Mục đích và ý nghĩa của việc đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Thực trạng xâm phạm quyền SHCN của các chủ thể kinh doanh hiện nay - Pdf 48

ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

LUẬT KINH TẾ

VAI TRÒ CỦA HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP. PHÂN
TÍCH NHỮNG HẠN CHẾ, SAI SÓT MÀ CÁC DN
THƯỜNG GẶP TRONG THỰC TẾ HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH CỦA CÁC DN; NGUYÊN NHÂN
VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC

TPHCM, Tháng 4/2013


NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………


MỤC LỤC



2.2.2 Các lỗi thường gặp trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng tín dụng.............33
2.2.3 Các lỗi thường gặp trong quá trình thương thảo, hoàn thiện, ký kết và thực hiện hợp
đồng trong đấu thầu...............................................................................................................39

CHƯƠNG III. NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ TRÁNH NHỮNG HẠN
CHẾ, SAI SÓT TRONG HỢP ĐỒNG MÀ CÁC DOANH NGHIỆP THƯỜNG
GẶP TRONG THỰC TẾ HOẠT ĐỘNG.............................................................45
3.1 Nguyên nhân:.....................................................................................................................45
3.2 Giải pháp.............................................................................................................................46

KẾT LUẬN............................................................................................................56


Tiểu luận luật kinh tế

GVHD: PGS.TS. Bùi Xuân Hải

LỜI MỞ ĐẦU
Hợp đồng là một trong những phương tiện pháp lý chủ yếu để cá nhân, tổ chức thực
hiện các giao kết đã thỏa thuận nhằm đạt được các lợi ích trong cuộc sống và trong hoạt
động kinh doanh. Hợp đồng đóng vai trò quan trọng trong quá trình hoạt động của các
doanh nghiệp cũng như sự vận hành của nền kinh tế. Xã hội ngày càng phát triển, hợp
đồng ngày càng được sử dụng như là một chuẩn mực ứng xử phồ biến giữa tư nhân với
nhau, giữa các tổ chức kinh tế, thậm chí giữa xã hội với nhà nước trong các lĩnh vực dân
sự, kinh doanh, thương mại và nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống.
Tuy nhiên, hiện nay có rất nhiều vụ tranh chấp, kiện cáo xảy ra liên quan đến vấn đề
hợp đồng giữa các doanh nghiệp làm ảnh hưởng đến uy tín, thương hiệu và gây khó khăn
cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Tình trạng này xảy ra là sự thiếu thận

của các bên tham gia quan hệ hợp đồng. Nguyên tắc tự do hợp đồng cho phép các cá
nhân, tổ chức được tự do quyết định việc giao kết hợp đồng với ai, như thế nào, vào thời
điểm nào. Quan hệ hợp đồng này phải diễn ra trong những mối quan hệ xã hội nhất định
và xuất phát tư lợi ích của mỗi bên.
Việc giao kết hợp đồng làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ
pháp lý của các bên trong quan hệ hợp đồng. Tức là, thông qua hợp đồng, các bên xác lập
được đối tượng nghĩa vụ của hợp đồng. Hợp đồng sẽ không có hiệu lực pháp lý đối với
những nghĩa vụ không thể thực hiện được.
Các bên tham gia quan hệ hợp đồng gọi là chủ thể của hợp đồng. Chủ thể của hợp
đồng có thể là cá nhân, pháp nhân hoặc các chủ thể khác.
Trong hợp đồng quyền và nghĩa vụ giữa các bên có tính chất tương ứng, là đặc
trưng cơ bản của nghĩa vụ dân sự. Quyền lợi của bên này chỉ đạt được khi bên kia thực
hiện các hành vi mang tính nghĩa vụ đã được hai bên xác nhận trong hợp đồng hoặc pháp
luật quy định trong nội dung của quan hệ nghĩa vụ ấy. Mục đích của hợp đồng là nhằm
dung hòa và thỏa mãn các lợi ích khác nhau của các bên.
Hợp đồng có thể được thể hiện bằng văn bản hay bằng miệng có thể có người làm
chứng, nếu vi phạm hợp đồng hay không theo cam kết thì 2 bên sẽ cùng nhau ra tòa và
bên thua sẽ chịu mọi phí tổn.
1.1.2 Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng:
Quan hệ hợp đồng muốn có hiệu lực, được pháp luật bảo vệ thì phải tuân theo
những quy định của pháp luật về các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng.

