LUẬN văn LUẬT THƯƠNG mại GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT THỰC TRẠNG và GIẢI PHÁP - Pdf 48

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
______

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 34 (2008 – 2012)
ĐỀ TÀI:

GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Giảng viên hướng dẫn:
Th.S HUỲNH THỊ SINH HIỀN
Bộ môn: Luật Hành chính

Sinh viên thực hiện:
PHẠM BỬU LINH
MSSV: 5085813
Lớp: Luật Thương mại 2 - K34

Cần Thơ, tháng 4 / 2012


NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................

...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................


MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU ......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài .................................................................................................. 1
2. Phạm vi nghiên cứu .............................................................................................. 2
3. Mục tiêu nghiên cứu ............................................................................................. 2

thích luật, pháp lệnh .............................................................................................. 40


CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
TRONG HOẠT ĐỘNG GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT ....................................... 43
3.1. Thực trạng hoạt động giải thích pháp luật ở Việt Nam ................................. 43
3.1.1. Mặt tích cực của hoạt động giải thích pháp luật ......................................... 43
3.1.2. Mặt hạn chế của hoạt động giải thích pháp luật ......................................... 44
3.2. Một số giải pháp, kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả trong hoạt
động giải thích pháp luật ....................................................................................... 58
3.2.1. Tiến hành xây dựng Luật giải thích pháp luật ............................................ 59
3.2.2. Xây dựng quy trình, thủ tục giải thích Hiến pháp ....................................... 59
3.2.3. Mở rộng phạm vi chủ thể được quyền đề nghị giải thích pháp luật ............ 60
3.2.4. Chia thẩm quyền giải thích pháp luật cho những chủ thể thích hợp với đối
tượng của hoạt động giải thích pháp luật ............................................................... 61
3.2.5. Những vấn đề cần đảm bảo khi Tòa án tiến hành giải thích pháp luật ....... 64
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 67
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


Luận văn tốt nghiệp

Đề tài: Giải thích pháp luật – Thực trạng và giải pháp

LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong giai đoạn xã hội hiện nay, tình hình kinh tế đang có những chuyển biến
tích cực, các quan hệ quốc tế trong tiến trình hội nhập và toàn cầu hóa phát triển rất
nhanh chóng và đa dạng. Cùng với sự phát triển đó, các mối quan hệ trong xã hội ở
nước ta, cũng như những vấn đề phát sinh khi nước ta mở cửa hội nhập giao lưu cùng


Trang 1

SVTH: Phạm Bửu Linh


Luận văn tốt nghiệp

Đề tài: Giải thích pháp luật – Thực trạng và giải pháp

cập mà thực tiễn đã phát sinh. Đây chính là nguyên do mà người viết quyết định chọn
đề tài: “Giải thích pháp luật- Thực trạng và giải pháp” làm đề tài nghiên cứu luận văn
tốt nghiệp cử nhân của mình.
2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật về hoạt động giải thích
pháp luật cũng như nghiên cứu hoạt động này trên thực tế. Tuy nhiên, trong phạm vi
đề tài này, người viết chủ yếu tiến hành nghiên cứu về hoạt động giải thích chính thức,
bao gồm: Hiến pháp, luật, pháp lệnh. Do đó, đối với hoạt động giải thích không chính
thức như của các luật sư, giảng viên, nhà khoa học pháp lý,… và giải thích Điều ước
quốc tế, tập quán pháp, tiền lệ pháp không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cở sở kế thừa những kết quả nghiên cứu về vấn đề giải thích pháp luật kết
hợp với việc tìm hiểu các quy định của pháp luật, người viết muốn làm sáng tỏ các vấn
đề pháp lý về hoạt động giải thích pháp luật cũng như nêu lên một số khó khăn, vướng
mắc trong thực tiễn áp dụng hoạt động này. Từ đó, đưa ra những đề xuất và giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giải thích pháp luật, giúp cho pháp luật tăng cường
tính nghiêm minh, hiệu lực và hiệu quả trong quá trình thi hành và áp dụng. Qua đó
tăng cường pháp chế và bảo vệ trật tự pháp luật, đồng thời, góp phần vào quá trình cải
cách tư pháp ở nước ta.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu


