LỜI NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
2
LỜI MỞ ĐẦU
Không lúc nào như thời gian từ năm 2008 đến nay, vấn đề lạm phát thu hút
rất nhiều sự quan tâm của nhiều nước khác nhau trên thế giới và một trong đó có
Việt Nam của chúng ta. Trong nền kinh tế thị trường hoạt động đầy sôi động và
cạnh tranh gay gắt để thu được lợi nhuận cao và đứng vững trên thương trường,
các nhà kinh tế cũng như các doanh nghiệp phải nhanh chóng để tiếp cận, nắm bắt
những vấn đề của nền kinh tế mới. Riêng đối với nước ta, trong sự nghiệp phát
triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết của nhà nước,
cơ chế mới sẽ là môi trường thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế theo xu hướng
1.1 Khái niệm
- Lạm phát là một phạm trù vốn có của nền kinh tế thị trường, nó xuất hiện khi các
yêu cầu của các quy luật kinh tế hàng hoá không được tôn trọng,nhất là quy luật
lưu thông tiền tệ. Ở đâu còn sản xuất hàng hoá , còn tồn tại những quan hệ hàng
hoá tiền tệ thì ở đó còn ẩn náu khả năng lạm phát và lạm phát chỉ xuất hiện khi các
quy luật của lưu thông tiền tệ bị vi phạm.
- Trong bộ "Tư bản" nổi tiếng của mình C. Mác viết: "Việc phát hành tiền giấy
phải được giới hạn ở số lượng vàng hoặc bạc thực sự lưu thông nhờ các đại diện
tiền giấy của mình". Điều này có nghĩa là khi khối lượng tiền giấy do nhà nước
phát hành vào lưu thông vượt quá số lượng vàng mà nó đại diện thì giá trị của tiền
giấy giảm xuống và tình trạng lạm phát xuất hiện.
- Một định nghĩa nữa về lạm phát do các nhà kinh tế học hiện đại đưa ra và nó
được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực nghiên cứu thị trường: "Lạm phát là sự tăng
lên của mức giá trung bình theo thời gian"
- Lạm phát được đặc trưng bởi chỉ số lạm phát. Nó chính là GNP danh nghĩa/GNP
thực tế. Trong thực tế nó được thay thế bằng tỷ số giá tiêu dùng hoặc chỉ số giá
bán buôn Ip = Σip.d
Ip: chỉ số giá cả của từng loại nhóm hàng
d: tỷ trọng mức tiêu dùng của từng loại hàng.
1.2 Phân loại lạm phát
Căn cứ vào tốc độ lạm phát người ta chia ra làm ba loại lạm phát khác nhau:
1.2.1 Lạm phát vừa phải
Còn gọi là lạm phát một con số, có tỷ lệ lạm phát dưới 10% một năm. Lạm
phát vừa phải làm cho giá cả biến động tương đối.Trong thời kỳ này nền kinh tế
hoạt động bình thường, đời sống của người lao động ổn định. Sự ổn định đó được
biểu hiện: giá cả tăng lên chậm, lãi suất tiền gửi không cao, không xảy ra với tình
5
trạng mua bán và tích trữ hàng hoá với số lượng lớn... Có thể nói lạm phát vừa
thị trường đều bị biến dạng bóp méo hoặc bị thổi phồng do vậy các hoạt động kinh
doanh rơi vào tình trạng rối loạn. Siêu lạm phát thực sự là một tai hoạ, song điều
may mắn siêu lạm phát là hiện tượng cực hiếm. Nó đã xảy ra trong thời kỳ chiến
tranh, sau chiến tranh.
Có thể có một cách phân loại lạm phát tuỳ theo tác động của chúng đối với
nền kinh tế. Nhà kinh tế học người Mỹ PaunA. Samuelson đã phân biệt lạm phát
cân bằng và có dự đoán trước với lạm phát không cân bằng và không được dự
đoán trước. Theo Samuelson trong trường hợp lạm phát cân bằng và có dự đoán
trước, toàn bộ giá cả đều tăng và tăng với một chỉ số ổn định được dự báo, mọi thu
nhập cũng tăng theo. Chẳng hạn mức lạm phát là 10% và mọi người sẽ điều chỉnh
hoạt động của mình theo thuớc do đó. Nếu lãi suất thực tế là 6% một năm thì nay
những người có tiền cho vay sẽ điều chỉnh mức lãi suất này lên tới 16% một năm.