Nhóm 14 lớp đêm 4 khóa 22

Trang 2


Tiểu luận luật kinh tế

GVHD: PGS.TS. Bùi Xuân Hải

một bên bị thiệt hơn so với bên kia thì đó cũng không phải là căn cứ để yêu cầu Tòa án
hủy hợp đồng. Đối với hợp đồng loại này, nguồn luật điều chỉnh ngoài Bộ luật Dân sự
2005 còn có các văn bản pháp luật chuyên ngành tương ứng tưng lĩnh vực.


Theo các lĩnh vực đời sống xã hội:

- Hợp đồng dân sự: là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc
chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.
Nhóm 14 lớp đêm 4 khóa 22

Trang 3


Tiểu luận luật kinh tế

GVHD: PGS.TS. Bùi Xuân Hải

- Hợp đồng lao động: là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao
động về việc làm có trả công, về điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên
trong quan hệ lao động.
- Hợp đồng trong hoạt động thương mại: là sự thỏa thuận giữa các thương nhân
hoặc một bên là thương nhân để thực hiện các hoạt động thương mại.
- Hợp đồng hợp tác kinh doanh: là văn bản ký kết giữa hai bên hoặc nhiều bên là
nhà đầu tư Việt Nam và nước ngoài để tiến hành hoạt động đầu tư ở Việt Nam và nước
ngoài để tiến hành hoạt động đầu tư ở Việt Nam, trong đó quy định trách nhiệm và phân
chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên mà không thành lập pháp nhân mới.
- Hợp đồng liên doanh: là văn bản ký kết giữa bên Việt Nam và bên nước ngoài để
thành lập doanh nghiệp liên doanh tại Việt Nam.
- Các loại hợp đồng khác.


Nhóm 14 lớp đêm 4 khóa 22

Trang 4


Tiểu luận luật kinh tế

GVHD: PGS.TS. Bùi Xuân Hải

- Hợp đồng có đối tượng là dịch vụ: Hợp đồng vận chuyển, hợp đồng bảo hiểm,
hợp đồng ủy quyền, hợp đồng dịch vụ.


Theo tính chất đặc thù của hợp đồng:

- Hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba (Khoản 5 Điều 406 Bộ Luật Dân sự) là hợp
đồng mà các bên giao kết hợp đồng đều phải thực hiện nghĩa vụ và người thứ ba được
hưởng lợi ích tư việc thực hiện nghĩa vụ đó.
- Hợp đồng có điều kiện (Khoản 6 Điều 406 Bộ Luật Dân sự) là hợp đồng mà việc
thực hiện phụ thuộc vào việc phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt một sự kiện nhất định.
- Hợp đồng liên quan đến việc chuyển quyền sử dụng đất như: Chuyển đổi quyền
sử dụng đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thuê quyền sử dụng đất, thế chấp quyền
sử dụng đất, tặng cho quyền sử dụng đất, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất.
- Hợp đồng chuyển giao quyền tài sản thuộc quyền tác giả: “Việc chuyển giao một
phần hoặc toàn bộ quyền tài sản thuộc quyền tác giả được thực hiện trên cơ sở hợp đồng.
Hợp đồng chuyển giao quyền tác giả phải được lập thành văn bản.” (Điều 743 Bộ Luật
Dân sự).
- Hợp đồng chuyển giao công nghệ: Đây là loại hợp đồng thực hiện chuyển giao
các đối tượng là bí quyết kỹ thuật; kiến thức kỹ thuật về công nghệ dưới dạng phương án

