của các đối tượng này.
- Chính sách đầu tư: Chính phủ cần có chính sách khuyến khích đầu tư,
mở rộng sản xuất kinh doanh tạo điền kiện để kinh tế phát triển, tạo điền kiện
cho hoạt động thu hút vốn của các ngân hàng cho đầu tư phát triển kinh tế.
Tình hình chính trị – kinh tế – xã hội trong và ngoài nước
Có thể nói đây là yếu tố khách quan đối với tất cả các hoạt động kinh tế,
không riêng gì hoạt động ngân hàng. Sự ổn định chính trị cả trong và ngoài
nước có tác động rất rõ. Các cuộc bãi công, biểu tình, sụp đổ chính phủ luôn
kéo theo tình trạng huy động vốn của ngân hàng bị trì trệ bởi người dân không



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status