Công nhân viên chức sẽ được tăng lương lên 10% một năm... Vậy là một cuộc lạm
phát cân bằng và có dự đoán trước đã không gây ra một tác hại nào đối với sản
lượng thực tế, hiệu quả hoặc phân phối thu nhập.Trên thực tế hiếm có thể xảy ra
một cuộc lạm phát như vậy, vì khi một khối lượng tiền tệ được ném thêm vào lưu
thông, già cả mọi hàng hoá không vì thế mà tăng ngay, và nếu lạm phát chưa sang
giai đoạn phi mẫ thí mức gia tăng mức đầu thường là thấp hơn mức tăng khồi
lượng tiền tệ, do vậy nhà nước đã có lợi về thu nhập và ngay khi mức giá cả tăng
lên ngang hoặc cao hơn mức tăng của khối lượng tiền tệ thì nhà nước vẫn có lợi vì
giá trị tiền tệ của những người cho nhà nước vay tiền đã giảm đi. Chỉ đến khi toàn
bộ giá cả kể cả lãi suất và tiền lương đều tăng theo mức lạm phát thu thu nhập của
nhập của nhà nước mới cân bằng trên một mặt bằng giá cả mới. Hơn nữa trong
thực tế rất khó dự báo được một chỉ số lạm phát ổn định, vì có khá nhiều yếu tố
làm giá cả tăng vọt như: giá dầu mỏ đã tăng trong những năm 70, hay trong sự
kiện chiến tranh vùng vịnh.
7
8
cả lao động... một khi những giá cẩ náy tăng hay giảm đột biến và liên tục thì
những yếu tố của thị trường không thể tránh khỏi bị thổi phồng hoặc bóp méo.
Do những tác hại nêu trên, loại lạm phát không cân bằng và không dự đoán trước
về cơ bản là có hại cho hoạt động của thi trường.
2. Nguyên nhân lạm phát
2.1 Lạm phát theo thuyết tiền tệ
Kinh tế đi vào lạm phát, đồng tiền mất giá... có nhiều nguyên nhân dẫn đến
lạm phát. Chẳng hạn thời tiết không thuận, mất mùa, nông dân thu hoạch thấp, giá
lương thực tăng lên. Giá nguyên vật liệu tăng làm cho giá cả hàng tiêu dùng tăng
lên. Khi tiền lương tăng, chi phí sản xuất cũng tăng theo, dẫn đến giá các mặt hàng
cũng tăng. Tăng lương đẩy giá lên cao. Tóm lại, lạm phát là hiện tượng tăng liên
tục mức giá chung và có thể giải thích theo 3 cách.
- Theo học thuyết tiền tệ, lạm phát là kết quả của việc tăng quá thừa mức cung
tiền.
- Theo học thuyết Keynes, lạm phát xẩy ra do thừa cầu về hàng hoá và dịch vụ
trong nền kinh tế (do cầu kéo).
- Theo học thuyết chi phí đẩy, lạm phát sinh ra do tăng chi phí sản xuất (chi phí
đẩy)
Trên thực tế lạm phát là kết quả của tổng thể 3 nguyên nhân trên, mỗi nguyên
nhân có vai trò khác nhau ở mỗi thời điểm khác nhau.
Mức cung tiền là một biến số duy nhất trong đẳng thức tỷ lệ lạm phát, mà dựa vào
đó ngân hàng Trung ương đã tạo ra ảnh hưởng trực tiếp. Trong việc chống lạm
phát, các ngân hàng Trung ương luôn giảm sút việc cung tiền.
Tăng cung tiền có thể đạt được bằng hai cách:
- Ngân hàng trung ương in nhiều tiền hơn (khi lãi suất thấp và điều kiện kinh
doanh tốt).
- Các ngân hàng thương mại có thể tăng tín dụng
từ phía cung, do chi phí sản xuất cao hơn đã được chuyển sang người tiêu dùng.
Điều này chỉ có thể được trong giai đoạn tăng trưởng kinh tế khi người tiêu dùng
sẵn sàng trả với giá cao hơn.
Ví dụ:
10
Nếu tiền lương chiếm một phần đáng kể trong chi phí sản xuất và dịch vụ.
Nếu tiền lương tăng nhanh hơn năng suất lao động thì tổng chi phí sản xuất sẽ tăng
lên. Nếu nhà sản xuất có thể chuyển việc tăng chi phí này cho người tiêu dùng thì
giá bán sẽ tăng lên, công nhân và các công đoàn sẽ yêu cầu tiền lương cao hơn
trước để phù hợp với chi phí sinh hoạt tăng lên, điều đó tạo thành vòng xoáy lượng
giá.
Một yếu tố chi phí chính khác là giá cả nguyên vật liệu đặc biệt là dầu thô.
Trong năm 1972 - 1974 hầu như giá dầu quốc tế tăng 5 lần dẫn đến lạm phát tăng
từ 4,6% đến 13,5% bình quân trên toàn thế giới.