là các Điều ước quốc tế và tập quán thương mại quốc tế như: Hiệp định thương mại Việt
Nam – Hoa Kỳ, Công ước Viên 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế, các Incoterms và
nhiều Điều ước quốc tế khác mà Việt Nam là thành viên hoặc có thể dẫn chiếu đến.
1.1.5 Nội dung hợp đồng
Những thỏa thuận giữa các bên thể hiện trong hợp đồng qua các điều khoản, xuất
phát tư vai trò quan trọng khác nhau của các điều khoản trong hợp đồng mà người ta chia
nội dung của Hợp đồng thành: Điều khoản chủ yếu, điều khoản tùy nghi điều khoản
thường lệ
Điều khoản chủ yếu: là điều khoản chứa đựng nội dung cơ bản, quan trọng nhất
của hợp đồng mà nếu thiếu điều khoản đó thì hợp đồng coi như chưa hình thành. Phụ
thuộc vào tưng hợp đồng cụ thể mà một nội dung có thể là nội dung chủ yếu hoặc không
là nội dung chủ yếu.
Điều khoản tùy nghi: những nội dung được các bên tự thỏa thuận với nhau khi
chưa có quy định của pháp luật hoặc có quy định nhưng được các bên thỏa thuận lại để
áp dụng linh hoạt trong tưng trường hợp cụ thể trên cơ sở không trái pháp luật. Tuy nhiên
việc chia như vậy chỉ mang tính tương đối bởi thực tế cho chúng ta thấy có thể điều
khoản này là điều khoản chủ yếu đối với một loại hợp đồng nào đó nhưng có thể là điều
khoản tùy nghi với loại hợp đồng khác.
Điều khoản thường lệ: là những nội dung đã được pháp luật ghi nhận, các bên giao
kết có thể đưa hoặc không đưa vào hợp đồng và trong trường hợp không đưa vào hợp
đồng thì được coi là các bên mặc nhiên công nhận và có nghĩa vụ thực hiện.
1.2 Hợp đồng kinh doanh và vai trò của hợp đồng trong kinh doanh.
1.2.1 Khái niệm
Hợp đồng dân sự phát sinh trong hoạt động kinh doanh thì gọi là hợp đồng kinh
doanh. Nói cách khác, hợp đồng kinh doanh là hợp đồng dân sự phát sinh trong quá trình
chủ thể kinh doanh thực hiện các hoạt động tìm kiếm lợi nhuận.
Điều này lý giải cho việc các quy định của Bộ luật dân sự về hợp đồng dân sự
cũng được áp dụng đối với các hợp đồng kinh doanh
Nhóm 14 lớp đêm 4 khóa 22


đích mượn đã đạt được.” (Điều 512 Bộ Luật Dân sự).
- Hợp đồng dịch vụ: “Hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên
cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên thuê dịch vụ, còn bên thu dịch vụ phải trả
tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ.” (Điều 518 Bộ Luật Dân sự).
- Hợp đồng vận chuyển:
+ Hợp đồng vận chuyển hành khách: “Hợp đồng vận chuyển hành khách là sự
thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên vận chuyển chuyên chở hành khách, hành lý đến địa
điểm đã định theo thỏa thuận còn bên hành khách phải thanh toán cước phí vận chuyển.”
(Điều 527 Bộ Luật Dân sự).
Nhóm 14 lớp đêm 4 khóa 22

Trang 7


Tiểu luận luật kinh tế

GVHD: PGS.TS. Bùi Xuân Hải

+ Hợp đồng vận chuyển tài sản: “Hợp đồng vận chuyển tài sản là sự thỏa thuận
giữa các bên, theo đó bên vận chuyển có nghĩa vụ chuyển tài sản đến địa điểm đã định
theo thỏa thuận và giao tài sản đó cho người có quyền nhận, còn bên thu vận chuyển có
nghĩa vụ trả cước phí vận chuyển.” (Điều 535 Bộ Luật Dân sự).
- Hợp đồng gia công: “Hợp đồng gia công là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó
bên nhận gia công thực hiện công việc để tạo ra sản phẩm theo yêu cầu của bên đặt gia
công, còn bên đặt gia công nhận sản phẩm và trả tiền công.” (Điều 547 Bộ Luật Dân sự).
- Hợp đồng gửi giữ tài sản: “Hợp đồng gửi giữ tài sản là sự thỏa thuận giữa các
bên, theo đó bên giữ nhận tài sản của bên gửi để bảo quản và trả lại chính tài sản đó cho
bên gửi khi hết thời hạn hợp đồng, còn bên gửi phải trả tiền công cho bên giữ, trư trường
hợp gửi giữ không phải trả tiền công.” (Điều 559 Bộ Luật Dân sự).
- Hợp đồng bảo hiểm: “Hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó

Những phân tích trên chứng tỏ chủ thể của hợp đồng chưa chắc đã là chủ thể giao
kết hợp đồng trong thực tế. Do đó không thể đồng nhất hai loại chủ thể này trong quan hệ
hợp đồng. Quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng chỉ phát sinh với chủ thể hợp đồng mà
không phát sinh với chủ thể giao kết hợp đồng.
• Về hình thức
Hợp đồng kinh doanh là hợp đồng dân sự phát sinh trong hoạt động kinh doanh
của các chủ thể nên cũng giống như hoạt động dân sự thông thường, hợp đồng kinh
doanh có thể tồn tại dưới hình thức bằng văn bản, bằng lời nói hoặc bằng hành vi cụ thể.
Trong thực tế, hợp đồng bằng văn bản có thể được thực hiện dưới dạng các tài liệu giao
dịch hoặc thông điệp dữ liệu điện tử. Hơn nữa, hợp đồng bằng văn bản có thể được công
chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật hoặc theo ý chí của các bên.
• Về mục đích của các bên trong hợp đồng
Hợp đồng kinh doanh phát sinh trong hoạt động kinh doanh của chủ thể nên ít nhất
phải có một bên chủ thể có mục đích lợi nhuận khi giao kết hợp đồng. Nếu cả 2 bên chủ
thể đều không có mục đích lợi nhuận, hợp đồng được coi là hợp đồng dân sự đơn thuần.
Ngược lại, nếu cả 2 bên chủ thể đều có mục đích lợi nhuận thì hợp đồng được coi là hợp
đồng kinh doanh hay hợp đồng thương mại
1.2.4 Các quy chế pháp lý về hợp đồng kinh doanh
1.2.4.1 Ký kết hợp đồng kinh doanh
• Nguyên tắc ký kết
- Tự do ký kết hợp đồng nhưng không được trái phap luật, đạo đức xã hội.
- Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng.
- Đại diện ký kết hợp đồng là người có tên trong giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh của hộ kinh doanh cá thể; là người trực tiếp thực hiện công việc mà các bên đã
thỏa thuận trong quan hệ hợp đồng trong trường hợp hợp đồng kinh doanh được ký kết
giữa thương nhân với các cá nhân khác.
• Trình tự ký kết hợp đồng kinh doanh
Ký kết hợp đồng kinh doanh có hai giai đoạn là: giai đoạn đề nghị ký kết và giai
đoạn chấp nhận ký kết.


nội dung của hợp đồng.
-Thời điềm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn
bản.
1.2.4.2 Sửa đổi hợp đồng kinh doanh
Là việc các bên thỏa thuận sửa đổi một hoặc một số nội dung của hợp đồng hay
chuyển giao việc thực hiện hợp một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ hợp đồng cho người
khác.
Việc các bên ký kết các phụ lục hợp đồng để quy định một số nội dung của hợp
đồng hay hủy bỏ hợp đồng kinh doanh này để ký kết hợp đồng kinh doanh khác không
được coi là sửa đổi hợp đồng.
Nhóm 14 lớp đêm 4 khóa 22