GVHD: ThS. Huỳnh Thị Sinh Hiền

Trang 3

SVTH: Phạm Bửu Linh


Luận văn tốt nghiệp

Đề tài: Giải thích pháp luật – Thực trạng và giải pháp

CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT
Tất cả các hệ thống pháp luật trên thế giới đều không thể thiếu hoạt động giải
thích pháp luật, dù đất nước đó có kỹ năng lập pháp giỏi đến đâu đi nữa. Bởi trong quá
trình lập pháp không phải lúc nào nhà làm luật cũng có thể tạo ra những “sản phẩm”
hoàn thiện mà đôi khi có thể đi ngược lại với ý muốn của mình. Đồng thời, nhà làm
luật cũng là những con người bình thường, họ không thể tiên liệu trước những khả
năng có thể xảy ra, vì vậy trong quá trình thi hành và áp dụng pháp luật sẽ làm phát
sinh một số vấn đề mà pháp luật hiện hành quy định “gần tới” hoặc có nhưng không rõ
ràng và cụ thể, khi đó đòi hỏi pháp luật phải được giải thích để sao cho chủ thể tiến
hành có thể áp dụng giải quyết vấn đề một cách hợp lý nhất. Bên cạnh đó, trình độ
nhận thức của mỗi người là khác nhau nên khó có thể hiểu hết, đúng với ý chí của nhà
làm luật hoặc một số đối tượng có thể lợi dụng để cố tình hiểu sai, hiểu lệch đi so với
mục đích mà nhà làm luật muốn hướng tới, từ đó có thể dẫn tới những tiêu cực cho xã
hội. Do đó, hoạt động giải thích pháp luật là một vấn đề rất cần thiết và quan trọng,
đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay khi mà các mối quan hệ trong xã hội ngày càng có
xu hướng phức tạp. Để hiểu rõ như thế nào là giải thích pháp luật? Có những cách thức
giải thích nào? Được tiến hành thông qua các phương pháp gì?...Giải đáp được vấn đề

mang quyền lực nhà nước.
Tuy nhiên, cho đến nay trong các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền vẫn chưa đưa ra được khái niệm chính thống về giải thích
pháp luật. Ngược lại, trong khoa học pháp lý lại có rất nhiều quan điểm khác nhau về
vấn đề này:
Thứ nhất, Phó Giáo Sư.Tiến Sĩ. Hoàng Thị Kim Quế cho rằng: “Giải thích pháp
luật được hiểu là việc làm sáng tỏ về tư tưởng, tinh thần, ý nghĩa và nội dung, mục
đích của các quy phạm pháp luật, đảm bảo cho việc nhận thức và thực hiện đúng,
thống nhất pháp luật ”1.
Đây là một khái niệm khá rõ ràng, vì đã nêu rõ hoạt động giải thích pháp luật là
như thế nào, không chỉ hướng đến việc giải thích về mặt nội dung mà còn đề cập đến
“tư tưởng, tinh thần” của quy phạm pháp luật mà các nhà làm luật đã “gửi gắm” vào
trong quy phạm pháp luật đó. Đây chính là những yếu tố mà nhất thiết trong khái niệm
về hoạt động giải thích pháp luật cần phải có. Tuy nhiên, cách định nghĩa này vẫn
chưa thể hiện hết nội dụng mà “khái niệm” cần có, đó là về mặt chủ thể. Bởi vì, khi
tiếp cận khái niệm chúng ta sẽ không thể biết được chủ thể nào có thẩm quyền giải
thích pháp luật. Do đó, người viết cho rằng định nghĩa này vẫn chưa đầy đủ.
Thứ hai, theo Tiến Sĩ. Phan Trung Hiền: “Giải thích pháp luật là hoạt động của
chủ thể có thẩm quyền hoặc không có thẩm quyền nhằm làm sáng tỏ tư tưởng, nội
dung và ý nghĩa của các quy phạm pháp luật, hướng đến việc nhận thức và áp dụng
pháp luật được đồng bộ và thống nhất”2.
Đây là khái niệm rất rõ ràng và đầy đủ hơn so với khái niệm trước đó. Khái
niệm đã nêu một cách rất cụ thể trong hoạt động giải thích pháp luật có hai loại chủ thể
giải thích, đó là chủ thể có thẩm quyền và chủ thể không có thẩm quyền. Người viết
nhận thấy cách phân chia này rất phù hợp với thực tế hiện nay, nước ta cũng tồn tại hai
loại hình giải thích pháp luật của hai loại chủ thể này. Đồng thời, trong một số giáo
trình ở các trường đào tạo luật của nước ta cũng phân loại giải thích pháp luật bằng

