SUY NGHĨ CỦA ANH (CHỊ) VỀ NGÔN NGỮ BÁO CHÍ TIẾNG VIỆT HIỆN NAY - Pdf 48

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BÀI CUỐI KHÓA
Đề tài:

SUY NGHĨ CỦA ANH (CHỊ) VỀ
NGÔN NGỮ BÁO CHÍ TIẾNG VIỆT
HIỆN NAY
GVHD: PGS.TS. LÊ KHẮC CƯỜNG
SVTH: TRƯƠNG THỊ LY LY
LỚP: NGHIỆP VỤ BÁO CHÍ K18

TP.HCM, ngày 06 tháng 06 năm 2015


Câu hỏi: Hãy nêu suy nghĩ của anh chị về ngôn ngữ báo chí tiếng Việt
hiện nay.
Bài làm
Xã hội ngày càng phát triển , đất nước càng hội nhập với thế giới thì
thông tin trên các phương tiện truyền thông và báo chí càng trở nên hết sức cần
thiết và ngày càng gắn bó với đời sống các tầng lớp người trong xã hội. Hơn lúc
nào hết, báo chí ngày nay đang trở thành một phương tiện cung cấp thông tin
hiệu quả nhất và đồng thời là diễn đàn của nhân dân. Cùng với sự hội nhập ngày
càng sâu của đất nước trên nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội, báo chí nước ta đã
không ngừng đổi mới để phản ánh kịp thời quá trình phát triển và hội nhập ấy.
Tiếng Việt là một sinh ngữ đang không ngừng phát triển, và ngôn ngữ trên báo
chí cũng không nằm ngoài quy luật ấy để góp phần không nhỏ vào sự phát triển
của tiếng Việt hiện đại.Tuy nhiên,hiện nay do nhiều nguyên nhân khác nhau mà
nhiều nhà báo chỉ chú trọng nội dung chứ chưa chú ý đúng mức đến hình thức

thường ngại viết đầy đủ nên viết tắt cho nhanh, ví dụ: Vệ sinh an toàn thực
phẩm viết luôn là VSATTP, đảm bảo trật tự an toàn giao thông thì viết
BĐTTATGT, trung tâm y tế dự phòng thì viết TTYTDP. Có lần, cả ba, bốn
biên tập viên ở Tòa soạn chụm đầu vào một bản thảo luận các chữ cái
ATVSLĐPCCN nghĩa là gì? Mãi mới đoán ra là an toàn vệ sinh lao động –
phòng chống cháy nổ.
-

Sự du nhập của tiếng nước ngoài vào tiếng Việt (đặc biệt là tiếng Anh)

vào cách thể hiện ngôn ngữ của nhà báo nói chung. Quá trình diễn ra sự du nhập
này xảy ra trên hai bình diện đó là bình diện từ vựng và bình diện ngữ pháp.
Ngoài ra, hiện trạng này xảy ra trong các báo văn hóa thể thao mà cả báo kinh tế
khoa học cũng xuất hiện với tần số dày đặc. Sự đa dạng và phong phú này bao
gồm từ ngữ không viết tắt, từ ngữ viết tắt và tên riêng.
Ví dụ: Exchange market  thị trường hối đoái
“Tổng thư ký OPEC cảnh báo: Giá dầu còn tăng cao.”
[Báo Tuổi Trẻ, 21/4/2008]
“Vinasun hiện đang chiếm khoảng 40% thị phần taxi TP HCM.”
[Báo Kinh Tế và Đô Thị,2/4/2007]
Cách đặt tên tắt này đang rất được thịnh hành ở nước ta và được đông đảo
mọi người chấp nhận như một biểu hiện tích cực của tiến trình hội nhập kinh tế
quốc trong giai đoạn hiện nay. Nó gắn liền với những chuyển biến trong xã hội:
Một môi trường xã hội mới sẽ tạo ra một môi trường ngôn ngữ mới trong đó


diễn ra quá trình tiếp xúc, tương tác tạo mới giữa những yếu tố bản ngữ và
ngoại lai.
Đáng chú ý, trong các tờ báo văn hóa, nhất là tờ Hoa Học Trò thì hình
như trong từng câu, từng chữ đều có các từ tiếng Anh. Ví dụ:

khá quan trọng, đáp ứng nhu cầu biểu hiện đa dạng, phục vụ hoạt động giao tiếp
của người Việt. Còn mặt hại thì sao? việc du nhập vô nguyên tắc các từ ngữ
nước ngoài đang làm cho tiếng Việt trở nên rối rắm, khó hiểu và kì lạ. Đã đến
lúc cần phải có một chính sách ngôn ngữ hợp lí để dọn dẹp những rác rưởi mà
các cá nhân đã tạo ra do thái độ vô trách nhiệm đối với ngôn ngữ dân tộc.
-

Lạm dụng và dùng sai nghĩa từ Hán Việt gây khó hiểu cho độc giả.Người

ta lạm dụng từ Hán- Việt không cần thiết. Phổ biến hiện nay là nói “phi trường,
phi hành đoàn, hải ngoại, hi hữu…” thay cho những từ thuần Việt dễ hiểu “sân
bay, đội bay, nước ngoài, hiếm có…”. Dùng từ sai do không hiểu nghĩa của từ.
Trong chương trình thời sự của Đài Truyền hình Trung ương và địa phương tối
ngày 31-8-2009 không dưới 5 lần các phát thanh viên đã đọc sai “khuyến mãi”
thành “khuyến mại”. Trong tiếng Hán “mãi” nghĩa là “mua” và “mại” là “bán”.
Như vậy, khi muốn bán được nhiều thứ hàng hóa nào đấy người ta hạ giá, tặng
kèm sản phẩm khác thì phải nói là “khuyến mãi”. Tương tự, sau đây là một số
từ được dùng sai phổ biến:
“Trạm xá”- “trạm” và “xá” có cùng một nghĩa là “nơi ở tạm” chưa có nghĩa là
nơi khám và chữa bệnh. Cần nói “bệnh viện, bệnh xá, trạm y tế”
 “Mãn tính” (Vd: Viêm xoang là một bệnh mãn tính). “Mãn” là tràn đầy;
“mạn” là chậm. Cần nói những bệnh phát triển chậm, lâu là bệnh “mạn tính”.


“Cứu cánh”: Nhiều người hiện nay dùng từ này với nghĩa là “phương pháp tối
ưu, duy nhất” nhưng “cứu cánh” có nghĩa hoàn toàn khác: “Kết quả, cuối cùng”
Thiết nghĩ cần dùng từ phải dễ hiểu, thay từ khó hiểu bằng từ dễ hiểu. Tiếng
Việt có rất nhiều từ thể hiện được nghĩa tương đương, hà cớ gì dùng từ mà ta
không hiểu sâu về nó.
-


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status