Trang 10


Tiểu luận luật kinh tế

GVHD: PGS.TS. Bùi Xuân Hải

Các bên có thể thỏa thuận sửa đổi hợp đồng và giải quyết hậu quả của việc sửa
đổi, trư trường hợp pháp luật có quy định khác. Nếu hợp đồng được thành lập thành văn
bản, được công chứng, chứng thực, đăng ký hoặc cho phép thì việc sửa đổi hợp đồng
cũng phải tuân theo hình thức đó.
1.2.4.3 Đình chỉ thực hiện hợp đồng:
-Là một bên chấm dứt thực hiện nghĩa vụ hợp đồng khi thuộc một trong các
trường hợp sau:
+ Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên thỏa thuận là điều kiện để đình chỉ hợp
đồng
+ Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng
-Hủy bỏ hợp đồng

mẫu cần hiện hữu trong mọi bản hợp đồng nhằm giảm thiểu các rủi ro tranh chấp pháp lý
cũng như những hiểu nhầm đáng tiếc đồng thời đảm bảo các quyền pháp lý cần thiết cho
doanh nghiệp. Chúng còn được gọi là lớp áo giáp chống đạn cho mọi hợp đồng, hay điều
khoản “áo giáp”.
Thực tế cho thấy đã có nhiều trường hợp các bên giao kết hợp đồng với nhau và
tiến hành các hoạt động kinh doanh, nhưng rồi khi một tranh chấp nhỏ xảy ra, một trong
hai bên đối tác lại lợi dụng sự thiếu chặt chẽ trong hợp đồng để thu lợi riêng cho mình.
Nếu một hợp đồng được soạn thảo không chặt chẽ sẽ làm nảy sinh nhiều nguy cơ rủi ro
mà hậu quả không lường trước được. Bởi vì chi phí để giải quyết tranh chấp bằng con
đường tòa án thì rất tốn kém. Không chỉ thiệt hại về kinh tế mà cả uy tín kinh doanh cũng
bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Nếu đối tác ký kết hợp đồng với doanh nghiệp bạn chưa có giấy phép đăng ký
kinh doanh và quá trình thực hiện hợp đồng kinh doanh có phát sinh tranh chấp, mà đến
trước thời điểm phát sinh tranh chấp họ vẫn chưa hoàn tất thủ tục pháp lý đó để thực hiện
phần việc đã thoả thuận trong hợp đồng, thì hợp đồng kinh doanh này bị coi là vô hiệu
toàn bộ. Lúc này, người thiệt hại sẽ là doanh nghiệp bạn bởi doanh nghiệp bạn là người
kinh doanh hợp pháp, nhưng trong trường hợp này doanh nghiệp của bạn sẽ không có căn
cứ để yêu cầu bên đối tác kinh doanh thực hiện các nghĩa vụ đã ký kết.
Pháp luật một số nước coi sự vi phạm về hình thức là vi phạm lợi ích công cộng
nên hợp đồng vô hiệu tuyệt đối. Ví dụ, pháp luật của Đức đã đưa ra các đòi hỏi đầu tiên là
phải tuân thủ nghiêm ngặt điều kiện về hình thức để nhằm bảo vệ những người không có
kinh nghiệm đối mặt với những tình huống.
Chris Kelleher, phụ trách chuyên mục “Pháp lý” của tạp chí Entrepreneur khẳng
định rằng rất ít doanh nghiệp sẽ phủ nhận thực tế việc có mặt tại toà án luôn phức tạp và
tốn kém chi phí, không chỉ về mặt các chi phí pháp lý liên quan mà còn bao hàm các nội
dung phán quyết của toà án dẫn tới các chi phí khác phát sinh. Hơn thế nữa, không ít
trường hợp bạn sẽ phải mất rất nhiều thời gian quý giá, mối quan tâm và suy nghĩ khi
phát sinh một tranh chấp pháp lý, trong khi nếu bản hợp đồng được soạn thảo chặt chẽ thì
tất cả các khoản tiền bạc, thời gian và công sức này sẽ được dành cho công việc phát triển
kinh doanh.

