Tiểu luận môn ngân hàng thương mại tình hình nợ xấu và các biện pháp xử lý nợ xấu tại các ngân hàng thương mại - Pdf 48

BÀI LUẬN
TÌNH HÌNH NỢ XẤU VÀ CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ NỢ
XẤU TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

Sinh viên: Hoàng Kim Vân
Lớp: ĐHTN8A3
Giáo viên: Đỗ Mỹ Dung

1


LỜI MỞ ĐẦU
Thống kê 12 ngân hàng đã công bố BCTC 6 tháng đầu năm 2017 (bao gồm Vietcombank,
Vietinbank, BIDV, ACB, MBB, Eximbank, VIB, VPBank, Techcombank, NCB, SHB và
Sacombank) cho thấy, tổng nợ xấu ở mức hơn 65,5 nghìn tỷ đồng, tăng 10,7% so với đầu năm.
Về giá trị tuyệt đối, tất cả 12 ngân hàng khảo sát đều có số nợ xấu gia tăng. Tuy vậy, nhờ đẩy
mạnh tín dụng trong 6 tháng đầu năm nên chỉ có 5/12 ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu tăng so với đầu
năm, bao gồm Vietinbank, ACB, VIB, Techcombank và NCB.
Trong khi đó, tổng nợ nhóm 5, tức nợ có khả năng mất vốn cũng tăng 5,8%, lên gần 31,9 nghìn
tỷ đồng, chiếm 51,5% nợ xấu. 9/12 ngân hàng có tỷ lệ nhóm nợ này gia tăng bao gồm
Vietcombank, BIDV, Eximbank, MB, SHB, VPBank, VIB, Techcombank và NCB.
Có thể thấy rằng, ở Việt Nam hiện nay, tình hình nợ xấu của các ngân hàng ngày càng có chiều
hướng tăng. Do vậy, việc tìm ra các giải pháp hạn chế và phòng ngừa nợ xấu là rất quan trọng và
cấp thiết.

2


PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Tính cấp thiết của đề tài
Gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) thực sự là bước ngoặt lớn của nền kinh tế Việt

Biểu đồ 1: Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ của toàn bộ nền kinh tế giai đoạn từ năm 1999 đến năm
2004 (đơn vị %)

Nguồn: số liệu thống kê của ngân hàng nhà nước
Trong giai đoạn này, tỷ lệ nợ xấu giảm dần, từ 13,7% năm 1999 xuống còn 12,7% năm 2000 và
giảm đều trong các năm tiếp theo từ 8,53% năm 2001, 7,2% năm 2002, 4,74% năm 2003, và
2,85% năm 2004. Đồng thời dư nợ tín dụng vẫn tăng trưởng đều từ 255 nghìn tỷ đồng vào năm
2002 lên đến 297 nghìn tỷ năm 2003 và 420 nghìn tỷ năm 2004. Từ đó có thể thấy:
- Tổng dư nợ năm sau cao hơn năm trước, biểu hiện sự tăng trưởng về tín dụng của nền kinh tế.
- Tỷ lệ phần trăm nợ xấu giảm dần, và đều nằm trong giới hạn chấp nhận được (nhỏ hơn 5%),
cho thấy Nhà nước cùng các ngân hàng vẫn quản lý tốt nợ xấu.
Có được như vậy phải nói đến sự chuyển động về chất trong xử lý nợ xấu các ngân hàng thương
mại được đặt mốc sơ khai vào những năm 1999 - 2000, khi NHNN quyết định cho phép các ngân
hàng được trích dự phòng các khoản nợ rủi ro, đồng thời đưa ra nhiều biện pháp tổ chức, sắp xếp
lại các Quỹ TDND theo đúng quy định của Luật các TCTD, kết hợp với tăng cường công tác
kiểm tra, chỉ đạo hoạt động, ứng cứu kịp thời để giảm tình trạng nợ tồn đọng tại các Quỹ TDND
và tránh xảy ra một cuộc khủng hoảng mới. Có thể nói, việc tiến hành tái cơ cấu tài chính các
NHTM là một cuộc cách mạng lớn, mang lại tác dụng rõ rệt.
1.2. Giai đoạn 2005 – 2010
4