1


pháp, đến việc “giúp mọi người hiểu và thực thi các quy định của pháp luật một cách
chính xác và thống nhất ”. Tuy nhiên, theo nhận xét của người viết bản thân khái niệm
này vẫn chưa thỏa đáng ở chỗ “việc làm rõ hơn về tinh thần, nội dung, phạm vi, ý
nghĩa và mục đích các quy định của pháp luật so với nội dung ban đầu của nó”, như
vậy “nội dung ban đầu của nó” là nội dung gì? Nội dung đó như thế nào? Tại sao phải
làm rõ nội dung đó?...Theo quan điểm của người viết, “khái niệm” là làm rõ về vấn đề
đó một cách rõ ràng, chính xác, ngắn gọn, không nên đưa vào những nội dung có thể
đặt ra nhiều câu hỏi ngay trong khái niệm, điều đó là không logic. Hơn nữa, đưa vào
khái niệm nội dung này là không cần thiết, bởi quy phạm pháp luật cần được giải thích
là do không rõ nghĩa hay đa nghĩa nên cần phải tiến hành giải thích, đây chính là nội
dung ban đầu của quy phạm pháp luật nên khi giải thích là chủ thể giải thích tiến hành
giải thích chính nội dung này, do đó khái niệm trên đây không cần phải đề cập như
vậy.
Dù có rất nhiều khái niệm được đưa ra nhưng suy cho cùng tất cả đều có chung
một mục đích nhằm giải thích làm rõ các quy định của pháp luật để mọi người có cách
hiểu đúng, không rời xa với ý chí của nhà làm luật.
Về mặt từ ngữ, để tiến hành phân tích cụm từ “giải thích pháp luật”, điều trước
tiên cần làm là đi tìm hiểu thế nào là “giải thích”? và thế nào là “pháp luật”? Theo từ

3

GS.TS. Trần Ngọc Đường, giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2005, tr. 367.
Đại học luật Hà Nội, Giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2007, tr. 487.
4
TS. Hoàng Văn Tú, Giải thích pháp luật – Một vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn Việt Nam, Văn phòng
Quốc hội, Giải thích pháp luật – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn (Kỷ yếu Hội thảo quốc tế tại Hà Nội, tháng 2
- 2008), Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2009, tr. 37 – 48.

GVHD: ThS. Huỳnh Thị Sinh Hiền

việc nhận thức và áp dụng pháp luật được đồng bộ và thống nhất”.
1.2. Phân loại giải thích pháp luật
Cũng giống như khái niệm về hoạt động giải thích pháp luật, hiện nay ở nước ta
vẫn chưa có bất cứ một văn bản pháp luật nào chính thức phân loại hoạt động giải
thích pháp luật. Tuy nhiên, qua tìm hiểu một số bài viết nghiên cứu về lĩnh vực giải
thích pháp luật cũng như giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật của các trường đào
tạo luật ở nước ta. Người viết nhận thấy, tuy có nhiều cách phân loại khác nhau nhưng
nhìn chung hoạt động giải thích pháp luật được chia ra làm hai loại, đó là giải thích
không chính thức và giải thích chính thức. Tùy theo quan điểm của từng người mà có
những tiêu chí khác nhau.
Những tiêu chí ấy có thể là: Phụ thuộc vào chủ thể tiến hành giải thích và đặc
trưng của sự giải thích hoặc căn cứ vào giá trị pháp lý của nội dung giải thích6…
5
6

Từ điển Tiếng Việt thông dụng, Nxb. Thanh niên, 2009, tr. 228, 509.
Đại học luật Hà Nội, Giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2007, tr. 487.

GVHD: ThS. Huỳnh Thị Sinh Hiền

Trang 7

SVTH: Phạm Bửu Linh


Luận văn tốt nghiệp

Đề tài: Giải thích pháp luật – Thực trạng và giải pháp

Giải thích không chính thức là giải thích của bất kỳ một tổ chức hay cá nhân

hành chính là văn bản giải thích pháp luật không và cơ quan hành chính là chủ thể
thực hiện hoạt động đó?