Không có điều khoản này, việc vi phạm pháp luật sẽ không có tác động lên bản
hợp đồng. Nếu việc vi phạm pháp luật sẽ có tác động tiêu cực lên doanh nghiệp bạn cho
dù doanh nghiệp bạn có thể chịu trách nhiệm liên đới hay có thể mang tiếng xấu, điều
khoản này cần thiết phải đưa vào để doanh nghiệp bạn có thể chấm dứt hợp đồng và/hay
nhận được bồi thường cho thiệt hại.
Ràng buộc trọng tài:Tại hầu hết pháp luật của các quốc gia, các bên có thể tránh
việc giải quyết tranh chấp tại toà án nếu họ có thoả thuận điều khoản giải quyết tại trọng
tài trong bản hợp đồng thay cho toà án. Đa phần các trường hợp, giải quyết tranh chấp
thông qua con đường trọng tài sẽ nhanh chóng và ít tốn kém hơn tại toà án. Ngoài ra,
tranh chấp khi giải quyết trọng tài sẽ được bảo mật, không như các vụ kiện tại toà án bị
buộc phải công khai.
Mua trước các đơn bảo hiểm trách nhiệm : Các đơn bảo hiểm trách nhiệm kinh
doanh có thể bao trùm nhiều vấn đề khác nhau, song không thể tất cả các vấn đề được.
Điều cuối cùng bạn muốn tìm ra sau khi bị kiện đó là bạn có thể đã có một đơn bảo hiểm
bổ sung cho loại hình tranh chấp hiện tại của doanh nghiệp.
Ví dụ, nếu doanh nghiệp của bạn có một tỷ lệ nhân viên đến và đi khá lớn, và là
mục tiêu của những vụ kiện tụng, tranh chấp liên quan tới đối xử nhân viên, bạn nên xác
Nhóm 14 lớp đêm 4 khóa 22

Trang 13


Tiểu luận luật kinh tế

GVHD: PGS.TS. Bùi Xuân Hải

định xem cần mua đơn bảo hiểm nào để có được các khoản tiền bảo hiểm đối với loại
hình tranh chấp này.
Tương tự, nếu hoạt động kinh doanh của bạn có số lượng các quảng cáo lớn, bạn
nên tìm tới các đơn bảo hiểm hoạt động quảng cáo để bảo vệ doanh nghiệp khỏi các kiện

2. 1 Những hạn chế, sai sót trong hợp đồng mà các doanh nghiệp thường gặp
trong thực tế hoạt động kinh doanh:
2.1.2 Không tự mình soạn thảo:
Thay vì tự mình soạn thảo bản dự thảo đầu tiên của hợp đồng và yêu cầu luật sư
hoàn thiện nó thì các doanh nghiệp lại thuê luật sư nghiên cứu và soạn thảo toàn bộ hợp
đồng nên dẫn tới DN bị động hơn trong khi đàm phán và bị hạn chế trong việc đưa ra
những điều khoản có lợi nhất cho mình. Hơn nữa, tự mình soạn thảo hợp đồng thường có
hiệu quả về mặt chi phí tốt hơn so với việc nghiên cứu, chỉnh sửa hợp đồng sau khi thuê
luật sư soạn thảo.
2.1.2 Điều khoản thanh toán không rõ ràng:
Các điều khoản thanh toán là phần không thể thiếu trong hợp đồng và không được
phép bỏ qua hay để tới tận khi ký kết hợp đồng mới xem xét. Vậy mà có nhiều doanh
nghiệp hiện nay khi ký kết hợp đồng vẫn còn bỏ quên những quy định tối nghĩa về số tiền
đươc nợ, hay chưa có công thức rõ ràng để xác định số nợ và đưa ra các điều khoản quy
định không rõ ràng số tiền được nợ là bao nhiêu và nợ tới khi nào. Ngoài ra, họ cũng
chưa quan tâm đến các hình thức chế tài nếu một bên không thanh toán hay thanh toán
chậm, quy định phân chia trách nhiệm thanh toán các khoản thuế liên quan tới hợp đồng.
Vì vậy, các điều khoản thanh toán rõ ràng sẽ tránh được sự tranh chấp về sau cũng như sự
chây ì thanh toán khi thực hiện hợp đồng.
Ví dụ: Nếu trong hợp đồng có điều khoản thanh toán quy định cụ thể số tiền, ngày
trả và lãi suất phạt chậm trả trong trường hợp chậm trả nhưng lại bỏ sót thời hạn chậm trả
tối đa sẽ dẫn đến sự chây ì trong thanh toán và gây bất lợi cho doanh nghiệp khi tranh
chấp xảy ra.

