Phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại bằng trọng tài và toà án dưới góc độ so sánh - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

CAO THỊ THANH THUỶ

PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH,
THƯƠNG MẠI BẰNG TRỌNG TÀI VÀ TOÀ ÁN
DƯỚI GÓC ĐỘ SO SÁNH

Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 50

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Viết Tý

HÀ NỘI - 2012


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu ...................................................................... 2
2. Tình hình nghiên cứu đề tài ................................................................................... 3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài ................................................................ 3
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .......................................................................... 4
5. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................................ 4
6. Kết cấu của Luận văn .............................................................................................. 4
CHƯƠNG 1 :MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT

Toà án ........................................................................................................................ 30
CHƯƠNG 2 GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI
BẰNG TRỌNG TÀI VÀ TÒA ÁN – SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT ... 32
2.1. NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG CỦA PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH
DOANH THƯƠNG MẠI BẰNG TRỌNG TÀI VÀ TOÀ ÁN ........................................................32

2.1.1. Trọng tài và tòa án đều là phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương
mại ............................................................................................................................. 32
2.1.2. Quyền tự do lựa chọn, định đoạt tồn tại trong cả hai phương thức giải quyết tranh
chấp của các bên có tranh chấp ................................................................................. 33
2.2. NHỮNG ĐIỂM KHÁC BIỆT CỦA PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH
DOANH THƯƠNG MẠI BẰNG TRỌNG TÀI VÀ TOÀ ÁN ........................................................35

2.2.1. Thẩm quyền của Trọng tài thương mại và Toà án .......................................... 36
2.2.1.1. Đối với trọng tài thương mại, thẩm quyền của Hội đồng trọng tài là thẩm
quyền do các bên trao cho Hội đồng ......................................................................... 36
2.1.1.2. Thẩm quyền của Toà án theo quy định của pháp luật bao gồm thẩm quyền theo
cấp, theo lãnh thổ và theo sự lựa chọn của nguyên đơn ............................................... 37
2.2.2. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại bằng trọng tài và tòa
án ............................................................................................................................... 42
2.2.3. Thi hành phán quyết, quyết định của trọng tài và tòa án ................................ 46
2.2.4. Giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại mang tính quốc tế........... 49


2.3. SỰ HỖ TRỢ CỦA CƠ QUAN TƯ PHÁP ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA TRỌNG TÀI THƯƠNG
MẠI ...................................................................................................................................................50

2.3.1. Sự hỗ trợ của tòa án đối với hoạt động của trọng tài thương mại ................... 51
2.3.2. Sự hỗ trợ của cơ quan thi hành án đối với hoạt động của Trọng tài thương mại61
CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT


TTTM

= Trọng tài thương mại

XHCN

= Xã hội chủ nghĩa


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Tranh chấp và giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại đang là vấn
đề “nổi cộm” của nền kinh tế hiện nay. Mấy năm trở lại đây, do những diễn biến
phức tạp của đời sống xã hội nên các tranh chấp kinh doanh, thương mại cũng
ngày càng nhiều và phức tạp hơn. Trong bối cảnh Việt Nam đã gia nhập WTO
và nền kinh tế nước ta đã chuyển sang mô hình phát triển theo thể chế thị trường,
các tranh chấp kinh tế không những đơn thuần là tranh chấp giữa hai chủ thể
giao kết hợp đồng kinh tế, mà còn có những tranh chấp dưới các dạng khác nhau
phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh như tranh chấp giữa các thành viên
trong công ty, tranh chấp về cổ phần, cổ phiếu, tranh chấp giữa công ty và các
thành viên của công ty…Vậy, khi phát sinh tranh chấp thì doanh nghiệp cần tìm
đến cơ quan, tổ chức nào để giải quyết tranh chấp một cách có hiệu quả, nhanh
gọn, tránh những tổn thất quá lớn cho doanh nghiệp? Pháp luật hoàn toàn cho
phép các nhà kinh doanh, các cá nhân, tổ chức có quyền được lựa chọn các
phương thức khác nhau để giải quyết những tranh chấp phát sinh trong hoạt động
kinh doanh, thương mại như: thương lượng, hoà giải, trọng tài hay toà án. Nhà
nước ta cũng đã chủ trương cải cách tư pháp và không ngừng hoàn thiện các quy