7

Khoản 3 Điều 91 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001).

GVHD: ThS. Huỳnh Thị Sinh Hiền

Trang 8

SVTH: Phạm Bửu Linh


Luận văn tốt nghiệp

Đề tài: Giải thích pháp luật – Thực trạng và giải pháp

Theo phân tích của giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật (Trường Đại học
luật Hà Nội): “Giải thích chính thức được chia ra hai loại, đó là giải thích chính thức
mang tính quy phạm và giải thích cho những vụ việc cụ thể.
Giải thích chính thức mang tính quy phạm thường là kết quả của sự giải thích các văn
bản luật, văn bản của cơ quan cấp trên, văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn bằng các
văn bản có giá trị và hiệu lực pháp lý thấp hơn dưới dạng các văn bản hướng dẫn thi
hành của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để bảo đảm thực hiện, áp dụng thống
nhất luật pháp.
Giải thích chính thức cho những vụ việc cụ thể chỉ có hiệu lực đối với vụ việc pháp lý
cụ thể đó, còn đối với vụ việc khác nó không có giá trị.”8
Với cách phân tích này, người viết đồng ý khi nói giải thích của Thẩm phán là
“Giải thích chính thức cho những vụ việc cụ thể chỉ có hiệu lực đối với vụ việc pháp lý


SVTH: Phạm Bửu Linh


Luận văn tốt nghiệp

Đề tài: Giải thích pháp luật – Thực trạng và giải pháp

Cho nên, căn cứ vào thực tiễn cũng như qua những phân tích trong các tài liệu,
giáo trình, quan điểm của người viết là đồng tình với việc phân chia hoạt động giải
thích pháp luật ở nước ta thành hai loại: giải thích không chính thức và giải thích chính
thức.
1.3. Sự cần thiết của hoạt động giải thích pháp luật
Để thấy rõ được sự cần thiết của hoạt động giải thích pháp luật, trước tiên người
viết xin đưa ra một ví dụ điển hình, để từ đó đi đến từng phân tích những cái chung
nhất cho thấy hoạt động giải thích pháp luật quan trọng như thế nào trong một hệ
thống pháp luật, cụ thể ở đây là hệ thống pháp luật nước ta.
Ví dụ: Đoạn 3 điều 24 Bộ luật Tố tụng Hình sự được Quốc hội thông qua ngày
28-6-1988 có hiệu lực từ ngày 01-01-1989 (sau đây viết tắt là Bộ luật Tố tụng Hình sự
năm 1988) có quy định như sau: “Cơ quan đã làm oan phải khôi phục lại danh dự,
quyền lợi và bồi thường cho người bị thiệt hại. Cá nhân có hành vi trái pháp luật thì
tùy từng trường hợp bị xử lý kỹ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự”. Căn cứ vào
quy định này, trong thời gian thi hành Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 1988 đã có nhiều
người bị oan, do cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng gây ra, có đơn yêu
cầu đòi bồi thường thiệt hại thì các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự đã lúng túng, khi
giải quyết đơn yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại. Lúng túng về nhiều nội dung: trong đó
có việc xác định đối tượng gọi là bị oan, là người nào? Có phải chỉ có người bị tòa án
kết án oan mới được bồi thường thiệt hại hay là bao gồm cả những người bị tạm giữ
oan, người bị khởi tố về hình sự oan và người bị truy tố oan. Vì trong điều luật chỉ quy
định chung chung là: “Cơ quan đã làm oan…” mà lại không quy định chủ thể phải bồi