Nhóm 14 lớp đêm 4 khóa 22

Trang 15


Tiểu luận luật kinh tế

thức văn bản là bắt buộc đối với các hợp đồng có giá trị. Đơn cử Anh và Úc, hợp đồng
bắt buộc phải được lập thành văn bản khi giá trị của nó lớn hơn 10 bảng Anh. Quy định
này xuất phát tư hệ thống luật án lệ coi các văn bản hợp đồng có giá trị bắt buộc và có
tính chất như luật đối với các bên và đó chính là căn cứ cơ bản để cơ quan có thẩm quyền
xem xét giải quyết tranh chấp. Nhờ đó, hợp đồng ở các nước này được soạn thảo rất chặt
chẽ.
Một số nước theo hệ thống luật lục địa (continental law) như Pháp, Thụy Sỹ... thì
coi tự do ký kết hợp đồng là nguyên tắc cơ bản. Ở các nước này, sự thoả thuận thể hiện ý
chí chung của các bên đã là điều kiện đủ để hình thành nên hợp đồng, cho dù chúng được
thể hiện dưới bất cứ hình thức nào. Nguyên tắc này coi trọng “chữ tín”, nghĩa là khi đã
cam kết điều gì thì các bên phải tự giác thực hiện. Thực tế này đã giúp loại bỏ các trường
hợp hợp đồng bị vô hiệu vì có vi phạm về hình thức.
Có lẽ do không coi hình thức là điều kiện xác định tính hợp pháp của hợp đồng mà
luật của nước Pháp có sự phân biệt giữa giao dịch kinh doanh không có hiệu lực với giao
dịch kinh doanh do không tuân thủ theo thủ tục nhất định (mà trên thực tế dù hợp đồng có
hiệu lực song lại không thể chứng minh được, hoặc không đủ chứng cứ để chứng minh
trước toà án về sự tồn tại của hợp đồng khi có tranh chấp). Tuy nhiên, sự phân biệt giữa
giao dịch kinh doanh không có hiệu lực và giao dịch kinh doanh có hiệu lực nhưng không
thể chứng minh được trên thực tế là không lớn, bởi nếu giao dịch có hiệu lực nhưng
không thể chứng minh được một cách dễ dàng thì rất khó khăn để xác định sự tồn tại của
nó, mà chỉ có thể được xác định khi có sự thưa nhận của các chủ công ty mà thôi. Vì vậy,
để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, các chủ công ty Pháp thường ký kết hợp
đồng bằng văn bản cho dù pháp luật có đòi hỏi hay không.
Hệ thống pháp luật của Đức lại hoàn toàn khác. Mặc dù, hình thức của giao dịch
kinh doanh không có chức năng chứng cứ, nhưng vi phạm điều kiện về hình thức sẽ đưa
đến sự vô hiệu của hợp đồng. Sự giải thích duy nhất đối với việc trói buộc một chế tài
mạnh như vậy là do nhà làm luật quan tâm tới việc bảo vệ các bên trước những tình
huống bất ngờ. Do đó, Đức đã đưa vào phần chung của Bộ luật dân sự nguyên tắc: giao
dịch pháp luật không được thực hiện bằng hình thức hợp pháp thì sẽ bị vô hiệu hoặc
không có giá trị. Điều này được lý giải là các đòi hỏi hình thức được dự liệu để nhằm bảo