Nhìn chung, trong giai đoạn này, dư nợ tín dụng tiếp tục tăng trưởng, đáp ứng nhu cầu vốn
cho nền kinh tế.
Biểu đồ 2: Tín dụng ngân hàng qua các năm

Nguồn: Báo cáo thường niên 2008, NHNN
Về vấn đề nợ xấu, tuy đạt được một số chuyển biến tích cực trong thời kì trước, nhưng năm
2005 là năm bắt đầu thực hiện quy định mới về phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro phù
hợp dần với thông lệ quốc tế nên một số NHTM lại phát sinh các khoản nợ quá hạn mới do

Tuy nhiên, con số mà NHNN vừa cập nhật tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng tính đến tháng
6/2013 chỉ còn ở mức 4,46%, giảm đáng kể so với mức 4,65% tính đến cuối tháng 5/2013.
Tại thời điểm đó, có 15 ngân hàng công bố báo cáo tài chính 6 tháng đầu năm. Trong số các
ngân hàng đã niêm yết thì tỷ lệ nợ xấu của SHB đang dẫn đầu với 9%, tiếp đến là Navibank với
6,1% và TechcomBank (5,28%). Các ngân hàng còn lại đều có nợ xấu dưới 3% như ACB 2,99%;
Sacombank 2,55%; Vietinbank 2,1%; Vietcombank 2,81%; Eximbank 1,49% và MB 2,44%.
Theo báo cáo của các ngân hàng, nợ xấu có vẻ đã giảm khi hầu hết ngân hàng đều có tỷ lệ nợ
xấu dưới mức 3%- mức được xem là an toàn, nằm trong tầm kiểm soát. Tuy nhiên, theo tính
toán, các ngân hàng này chiếm khoảng 75% tổng dư nợ của toàn hệ thống. Trong khi đó, kết quả
khảo sát mới đây của Vụ Dự báo thống kê tiền tệ, NHNN cho thấy, trong số 124 TCTD tham gia
khảo sát, có khoảng 30 TCTD khai báo tỷ lệ nợ xấu ở mức trên 3%, chiếm khoảng 1/4 số lượng
TCTD hiện nay. Báo cáo cũng cho thấy, có tới trên 50% TCTD dự kiến tỷ lệ nợ xấu tại thời điểm
cuối năm 2013 sẽ không đổi hoặc tăng so với cuối năm 2012.
2014 – 2015
Giai đoạn 2014- 2015 với tiến trình tái cấu trúc ngành ngân hàng Việt Nam đã có những cải
thiện đáng ghi nhận. Trong đó, với xử lý nợ xấu, chỉ sau hơn 1 năm kể từ khi VAMC ra đời, công
ty này đã mua được khối lượng nợ xấu lên tới trên 100.000 tỷ đồng từ các ngân hàng thương mại
Việt Nam trong năm qua và dự kiến mua thêm trên 80.000 tỷ đồng nợ xấu trong năm nay.
Riêng năm 2014, VAMC đã mua khoảng 90.000 - 95.000 tỷ đồng nợ xấu với giá mua là trên
70.000 tỷ đồng. Mặt khác, VAMC đẩy mạnh mua nợ xấu của ngân hàng, nhưng đó là nợ xấu
trong quá khứ, tức nợ xấu đã phát sinh.
Sau M&A của một loạt các phi vụ như: Ngân hàng nhà nước mua lại các ngân hàng xây dựng
VNCB, ngân hàng dầu khí GP Bank, và ngân hàng đại dương Ocenbank với mức giá 0 đồng
cùng và quá trình tái cơ cấu, nợ xấu của các ngân hàng thương mại được đưa về dưới ngưỡng an
toàn 3%. Hơn nữa, sau sự chỉ đạo NHNN Việt Nam đã ban hành Thông tư 36/2014/TT-NHNN
có hiệu lực từ ngày 1/2/2015, buộc các nhà băng thắt chặt lại nguồn tiền tín dụng vào chứng
khoán.