giải thích pháp luật ở Việt Nam là nói đến giải thích các văn bản quy phạm pháp luật
thành văn và không tồn tại giải thích tập quán pháp, tiền lệ pháp.
Các quy phạm pháp luật được đặt ra không phải để trực tiếp xử lý một hành vi
hay một vụ việc cụ thể nào đó mà là để điều chỉnh một loại hành vi hay một loại vụ
việc sẽ xảy ra trong tương lai. Phương pháp điều chỉnh của quy phạm pháp luật là
thông qua việc sử dụng ngôn ngữ pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ cụ thể một
cách khái quát và cố gắng bao trùm lên tất cả các vụ việc hay hành vi có thể xảy ra
trên thực tế mà nó muốn điều chỉnh. Để bảo đảm khái quát được một loại vụ việc hay
hành vi mà nó điều chỉnh, ngôn từ được sử dụng trong các quy phạm pháp luật thường
có tính khái quát cao. Tuy các văn bản quy phạm pháp luật thường có phần định nghĩa
để giải thích các thuật ngữ nhưng phần định nghĩa này không bao giờ có thể bao gồm
hết được các thuật ngữ trừu tượng cần được giải thích.
Chính đăc điểm này mà công tác giải thích pháp luật trở nên thật sự rất cần
thiết. Bởi vì,theo những đặc điểm trên mà người viết vừa phân tích, có thể thấy rằng
pháp luật thành văn được xây dựng với mục đích bao trùm lên tất cả các hành vi hay
vụ việc. Trong khi đó, hoạt động áp dụng pháp luật lại được thực hiện theo chiều
ngược lại, nghĩa là xuất phát từ những vụ việc cụ thể ngoài thực tế mà chủ thể có thẩm
quyền sẽ tìm ra quy phạm pháp luật thật sự phù hợp để điều chỉnh, mà thực tiễn thì vô
cùng đa dạng và luôn thay đổi. Như vậy, pháp luật thành văn khó có thể điều chỉnh tất
cả các vấn đề của thực tiễn, vì khi có một vụ việc cụ thể nào đó xảy ra thì người áp
dụng pháp luật sẽ có cảm giác không chắc chắn rằng quy phạm pháp luật mà mình lựa
chọn có phù hợp hay không. Cho nên, việc giải thích pháp luật là rất cần thiết. Nhưng
không chỉ đơn thuần là giải thích mà hoạt động giải thích cần phải có thêm yếu tố
thẩm quyền, tức là giải thích chính thức được thực hiện bởi cơ quan có thẩm quyền và
có giá trị pháp lý. Tính thẩm quyền mang đến cho hoạt động giải thích pháp luật tính
chính thức và có giá trị ràng buộc đối với tất cả các bên. Bởi khi có nhiều cách giải
thích khác nhau (giải thích không chính thức), tất nhiên đó sẽ là giải thích không có
giá trị pháp lý và chỉ mang tính tham khảo ngang nhau, không thể nào áp dụng được.
GVHD: ThS. Huỳnh Thị Sinh Hiền


quan nhà nước, thực hiện pháp luật và tìm hiểu pháp luật của công dân.Thông qua việc
làm rõ nội dung, ý nghĩa của các quy phạm pháp luật, giải thích pháp luật sẽ giúp các
chủ thể trong quan hệ pháp luật hiểu chính xác và thống nhất các quy định của pháp
luật, giúp họ tuân thủ, thi hành một cách đúng đắn. Qua đó, nó còn có một ý nghĩa rất
lớn là khắc phục, hạn chế được sự tùy tiện trong việc hiểu, vận dụng pháp luật và sự cố
tình hay vô ý hiểu sai lệch các quy định của pháp luật với mục đích không tốt. Giúp
cho pháp luật tăng cường tính nghiêm minh, hiệu quả trong quá trình áp dụng, tăng
cường pháp chế và bảo vệ trật tự pháp luật.
Như trên đã trình bày giải thích pháp luật nhằm muc đích để hiểu rõ tư tưởng,
nội dung của một quy phạm pháp luật, giúp cho việc thi hành pháp luật được thống
nhất và đúng với ý chí của nhà làm luật. Đồng thời giải thích pháp luật cũng là sự
minh bạch pháp luật của nhà nước pháp quyền nên giải thích pháp luật là một yêu cầu
khách quan của xã hội và của cả hệ thống công tác bảo vệ pháp luật.
GVHD: ThS. Huỳnh Thị Sinh Hiền

Trang 12

SVTH: Phạm Bửu Linh


Luận văn tốt nghiệp

Đề tài: Giải thích pháp luật – Thực trạng và giải pháp

Tóm lại, giải thích pháp luật là là sáng tỏ nội dung và tư tưởng của các quy phạm
pháp luật, để từ đó định ra một cách hiểu chung, mà cách hiểu chung đó phải đúng với
ý chí của nhà làm luật và phải thật sự đảm bảo đưa quy phạm được giải thích đó đi vào
thực tiễn áp dụng một cách hữu hiệu.
1.4. Phương pháp giải thích pháp luật
Hoạt động giải thích pháp luật bao gồm rất nhiều yếu tố cấu thành như: chủ thể

Nội, tháng 2 - 2008), Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2009, tr. 435 – 450.