điều đó nên đã dẫn đến nhiều tranh chấp không đáng có. Vì vậy, các công ty nên tìm hiểu
rõ về pháp luật và đối tác của mình để biết ai là người có đủ thẩm quyền ký kết hợp đồng
này. Theo đó,
- Năng lực hành vi dân sự của cá nhân được xác định như sau:
Căn cứ vào các Điều 17, 18 và 19 của BLDS thì người tư đủ 18 tuổi trở lên là
người thành niên và người thanh niên là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Như
vậy, theo quy định này thì chỉ có người nào có đủ tư 18 tuổi trở lên mới bằng chính hành
vi của mình xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự. Còn những trường hợp khác
chưa đủ 18 tuổi thì khi giao kết, xác lập, thực hiện một giao dịch dân sự nào đó phải được
người đại diện theo pháp luật đồng ý. Quy định này nhằm bảo vệ các giao dịch khi được
xác lập phải được xác lập bởi những người có đủ khả năng để tự nhân danh mình quyết
định mọi hành vi của mình, đảm bảo không gây thiệt hại cho người khác.
Trong trường hợp người đã đủ 18 tuổi nhưng lại mắc bệnh như bệnh tâm thần hoặc
mắc các bệnh khác gây ra tình trạng mất năng lực hành vi thì cũng không được tự mình
giao kết hợp đồng mà phải có đại diện pháp luật.

Nhóm 14 lớp đêm 4 khóa 22

Trang 19


Tiểu luận luật kinh tế

GVHD: PGS.TS. Bùi Xuân Hải

Tương tự như vậy, đối với những người tư 6 tuổi đến duới 18 tuổi khi giao kết hợp
đồng cũng phải có người đại diện theo pháp luật đồng ý.
Do đó, cá nhân khi tham gia giao kết hợp đồng phải có năng lực hành vi dân sự,
trường hợp khác thì phải có ngươi đại diện theo pháp luật đồng ý.
- Năng lực hành vi dân sự của tổ chức:

Trang 20


Tiểu luận luật kinh tế

GVHD: PGS.TS. Bùi Xuân Hải

nhiệm, nhiệm vụ, quyền hạn của tưng lãnh đạo và thành viên của doanh nghiệp và kể cả
trong thông báo chào hàng v.v… Và những giấy tờ này, về nguyên tắc có giá trị hợp lệ để
chứng minh cho việc phân công của lãnh đạo doanh nghiệp/tổ chức đối với các lãnh đạo
và thành viên khác của tổ chức/doanh nghiệp đó.
Khi tham gia soạn thảo, ký kết hợp đồng, các bên trong hợp đồng phải hết sức lưu
ý đến địa vị pháp lý của người được đại diện uỷ quyền, phạm vi được uỷ quyền nhằm
tránh tình trạng có tranh chấp sau này do việc ký kết hợp đồng không đúng thẩm quyền
hoặc vượt quá thẩm quyền hoặc vượt quá phạm vi đại diện uỷ quyền.
Gần đây nhất có thể kể đến vụ tranh chấp giữa ngân hàng TMCP Đông Nam Á
(SeABank) và công ty Vinaconex – Viettel (VVF). Ngày 27/11/2012, SeABank bất ngờ
phát đi một thông cáo báo chí cho biết nhà băng này quyết định không chấp nhận yêu cầu
thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo chứng thư bảo lãnh phát hành ngày 24/10/2011 do phó
TGĐ Nguyễn Thị Hương Giang ký bảo lãnh phát hành trái phiếu cho Tập đoàn Vina
Megastar vì chứng thư bảo lãnh này trái pháp luật. Cụ thể, bà Giang đã ký bảo lãnh phát
hành trái phiếu của Vina Megastar không đúng thẩm quyền theo pháp luật và quy định
của SeABank. Ngân hàng này dẫn giải Quyết định 693/2011/QĐ-HĐQT ngày 16/5/2011
của HĐQT SeABank, theo đó Tổng giám đốc được phê duyệt các giao dịch với khách
hàng của SeABank, trong đó có việc phê duyệt, ký chứng thư bảo lãnh (bao gồm cả bảo
lãnh phát hành trái phiếu) với mức tối đa không quá 30 tỷ đồng, bà Nguyễn Thị Hương
Giang với cương vị là Phó tổng giám đốc được ký chứng thư bảo lãnh không quá 30 tỷ
đồng. Thông báo chính thức tư SeABank cho biết, theo hồ sơ quản lý hiện tại của
SeABank liên quan đến chứng thư bảo lãnh ngày 24-10-2011 do bà Nguyễn Thị Hương
Giang ký, NH không có hồ sơ đề nghị bảo lãnh và hợp đồng cấp bảo lãnh với Vina


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status