Biện chứng sự phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam. - Pdf 48

Lời mở đầu
Nền kinh tế Việt Nam đang chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trờng có sự
quản lý của nhà nớc. Sự nghiệp đổi mới kinh tế đòi hỏi phải nhanh chóng tiếp cận
những lý luận và thực tiễn quản lý kinh tế của nhiều nớc trên thế giới. Quá trình đổi
mới kinh tế cần có những cán bộ kinh tế có kiến thức, có phơng pháp thích hợp với
kinh tế thị trờng.
Vào những năm 80 của thế kỷ XX, về cơ bản nền kinh tế của Việt Nam sản xuất
nhỏ vẫn còn phổ biến, trạng thái kinh tế tự nhiên hiện vật, tự cung, tự cấp còn
chiếm u thế, vận hành theo cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp và có nhiều
sai lầm trong nhận thức về mô hình XHCN. Việt Nam đã không nhận thức đúng về
kinh tế thị trờng, cho rằng sản xuất hàng hoá là hình thức tổ chức của chủ nghĩa t
bản, đồng nhất hình thức sở hữu với hình thức tổ chức kinh tế và thành phần kinh tế,
coi nhẹ quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, chỉ thấy mặt tiêu cực của thị trờng.
Xã hội Việt Nam vẫn dựa trên nền tảng của văn minh nông nghiệp lúa nớc, nông
dân chiếm đại đa số. Vì vậy Việt Nam vẫn là nớc nghèo nàn lạc hậu và kém phát
triển. Do đó phát triển trở thành nhiệm vụ, mục tiêu số một đối với toàn Đảng, toàn
dân ta trong những bớc đờng đi tới. Muốn vậy phải chuyển nền kinh tế quốc dân
sang trạng thái của sự phát triển, là phát triển nền kinh tế thị trờng cùng với nó là
thực hiện công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc.
Để làm đợc điều đó chúng ta cần phải phát triển nền kinh tế nhiều thành phần
theo định hớng XHCN. Đây là giải pháp cơ bản để chuyển từ sản xuất nhỏ lên sản
xuất lớn ở Việt Nam hiện nay. Chuyển nền kinh tế từ hoạt động theo cơ chế kế
hoạch hoá tập trung, hành chính, quan liêu, bao cấp sang phát triển nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trờng, có sự quản lý của nhà n-
ớc, theo định hớng XHCN là nội dung, bản chất và đặc điểm khái quát nhất đối với
nền kinh tế của Việt Nam trong hiện tại và trong tơng lai để đẩy mạnh quá trình
chuyển dịch cơ cấu theo hớng công nghiệp hoá - hiện đại hoá để huy động sức
mạnh của toàn dân vào việc khắc phục nguy cơ tụt hậu ngày càng xa, cần phải phát

1
triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hớng XHCN. Đó là chủ tr-

ngành sản xuất chỉ chuyên môn sản xuất ra một loại sản phẩm nào đó cho nhu cầu
của xã hội. Cho đến nay trong lịch sử đã diễn ra ba cuộc phân công lớn đó là: tách
chăn nuôi ra khỏi trồng trọt; tách thủ công nghiệp ra khỏi nông nghiệp; xuất hiện
ngành thơng nghiệp. Sự phân công lao động dẫn tới kết quả là tạo nên sự phụ thuộc
lẫn nhau giữa những ngời sản xuất bởi vì mỗi ngời sản xuất chỉ làm ra một loại sản
phẩm nhất định nhng trong đời sống của con ngời phải cần đến nhiều loại sản phẩm
vì vậy họ có nhu cầu cần trao đổi sản phẩm của mình với sản phẩm của ngời khác.
- Chế độ t hữu về t liệu sản xuất: tức là t liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu của từng
cá nhân và vì vậy ngời ta có quyền chi phối đối với sản phẩm làm ra. Chế độ t hữu
về t liệu sản xuất đã làm cho những ngành sản xuất trở thành độc lập với nhau trong
điều kiện đó thoã mãn các nhu cầu khác của mình thì ngời sản xuất có quyền sử
dụng sản phẩm của mình để trao đổi với các sản phẩm khác.
Hai điều kiện trên làm cho những ngời sản xuất vừa phụ thuộc lẫn nhau, vừa độc
lập đối với nhau. Đây là một quan hệ mang tính mâu thuẫn và để giải quyết mâu
thuẫn này ngời ta phải tiến hành trao đổi hàng hoá. Vì vậy muốn có sản xuất hàng
hoá phải có đủ cả hai điều kiện nói trên.
+ Kinh tế hàng hoá: là một kiểu tổ chức kinh tế xã hội mà trong đó hình thái phổ
biến của sản xuất là sản xuất ra sản phẩm để bán, để trao đổi trên thị trờng.
2.Lý luận chung định hớng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế nhiều thành phần
trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam.
a.Khái niệm về xã hội chủ nghĩa.