GVHD: ThS. Huỳnh Thị Sinh Hiền

Trang 13

SVTH: Phạm Bửu Linh


Luận văn tốt nghiệp

Đề tài: Giải thích pháp luật – Thực trạng và giải pháp

Ví dụ: Tại điểm g Điều 9 Nghị định 146/2007 của Chính phủ quy định về những hành
vi gây nguy hiểm trong an toàn giao thông đường bộ sẽ bị xử phạt từ 100.000 đồng
đến 200.000 đồng, trong đó có hành vi “Người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô,
xe gắn máy không đội mũ bảo hiểm khi đi trên đường theo quy định ”. Như vậy, khi
giải thích điều luật này cần phải chú ý đến sự logic của điều luật chứ không chỉ đơn
thuần là giải thích theo câu chữ của điều luật. Bởi vì, nếu căn cứ vào từ ngữ có trong
điều luật thì chỉ những ai là người điều khiển phương tiện (ngồi phía trước) và người
ngồi phía sau mới phải đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông. Còn những người
đứng hay nằm trên phương tiện đó thì không phải đội mũ bảo hiểm? Nếu xét theo cách
hiểu như vậy thì không hợp lý chút nào, có thể sẽ xảy ra tiêu cực trong hoạt động giao
thông đường bộ, không đảm bảo an toàn cho người tham gia giao thông. Do đó, khi
tiến hành giải thích điều luật phải chú ý đến sự logic mà kết quả giải thích đưa ra cần
phải có và tính hợp lý của mục đích đưa ra quy định. Người tham gia giao thông phải
tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định để bảo đảm an toàn cho bản thân cũng như cho
người tham gia giao thông khác, các tư thế mà người viết vừa giả định ở trên đã xảy ra
trên thực tế và mức độ nguy hiểm là rất cao. Cho nên, điều luật phải được hiểu một
cách chính xác là: Bất kỳ người nào khi tham gia giao thông mà điều khiển phương

không đầy đủ… ý chí của Nhà nước.
Vậy vấn đề đặt ra ở đây là khi giải thích, các chủ thể tiến hành sẽ giải thích theo
ý chí đích thực của Nhà nước, mà người làm luật muốn thể hiện hay theo câu chữ đã
được thể hiện trong văn bản. Nếu ý chí của nhà nước được thể hiện một cách chính
xác và đầy đủ trong quy phạm hay văn bản pháp luật thì phương pháp giải thích trên là
phù hợp, chính xác và đầy đủ. Nói cách khác, ý chí nhà nước chính là những gì mà
ngôn từ đã thể hiện trong văn bản. Bất luận ý chí của nhà nước ra sao, nhưng nếu cơ
quan ban hành pháp luật đã thể hiện ra bằng câu chữ trong văn bản thế nào thì phải
hiểu đúng như câu chữ đã thể hiện. Tuy nhiên, do đặc thù của từ ngữ cùng với hạn chế
về trình độ lập pháp ở nước ta thì khó có thể đạt được tiêu chuẩn như trên. Với cách
lập luận này, người viết cho rằng khi tiến hành giải thích pháp luật, chủ thể tiến hành
nên giải thích đúng với nguyên văn các quy phạm pháp luật và một điều quan trọng
cần phải lưu tâm là không nên rời xa ý chí của nhà làm luật.
Ví dụ: Tại Điều 625 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về việc bồi thường thiệt hại do
súc vật gây ra. Như vậy, “súc vật” ở đây được hiểu như thế nào?
Theo từ điển Tiếng Việt thì “súc vật” có nghĩa là thú vật nuôi trong nhà11.
Trong thực tiễn sản xuất và đời sống xã hội của con người, súc vật đã trở thành sản
phẩm chăn nuôi hoặc thú nuôi phổ biến của con người, như trâu, bò, lợn… bản chất
súc vật là động vật hoang dã, mang bản tính thú dữ đã được con người thuần hóa, kiểm
soát được hoạt động và tuân thủ theo sự quản lý của con người.
Như vậy, “súc vật” là loài động vật hoang dã, được con người thuần hóa để
nuôi nhằm phục vụ cho một số hoạt động của con người, nên phải có trách nhiệm với
những thiệt hại mà nó gây ra. Theo đó, điều luật được hiểu như sau: Nếu tại thời điểm
con vật gây ra thiệt hại mà con vật đó là vật nuôi thuộc quyền sở hữu, chiếm hữu, sử
dụng của người nào thì người đó phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
1.4.3. Phương pháp giải thích chính trị - lịch sử
Là phương pháp tìm hiểu nội dung, tư tưởng quy định của pháp luật thông qua
việc nghiên cứu các điều kiện chính trị - lịch sử tại thời điểm ban hành quy định đó
hoặc văn bản quy phạm pháp luật đó và nhiệm vụ chính trị mà Nhà nước mong muốn
đạt được khi ban hành quy định hay văn bản pháp luật đó.