Tố tụng dân sự - những vướng mắc và giải pháp khắc phục”, Luận văn thạc sỹ
luật học; Lê Thị Nhàn (2011), “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về thẩm quyền
giải quyết tranh chấp của trọng tài thương mại”, Luận văn thạc sỹ luật học;
Nguyễn Thị Hồng Hạnh (2011), “Luật Trọng tài thương mại - bước phát triển
của pháp luật Trọng tài thương mại Việt Nam” Luận văn thạc sỹ luật học,
Nguyễn Đình Thơ (2007), “Hoàn thiện pháp luật về Trọng tài thương mại của
Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế”, Luận án Tiến sĩ luật học. Nhưng
các công trình nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc phân tích các khía cạnh pháp
lý khác nhau của từng phương thức giải quyết tranh chấp cụ thể nhưng để đi vào


3

so sánh hai phương thức giải quyết tranh chấp này thì chưa có công trình nào
thực sự đi sâu vào nghiên cứu và tìm hiểu.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Trong phạm vi một Luận văn thạc sĩ luật học, đề tài đi sâu vào làm rõ đặc
trưng của từng phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại là toà
án và trọng tài thương mại theo quy định pháp luật Việt Nam để có thể thấy
những ưu điểm và hạn chế của từng phương thức giải quyết tranh chấp từ đó đi
vào so sánh và tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt của hai phương thức
này, đưa ra những giải pháp hoàn thiện từng phương thức nhằm giải quyết tranh
chấp kinh doanh, thương mại một cách hiệu quả đáp ứng nhu cầu của các chủ thể
kinh doanh.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài với mục đích làm sáng tỏ những cơ sở lý luận và thực
tiễn của sự tương đồng và khác biệt giữa hai phương thức giải quyết tranh chấp
bằng trọng tài và tòa án, tìm kiếm các giải pháp để hai phương thức này phát huy
có hiệu quả vai trò hỗ trợ lẫn nhau trong giải quyết tranh chấp kinh doanh,
thương mại.


5

CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI BẰNG TRỌNG TÀI
THƯƠNG MẠI VÀ TÒA ÁN
1.1. TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI

1.1.1. Khái niệm tranh chấp kinh doanh, thương mại
Hiện nay, trong khoa học pháp lý ở Việt Nam tồn tại một số khái niệm về
tranh chấp trong hoạt động kinh doanh, thương mại như: tranh chấp kinh tế,
tranh chấp trong hoạt động thương mại, tranh chấp kinh doanh, thương
mại…Nhìn chung, các khái niệm trên có cùng nội hàm. Trong khuôn khổ luận
văn này tác giả sử dụng khái niệm được BLTTDS ghi nhận đó là: khái niệm
tranh chấp kinh doanh, thương mại.
Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số, hoặc tất cả các công
đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch
vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. [15]
Thương mại hay hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh
lời, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại
và các hoạt động nhằm mục đích sinh lời khác. [5]
Tranh chấp thương mại theo nghĩa khái quát nhất là sự bất đồng hay mâu
thuẫn, xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể trong hoạt
động kinh doanh, thương mại.[15]
Thực tế cho thấy, tranh chấp kinh doanh, thương mại là một hiện tượng xã
hội, là sản phẩm của nền kinh tế, nó ra đời, tồn tại và biến đổi cùng với quá trình
hình thành và phát triển của nền kinh tế hàng hoá. Chính vì vậy, mức độ, hình
thức, nội dung tranh chấp phụ thuộc vào quy mô của quan hệ thương mại. Ngày



7

phát sinh do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng trong
hoạt động thương mại”.
Tuy nhiên, khái niệm “hoạt động thương mại” theo quy định của Luật
thương mại 1997 có nội hàm rất hẹp so với quan niệm phổ biến của các nước
trên thế giới nên nội hàm của khái niệm tranh chấp thương mại cũng bị giới hạn.
Các tranh chấp thương mại quy định trong Luật thương mại (1997) chỉ là một
loại tranh chấp kinh tế, ngoài loại tranh chấp này tranh chấp kinh tế còn bao gồm
các tranh chấp khác như: tranh chấp phát sinh giữa công ty và thành viên công
ty, tranh chấp giữa các thành viên công ty liên quan đến việc thành lập, giải thể
công ty, tranh chấp mua bán cổ phiếu, trái phiếu…Luật Thương mại (2005) ra
đời khái niệm hoạt động thương mại đã được hiểu theo nghĩa rộng theo đó “hoạt
động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lời bao gồm mua bán hàng
hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục
đích sinh lời khác”.
Pháp lệnh TTTM ngày 25/02/2003 không trực tiếp đưa ra định nghĩa về
tranh chấp thương mại song với sự hiện diện của khái niệm “hoạt động thương
mại” theo nghĩa rộng đã tạo sự tương đồng trong quan niệm về “thương mại”
và “tranh chấp thương mại” của pháp luật Việt Nam với chuẩn mực chung của
pháp luật và thông lệ quốc tế. Theo Khoản 3 Điều 2 Pháp lệnh TTTM “Hoạt
động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của cá
nhân, tổ chức kinh doanh bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ; phân
phối; đại diện, đại lý thương mại; ký gửi; thuê, cho thuê; thuê mua; xây dựng;
tư vấn; kỹ thuật; li - xăng; đầu tư; tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò,
khai thác; vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường hàng không, đường
biển, đường sắt, đường bộ và các hành vi thương mại khác theo quy định của
pháp luật”.