7


8


Nửa đầu năm 2017
Như đã trình bày tại lời mở đầu, số liệu thống kê cho thấy, tổng nợ xấu ở mức hơn 65,5 nghìn tỷ
đồng, tăng 10,7% so với đầu năm. rước đó, vào quý I/2017, thống kê từ 10 ngân hàng
(Vietcombank (VCB), Vietinbank (CTG), BIDV (BID), MB Bank (MBB), VIB, Sacombank
(STB), Eximbank (EIB), Techcombank, Kienlongbank, BacABank) của Công ty Chứng khoán
Bảo Việt (BVSC) cho thấy, tính đến hết quý I/2017, tổng nợ xấu (từ nhóm 3 đến nhóm 5) đạt
50.695 tỷ đồng, tăng nhẹ 6% so với thời điểm cuối năm ngoái. Dẫn đầu là STB- ngân hàng có tỷ
lệ nợ xấu cao nhất trong số các ngân hàng.

9


Tình hình nợ xấu các ngân hàng trong quý I/2017
Kết thúc quý II, đã có 12 ngân hàng công bố BCTC bán niên (bao gồm Vietcombank,
Vietinbank, BIDV, ACB, MBB, Eximbank, VIB, VPBank, Techcombank, NCB, SHB và
Sacombank). Kết quả cho thấy, tổng nợ xấu ở mức hơn 65,5 nghìn tỷ đồng, tăng 10,7% so với
đầu năm, tất cả 12 ngân hàng khảo sát đều có số nợ xấu gia tăng.
Ở nhóm 5, nợ có khả năng mất vốn cũng tăng 5,8%, lên gần 31,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 51,5% nợ
xấu. 9/12 ngân hàng có tỷ lệ nhóm nợ này gia tăng bao gồm Vietcombank, BIDV, Eximbank,
MB, SHB, VPBank, VIB, Techcombank và NCB.

10


Nợ xấu tăng mạnh nhất trong kỳ là ngân hàng TMCP Quốc dân (NCB - mã: NVB), tiền thân là
Ngân hàng TMCP Nam Việt (Navibank) vừa công bố Báo cáo tài chính (BCTC) hợp nhất quý
2/2017, ghi nhận kết quả trong quý ở hầu hết các hoạt động khả quan hơn so với cùng kỳ năm

cuối năm 2016. Hay ngân hàng OCB cũng dự định làm sạch danh mục nợ xấu bán cho VAMC
trong năm 2017 và đưa tỷ lệ nợ xấu về mức 1%.
Có nhiều lý do để các ngân hàng phải tính cách thức xử lý nợ xấu chủ động một cách mạnh
mẽ trong năm nay. Trong đó, nguyên nhân chính phải kể đến là một số ngân hàng đã giảm được
tỷ lệ nợ xấu nội bảng, hoạt động kinh doanh ghi nhận lợi nhuận tốt hơn trong năm 2016 và kế
hoạch lợi nhuận tăng cao hơn trong năm 2017, gíup trích lập quỹ dự phòng rủi ro đầy đủ cho các
khoản nợ xấu. Thị trường bất động sản đang ấm dần lên ở nhiều phân khúc kể từ năm 2015 cho
đến nay cũng là một nguyên nhân, đặc biệt là phân khúc đất nền không chỉ trong khu vực nội
thành mà còn ở các tỉnh xung quanh TP.HCM, Hà Nội… tạo cơ hội tốt trong việc xử lý tài sản
đảm bảo bằng bất động sản- đây là tài sản thế chấp cho phần lớn các khoản nợ xấu tại các ngân
hàng. Từ đó, các ngân hàng có đủ tiềm lực để quay trở lại mua khoản nợ xấu đã bán cho VAMC
và đây là một tín hiệu đáng mừng đối với quá trình xử lý nợ của hệ thống ngân hàng.
Tính đến thời điểm giữa tháng 3/2017, sau 3 năm rưỡi hoạt động, VAMC đã mua tổng cộng
được 25.631 khoản nợ xấu tại 42 tổ chức tín dụng tại Việt Nam, với tổng dư nợ gốc 282.124 tỷ
đồng, giá mua nợ là 245.672 tỷ đồng, thanh toán bằng trái phiếu đặc biệt. Tuy nhiên, VAMC chỉ
mới thu hồi nợ được 50.165 tỷ đồng bằng nhiều hình thức bán nợ, bán tài sản bảo đảm, đạt tỷ lệ
12