định và giải thích sao cho phù hợp với hoàn cảnh lúc ấy.
Việc tìm hiểu thông qua các báo cáo thuyết trình, giải trình về lý do ban hành
văn bản quy phạm pháp luật cũng góp phần giúp hiểu rõ hơn về nội dung của văn bản
cũng như mục đích của nhà làm luật khi ban hành. Nhưng trên thực tế, việc tìm hiểu
này đối với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì không khó, trong khi đối với
nhân dân cũng lại là điều vô cùng khó khăn và nhiều khi là không thể thực hiện được.
Vì vậy, Nhà nước cần nghiên cứu để làm sao công khai phổ biến các báo cáo
thuyết trình, giải trình về lý do ban hành văn bản quy phạm pháp luật đến với toàn xã
hội là điều hết sức hữu ích và cần thiết phải làm trong giai đoạn hiện nay để phục vụ
cho công tác giải thích và áp dụng pháp luật.
1.4.4. Phương pháp giải thích hệ thống
Với phương pháp này, chủ thể giải thích sẽ tiến hành làm rõ tư tưởng, nội dung
của quy phạm pháp luật thông qua việc đối chiếu nó với các quy phạm khác, xác định
vị trí, vai trò của quy phạm cần giải thích trong mối quan hệ với toàn văn bản, ngành
luật và hệ thống pháp luật. Phương pháp này giúp phát hiện ra những mâu thuẫn,
chồng chéo hay thiếu sót của quy phạm pháp luật hoặc của các bộ phận trong hệ thống
pháp luật.
Ví dụ: Khoản 2 Điều 647 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Người từ đủ mười lăm
tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám
12

TS. Phùng Trung Tập, Luật thừa kế Việt Nam (Sách chuyên khảo), Nxb. Hà Nội, Hà Nội, 2008, tr. 88-89.

GVHD: ThS. Huỳnh Thị Sinh Hiền

Trang 16

SVTH: Phạm Bửu Linh



người viết khi giải thích theo đúng như nguyên văn (nghĩa đen) mà lời giải thích đưa
ra không có ý nghĩa phù hợp hoặc vô lý đến không thể chấp nhập được, thì ta có thể
giải thích theo hướng mở rộng hay hạn chế lại để lời giải thích có nội dung và ý nghĩa
chấp nhận được.
Không chỉ nội dung của các quy pháp pháp luật không rõ ràng, đa nghĩa dẫn
đến cần phải có hoạt động giải thích pháp luật, mà cả trong trường hợp nội dung của
13

Khoản 1 Điều 647 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Người đã thành niên có quyền lập di chúc, trừ trường
hợp người đó bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của
mình”.