9

tương thích giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế đòi hỏi trong việc sử
dụng thuật ngữ nói chung và thuật ngữ tranh chấp kinh doanh thương mại nói
riêng là một vấn đề cần được quan tâm.
1.1.2. Đặc điểm của Tranh chấp kinh doanh, thương mại
Một là, Tranh chấp kinh doanh, thương mại trước hết là những mâu thuẫn
(bất đồng) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong mối quan hệ cụ thể;
Hai là, Tranh chấp kinh doanh, thương mại là tranh chấp phát sinh trong
hoạt động thương mại: mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, phân phối, đại diện,
đại lý, ký gửi, thuê, cho thuê, xây dựng; tư vấn; kỹ thuật; li - xăng; đầu tư; tài
chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò, khai thác; vận chuyển hàng hoá, hành
khách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt, đường bộ.
Ba là, Tranh chấp kinh doanh, thương mại là tranh chấp phát sinh chủ yếu
giữa các thương nhân. Các tranh chấp thương mại chủ yếu là những tranh chấp
phát sinh giữa các thương nhân (cá nhân kinh doanh, tổ chức kinh doanh) với
nhau. Ngoài thương nhân là chủ thể chủ yếu của tranh chấp kinh doanh, thương
mại, trong những trường hợp nhất định, các cá nhân, tổ chức khác (không phải là
thương nhân) cũng có thể là chủ thể của tranh chấp thương mại như: tranh chấp
giữa công ty với thành viên công ty, giữa các thành viên công ty với nhau liên
quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách,
chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty hay tranh chấp về giao dịch giữa một
bên không nhằm mục đích sinh lời với thương nhân thực hiện trên lãnh thổ Việt
Nam trong trường hợp bên không nhằm mục đích sinh lời đó chọn áp dụng luật
thương mại.
Bốn là: Mục đích của các bên tranh chấp đều mang tính tài sản, tranh chấp
kinh tế phản ánh những xung đột chủ yếu liên quan đến tài sản, liên quan tới lợi
ích kinh tế của các bên.




11

kinh tế thương mại nói riêng phải được điều chỉnh bằng pháp luật, phải đảm bảo
bằng pháp luật. Việc đầu tiên là hạn chế các tranh chấp có thể xảy ra bằng cách
đặt ra các chế định và chế tài tạo thành một "sân chơi" lành mạnh và công bằng.
Khi tranh chấp xảy ra phải có các thủ tục, biện pháp để giải quyết, nếu không
giải quyết kịp thời thì hậu quả sẽ dây dưa kéo dài và thiệt hại rất lớn. Điều đó
không những làm thiệt hại, kìm hãm phát triển nền kinh tế mà còn gây nên một
khuyết điểm lớn của môi trường kinh doanh, các chủ thể sau tranh chấp có thể
"quay lưng" lại với nhau đố kỵ và không tin tưởng lẫn nhau.
Giải quyết hậu quả kịp thời tranh chấp còn có ý nghĩa cực kỳ quan trọng
trong việc quản lý xã hội bằng pháp luật, vừa tháo gỡ khó khăn cho các doanh
nghiệp, vừa góp phần tạo môi trường pháp lý có kỷ cương. Trong sản xuất kinh
doanh, giải quyết tranh chấp hiệu quả sẽ tạo niềm tin, thực hiện công bằng và
bình đẳng cho các doanh nghiệp trong nước và ngoài nước để thực hiện sản xuất
kinh doanh có hiệu quả.
Sự phát triển đa dạng của các tranh chấp kinh doanh thương mại và yêu
cầu linh hoạt để giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại này là tất
yếu khách quan hình thành nên sự đa dạng của các phương thức giải quyết
tranh chấp. Phụ thuộc vào cơ chế, đặc trưng pháp lý, cũng như nhu cầu điều
chỉnh pháp luật của nền kinh tế hình thành các phương thức giải quyết tranh
chấp kinh doanh, thương mại khác nhau như: thương lượng, hoà giải, toà án
và trọng tài.
1.2.2. Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại
Dựa trên cơ sở tự do và tự chủ trong kinh doanh, bình đẳng trước pháp
luật, việc giải quyết tranh chấp phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc tự định đoạt: Theo nguyên tắc này thể hiện trước hết là ở chỗ
các bên có quyền thoả thuận phương thức giải quyết tranh chấp có lợi nhất có thể