17,6% so với tổng dư nợ gốc và dự kiến trong 4 năm tới sẽ xử lý thêm được 150.000 tỷ đồng nợ
xấu.
Việc chậm thu hồi nợ xấu từ VAMC xuất phát từ các nguyên nhân cơ bản như: việc bỏ quyền
thu giữ tài sản đảm bảo trong Bộ luật dân sự 2015, VAMC không được nhận thế chấp quyền sử
dụng đất theo Luật đất đai 2013, VAMC không có quyền xử lý tài sản bảo đảm, tài sản bảo đảm
bị kê biên của bên phải thi hành án đang thế chấp/cầm cố tại ngân hàng đảm bảo cho khoản vay
theo Luật thi hành án dân sự 2008… Cho nên, đây được xem là các số liệu khá khiêm tốn so với
sự kỳ vọng của các ngân hàng khi bán nợ cho công ty này. Hơn nữa, tuy đã bán nợ cho VAMC,
các ngân hàng vẫn phải tiếp tục trích lập dự phòng ở mức 20% đối với mệnh giá trái phiếu trong
vòng 5 năm (chỉ trừ vài trường hợp đặc biệt là được trích lập dự phòng ở mức 10%). Do đó, các
ngân hàng nên nỗ lực tăng cường để tự xử lý các khoản nợ xấu của mình trong thời gian tới vẫn

về pháp lý trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm, xử lý nợ xấu của VAMC và tại các ngân hàng
và đã đưa vào Dự thảo Luật hỗ trợ tái cơ cấu các tổ chức tín dụng và xử lý nợ xấu.
Trong Dự thảo luật lần này sẽ được trình trước Quốc hội đã bao gồm các quy định của pháp
luật về xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ khi các quy định cũ đã còn nhiều bất cập làm hạn chế
tiến độ, hiệu quả của việc xử lý nợ như vướng mắc về thu giữ tài sản, về quyền nhận tài sản bảo
đảm là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất; về phí thi hành án, về kê biên tài sản bảo
đảm ...
Do đó, với các sự khơi thông trong việc xử lý nợ xấu bằng sự thay đổi và hoàn thiện hệ thống
pháp luật sắp tới, ngân hàng cần phối hợp chặt chẽ với VAMC và khách hàng để tiếp tục tích cực
xử lý hiệu quả và nhanh chóng hơn nữa các khoản nợ đang tồn đọng không chỉ tại VAMC mà
còn đang nằm trên bảng cân đối kế toán của ngân hàng.
2. Về phía cơ quan Nhà nước
Theo báo cáo của Vụ Pháp chế - Ngân hàng Nhà nước (NHNN), sau gần 4 năm triển khai thực
hiện Đề án “Xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD” và Đề án “Thành lập Công ty Quản lý tài sản
của các TCTD Việt Nam” (VAMC) ban hành kèm theo Quyết định số 843/QĐ-TTg ngày
14


31/5/2013, đến nay, việc xử lý nợ xấu của hệ thống TCTD đã đạt được một số kết quả nhất định.
Các TCTD đã xây dựng và triển khai phương án xử lý nợ xấu, tích cực triển khai các biện pháp
kiểm soát nợ xấu phát sinh và nâng cao chất lượng tín dụng, trong 04 năm (từ 2012-2016), toàn
hệ thống TCTD đã xử lý được 611,59 nghìn tỷ đồng nợ xấu. Kết quả xử lý nợ xấu đã góp phần
giúp các TCTD mở rộng tín dụng cho nền kinh tế, đặc biệt là các lĩnh vực ưu tiên, ngành chiến
lược theo định hướng tái cấu trúc nền kinh tế, góp phần tháo gỡ khó khăn trong sản xuất kinh
doanh và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Ngoài ra, VAMC cũng góp phần xử lý nợ xấu. Tính đến
cuối năm 2016, VAMC đã cùng với các TCTD xử lý được 50.139 tỷ đồng nợ xấu trong tổng số
245.924 tỷ đồng nợ xấu đã mua bằng trái phiếu đặc biệt. Bên cạnh đó, việc xử lý nợ xấu của các
TCTD cũng được thúc đẩy mạnh mẽ thông qua quá trình thực hiện Đề án cơ cấu lại hệ thống các
TCTD. Đồng thời, NHNN đã triển khai đồng bộ một số giải pháp phòng ngừa nợ xấu, kiểm soát
nâng cao chất lượng tín dụng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status