3
Tại đại hội Đảng lần thứ VIII vào tháng 6-1996 đã xác định xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam là một xã hội do nhân dân lao động làm chủ, có nền kinh tế phát triển cao
dựa trên lực lợng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về t liệu sản xuất, có nền
văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc, con ngời đợc giải phóng khỏi áp bức bóc lột, mọi
ngời có quyền làm chủ bản thân mình và làm theo năng lực hởng theo lao động. Là
xã hội mà ngời dân có cuộc sống ấm no hạnh phúc, tự do trong khuôn khổ pháp luật
, có điều kiện để phát triển toàn diện cá nhân , các dân tộc trong nớc đoàn kết ,bình

Thực hiện mục tiêu đó là một nhiệm vụ lâu dài của nhiều thế hệ, phải giải quyết
bằng nhiều biện pháp không làm tổn hại đến lợi ích hợp pháp của công dân
II .đặc điểm và sự phát triển của nền kinh tế nhiều
thành phần ở việt nam
1.Khái niệm về thời kỳ quá độ.
Thời kỳ quá độ là thời kỳ mà ở đó xã hội cũ đã bị đánh bại nhng cha bị tiêu diệt
hẳn, xã hội mới đã hình thành nhng cha thắng lợi hoàn toàn, ở đó bao gồm những
thành phần, những bộ phận, những nhân tố của xã hội cũ và xã hội mới đan xen lẫn
nhau và đấu tranh chống lại nhau.
2.Tính tất yếu khách quan của sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần trong
thời kỳ quá độ ở Việt Nam.
a.Xuất phát từ đặc điểm của thời kỳ quá độ.
Thời kỳ quá độ: là một thời kỳ lịch sử đặc biệt, trong đó kết cấu kinh tế -xã hội
vừa bao hàm những yếu tố của xã hội cũ đang suy thoái dần, vừa bao hàm những
yếu tố của xã hội mới ra đời, đang lớn lên từng bớc, nhng cha giành toàn thắng.
Điều đó có nghĩa là nó mang tính chất quá độ. Lênin cũng chỉ ra rằng, ở các nớc đi
lên chủ nghĩa xã hội phổ biến có ba thành phần kinh tế cơ bản: kinh tế xã hội chủ
nghĩa; kinh tế t bản chủ nghĩa và kinh tế sản xuất hàng hoá nhỏ.
Vận dụng t tởng của Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, Đảng ta khẳng
định, ở nớc ta hiện có các thành phần kinh tế sau :
- Kinh tế Nhà nớc.
- Kinh tế tập thể.
- Kinh tế t bản Nhà nớc.

5
- Kinh tế cá thể, tiểu chủ.
- Kinh tế t bản t nhân.
Sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế nói trên ở nớc ta là tất yếu. Tính tất yếu đó đ-
ợc quy định bởi các điểm sau đây:
- Khi giai cấp công nhân và nhân dân lao động giành đợc chính quyền và bớc vào


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status