13

của tranh chấp mà có thể lựa chọn một trong các phương thức trên để phát huy
hết hiệu quả giải quyết tranh chấp.
- Tranh chấp kinh doanh, thương mại cần được giải quyết nhanh chóng, hợp
pháp, không làm cản trở hoạt hoạt động kinh doanh của các chủ thể kinh doanh.
Trong kinh doanh cá bên đều không mong muốn tranh chấp xảy ra bởi tranh chấp
sẽ làm ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh cũng như quan hệ làm ăn của các bên.
Vì vậy, khi có tranh chấp xảy ra việc giải quyết nhanh chóng, hợp pháp là yêu cầu
luôn đặt ra đối với giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại.
- Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại phải chính xác, đúng pháp
luật, phán quyết phải có tính thi hành cao. Khi các bên lựa chọn được phương
thức giải quyết tranh chấp phù hợp thì yêu cầu tiếp theo đặt ra là việc giải quyết
tranh chấp phải chính xác và khi ra phán quyết thì điều quan trọng là phán quyết
phải được được thi hành trên thực tế.
- Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại phải đảm bảo tính hiệu
quả về kinh tế (ít tốn kém nhất). Trong kinh doanh, các bên đều đặt mục đích
kinh tế làm mục tiêu, vậy nên khi giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại
đảm bảo hiệu quả về kinh tế cũng là một yêu cầu cần được quan tâm.
- Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại phải đảm bảo giữ được bí
mật kinh doanh, uy tín của các bên trong hoạt động thương mại. Trong kinh
doanh, uy tín và bí mật kinh doanh quyết định rất lớn tới thành công của các bên.
Vì vậy, ngay khi tranh chấp xảy ra thì việc giải quyết tranh chấp cũng phải chú ý
tới việc bảo đảm bí mật kinh doanh, uy tín của các bên. Đây cũng là yêu cầu mà
các bên rất quan tâm khi lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh,
thương mại.


14


tranh chấp…), vừa kết hợp yếu tố tài phán (có giá trị thi hành bắt buộc đối với
các bên).
Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp kết hợp được nhiều ưu
điểm của các phương thức giải quyết tranh chấp khác như: đảm bảo sự tự do thoả
thuận ý chí, bí mật và uy tín cho các bên, giữ được quan hệ giữa các bên sau khi
giải quyết như phương thức thương lượng, hoà giải; đảm bảo sự chặt chẽ về thủ
tục tố tụng và tính tài phán như hình thức toà án. Khi lựa chọn trọng tài làm
phương thức giải quyết tranh chấp, các bên có thể yên tâm vì tranh chấp sẽ được
trọng tài giải quyết nhanh chóng, dứt điểm. Do vậy, trọng tài là hình thức giải
quyết tranh chấp phổ biến ở những nước có nền kinh tế thị trường phát triển,
được các nhà kinh doanh sử dụng như một phương thức tối ưu để giải quyết các
tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh thương mại.
Về bản chất, TTTM là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại
không mang ý chí quyền lực nhà nước (không nhân danh quyền lực nhà nước
như phán quyết của toà án) mà chủ yếu được giải quyết dựa trên phán quyết của
trọng tài thương mại (được các bên lựa chọn) theo thủ tục linh hoạt, mềm dẻo.
Ngoài ra, phương thức giải quyết tranh chấp thương mại này còn đảm bảo tối đa
uy tín cũng như bí mật của các bên tranh chấp, góp phần củng cố và duy trì mối
quan hệ hợp tác lâu dài giữa các bên.
1.3.1.2. Trọng tài thương mại là cơ quan giải quyết tranh chấp
TTTM đã được nhìn nhận như một phương thức giải quyết tranh chấp
kinh doanh, thương mại có những điểm đặc thù. Bên cạnh đó, TTTM còn được
nhận thức như một cơ quan giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại,
TTTM có các dấu hiệu sau:


17

Thứ nhất, TTTM là một tổ chức phi Chính phủ, hoạt động theo Luật

lĩnh vực luật tư; ở Việt Nam tuy không phân biệt luật công và luật tư nhưng pháp
luật nước ta cũng chỉ thừa nhận thẩm quyền của trọng tài trong lĩnh vực thương
mại và một số lĩnh vực nhất định (Điều 2 Luật TTTM năm 2010).
Thứ ba, hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài đảm bảo quyền tự
định đoạt của các đương sự rất cao: Các bên có quyền lựa chọn trọng tài viên,
lựa chọn quy tắc trọng tài, luật áp dụng để giải quyết tranh chấp. Luật TTTM
năm 2010 tại Điều 14 đã quy định: “ 1. Đối với tranh chấp không có yếu tố nước
ngoài, HĐTT áp dụng pháp luật Việt Nam để giải quyết tranh chấp; 2. Đối với
tranh chấp có yếu tố nước ngoài, HĐTT áp dụng pháp luật do các bên lựa chọn;
nếu các bên không có thỏa thuận về luật áp dụng thì HĐTT quyết định áp dụng
pháp luật mà HĐTT cho là phù hợp nhất; 3. Trường hợp pháp luật Việt Nam,
pháp luật do các bên lựa chọn không có quy định cụ thể liên quan đến nội dung
tranh chấp thì HĐTT được áp dụng tập quán quốc tế để giải quyết tranh chấp
nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng đó không trái với các nguyên
tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.” Ngoài ra một trong các nguyên tắc khi giải
quyết tranh chấp thương mại bằng TTTM là phiên họp giải quyết tranh chấp
không diễn ra công khai trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác, nguyên tắc
này đã thể hiện được sự tôn trọng tối đa quyền tự định đoạt của các bên tranh
chấp trong giải quyết tranh chấp.
Thứ tư, phán quyết của trọng tài có giá trị chung thẩm không bị kháng cáo,
kháng nghị và có hiệu lực thi hành đối với các bên. Nếu một trong các bên không
thi hành thì bên kia có quyền yêu cầu tòa án công nhận và cho thi hành phán
quyết trọng tài (Khoản 5 Điều 61 và Điều 66 Luật TTTM năm 2010).


19

Thứ năm, hoạt động của các tổ chức trọng tài cần sự hỗ trợ của các cơ
quan tư pháp trong đó tòa án có vai trò quan trọng, bởi phán quyết của trọng tài
không mang tính quyền lực nhà nước do đó sự hỗ trợ của cơ quan tư pháp là hết

dựa trên hai hình thức sở hữu là toàn dân và tập thể. Các tranh chấp kinh tế thời
kỳ này rất nghèo nàn và đơn điệu, đó chỉ là các tranh chấp về hợp đồng kinh tế
giữa các xí nghiệp quốc doanh với nhau hoặc xí nghiệp quốc doanh với hợp tác
xã. Chính các yếu tố này đã chi phối đến mô hình giải quyết tranh chấp kinh
doanh ở nước ta. Do đó, tổ chức trọng tài có thẩm quyền giải quyết tranh chấp
kinh tế lúc này là Trọng tài Kinh tế nhà nước - Cơ quan quản lý Nhà nước về
chế độ Hợp đồng kinh tế. Như vậy, thực chất, trọng tài kinh tế nhà nước là cơ
quan của Nhà nước, vừa thực hiện chức năng quản lý kinh tế, vừa thực hiện chức
năng giải quyết các tranh chấp kinh tế giữa các tổ chức kinh tế nhà nước
Cơ cấu tổ chức của Trọng tài Kinh tế Nhà nước cũng được cải tổ nhiều
lần, ban đầu theo Nghị định số 20/TTg năm 1960 thì Trọng tài kinh tế được tổ
chức ở Trung ương, Khu (Khu Việt Bắc, Khu tự trị Tây Bắc), Bộ, sau đó được
cải tổ theo cơ cấu: Trọng tài kinh tế Trung ương, Bộ, Tỉnh, rồi lại cải tổ theo địa
giới hành chính là Trọng tài kinh tế nhà nước, tỉnh, huyện (tương đương với cơ
cấu tổ chức của Toà án). Mô hình này tồn tại đến năm 1993 và bị thay thế bởi hệ
thống tòa án kinh tế theo Luật sửa đổi một số điều của Luật Tổ chức tòa án năm
1993. Bắt đầu từ thời điểm này, các tòa án kinh tế sẽ giải quyết các tranh chấp
kinh tế. Chức năng của Trọng tài Kinh tế nhà nước lúc bấy giờ là quản lý chế độ
hợp đồng kinh tế; thanh tra, kiểm tra, đôn đốc, nhắc nhở thực hiện Hợp đồng
kinh tế; xét xử các tổ chức kinh tế và theo Pháp lệnh Trọng tài kinh tế thì thêm
cả chức năng xử lý, kết luận và tuyên hợp đồng kinh tế vô hiệu.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status