GVHD: ThS. Huỳnh Thị Sinh Hiền

Trang 17

SVTH: Phạm Bửu Linh


Luận văn tốt nghiệp

Đề tài: Giải thích pháp luật – Thực trạng và giải pháp

các quy phạm pháp luật khá rõ ràng nhưng do sự phát triển của các quan hệ xã hội dẫn
đến quy phạm pháp luật đó không còn phù hợp, đòi hỏi phải có cách giải thích mở
rộng phù hợp với sự phát triển của xã hội; hoặc khi xây dựng luật các nhà làm luật đã
không đặt ra quy tắc điều chỉnh quan hệ xã hội hoàn toàn tương tự dẫn đến phải có
cách giải thích mở rộng để áp dụng pháp luật tương tự.
Điều đó không có nghĩa là giải thích mở rộng hoặc hạn chế nội dung của các
quy phạm pháp luật một cách tùy tiện, mà theo người viết đó là sự bổ khuyết những


SVTH: Phạm Bửu Linh


Luận văn tốt nghiệp

Đề tài: Giải thích pháp luật – Thực trạng và giải pháp

ra. Vì vậy khi giải thích một quy phạm luật thì nguyên tắc này yêu cầu cơ quan có
thẩm quyền giải thích pháp luật không được làm thay đổi nội dung của quy phạm
thông qua hoạt động giải thích. Nếu ngôn ngữ của điều khoản luật đã đủ trong sáng và
đơn nghĩa thì phải tuyệt đối tuân theo và không cần giải thích gì thêm. Vì vậy, cơ quan
có thẩm quyền sẽ chỉ giải thích những thuật ngữ, khái niệm chưa rõ ràng hoặc đa nghĩa
mà thôi. Nguyên tắc tôn trọng sự trong sáng của ngôn ngữ của quy phạm yêu cầu là
khi giải thích một quy phạm pháp luật, cơ quan có thẩm quyền phải tôn trọng nguyên
văn nghĩa của từ ngữ cần được giải thích. Trong đó, theo cách hiểu phổ biến hoặc theo
từ điển và đặt trong bối cảnh cấu trúc ngữ pháp cũng như bối cảnh giả định của quy
phạm đó. Nguyên tắc này thể hiện sự tuyệt đối tuân thủ quy phạm pháp luật do cơ
quan lập pháp ban hành nên nó luôn được coi trọng nhất trong hoạt động giải thích
pháp luật.
1.5.2. Nguyên tắc tôn trọng ý chí của cơ quan lập pháp
Nguyên tắc tôn trọng ý chí của cơ quan lập pháp yêu cầu cơ quan có thẩm
quyền giải thích pháp luật phải tìm hiểu được và bám sát ý tứ và mục đích của cơ quan
lập pháp khi ban hành ra quy phạm pháp luật. Vì vậy, khi giải thích không được quá
xa rời tinh thần của cơ quan lập pháp định gửi gắm vào trong điều khoản luật. Nếu
việc giải thích mà không tôn trọng ý chí của cơ quan lập pháp và xa rời với tinh thần
của quy phạm, thì lúc này kết quả của giải thích pháp luật sẽ không khác gì với việc
ban hành pháp luật mới. Cho nên, cơ quan có thẩm quyền giải thích cần hiểu rằng hoạt
động giải thích pháp luật là hoạt động hỗ trợ cho hoạt động lập pháp. Vì thế, nguyên
tắc này cần phải được quán triệt trong suốt quá trình giải thích pháp luật. Đối với

được sử dụng để tiến hành giải thích pháp luật, hoạt động giải thích pháp luật cần thiết
như thế nào và cuối cùng là các nguyên tắc cần phải chú ý khi tiến hành giải thích
pháp luật. Từ đây có thể thấy rằng, hoạt động giải thích pháp luật đang là một vấn đề ít
được lưu tâm dù nó là vấn đề mang lại rất nhiều tác dụng tích cực. Hoạt động giải
thích pháp luật đã “xuất hiện” ngay trong Hiến pháp năm 1959, tính đến nay cũng đủ
thời gian để cơ quan lập pháp nước ta dành cho hoạt động này “sự ưu ái đặc biệt” đó là
xây dựng một đạo luật riêng để điều chỉnh vấn đề này. Nhưng cho đến nay, nhắc đến
hoạt động này thì nó vẫn còn tương đối xa lạ đối với nhiều người. Nguyên nhân chủ
yếu là thiếu một cơ chế pháp lý làm cơ sở cho hoạt động giải thích pháp luật, về vấn đề
này sẽ được người viết tập trung làm rõ ở chương hai.

GVHD: ThS. Huỳnh Thị Sinh Hiền

Trang 20

SVTH: Phạm Bửu Linh



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status