Ngoài ra sự suy sụp của giá dầu (1980) làm cho lạm phát giảm xuống mức thấp
chưa từng thấy.
Bên cạnh những yếu tố gây nên lạm phát đó là giá nhập khẩu cao hơn được
chuyển cho người tiêu dùng nội địa. Nhập khẩu càng trở nên đắt đỏ khi đồng nội
tệ yếu đi hoặc mất giá so với đồng tiền khác. Ngoài ra yếu tố tâm lý
dân chúng, sự thay đổi chính trị, an ninh quốc phòng... Song nguyên nhân trực
tiếp vẫn là số lượng tiền tệ trong lưu thông vượt quá số lượng hàng hoá sản xuất
ra. Việc tăng đột ngột của thuế (VAT) cũng làm tăng chỉ số giá.
2.4 Lạm phát dự kiến
Trong nền kinh tế, trừ siêu lạm phát, lạm phát phi mã, lạm phát vừa phải có
xu hướng tiếp tục giữ mức lịch sử của nó. Giá cả trong trường hợp này tăng đều
một cách ổn định. Mọi người thể dự kiến được trước nên còn gọi là lạm phát dự
kiến.
2.5 Các nguyên nhân khác
Nếu một doanh nghiệp nào đó có tỷ suất lợi nhuận thấp hơn lạm phát sẽ có nguy
cơ phá sản rất lớn.
- Đối với lĩnh vực lưu thông
Lạm phát thúc đẩy quá trình đầu cơ tích trữ dẫn đến khan hiếm hàng hoá. Các nhà
doanh nghiệp thấy rằng việc đầu tư vốn vào lĩnh vực lưu thông. Thậm chí khi lạm
phát trở nên khó phán đoán thì việc đầu tư vốn vào lĩnh vực sản xuất sẽ gặp phải
rủi ro cao. Do có nhiều người tham giâ vào lĩnh vực lưu thông nên lĩnh vực này trở
12
nên hỗn loạn. Tiền ở trong tay những người vừa mới bán hàng xong lại nhanh
chóng bị đẩy vào kênh lưu thông, tốc độ lưu thông tiền tệ tăng vọt và điều này làm
thúc đẩy lạm phát gia tăng.
- Đối với lĩnh vực tiền tệ, tín dụng:
Lạm phát làm cho quan hệ tín dụng, thương mại và ngân hàng bị thu hẹp. Số
người gửi tiền vào ngân hàng giảm đi rất nhiều. Về phía hệ thống ngân hàng, do
lượng tiền gửi vào giảm mạnh nên không đáp ứng được nhu cầu của người đi vay,
cộng với việc sụt giá của đồng tiền quá nhanh, sự điều chỉnh lãi suất tiền gửi
không làm an tâm những người hiện đang có lượng tiền mặt nhàn rỗi trong tay. Về
phía người đi vay, họ là những người có lợi lớn nhờ sự mất giá đồng tiền một cách
nhanh chóng. Do vậy, hoạt động của hệ thống ngân hàng không còn bình thường
nữa. Chức năng kinh doanh tiền bị hạn chế, các chức năng của tiền tệ không còn
nguyên vẹn bởi khi có lạm phát thì chẳng có ai tích trữ của cải hình thức tiền mặt.
- Đối với chính sách kinh tế tài chính của nhà nước:
Lạm phát gây ra sự biến động lớn trong giá cả và sản lượng hàng hoá, khi lạm phát
xảy ra những thông tin trong xã hội bị phá huỷ do biến động của giá cả làm cho thị
trường bị rối loạn. Người ta khó phân biệt được những doanh nghiệp làm ăn tốt và
kém. Đồng thời lạm phát làm cho nhà nước thiếu vốn, do đó nhà nước không còn
đủ sức cung cấp tiền cho các khoản dành cho phúc lợi xã hội bị cắt giảm... các
ngành, các lĩnh vực dự định đựơc chính phủ đầu tư và hỗ trợ vốn bị thu hẹp lại
hội đề ra đầu năm.
14
Trong tháng 12/2010, mức tăng giá tiêu dùng (CPI) của cả nước là 1,98%,
cũng là mức tăng cao nhất trong năm. Đóng góp chủ yếu vào con số này là mức
tăng giá ở khu vực hàng ăn và dịch vụ ăn uống, tăng 3,31% (riêng lương thực tăng
tới 4,67%). Cũng trong tháng này, giá nhà ở và vật liệu xây dựng cũng tăng mạnh
tới 2,53%.
Tuy nhiên, tính chung trong cả năm 2010, giáo dục mới là nhóm tăng giá
mạnh nhất trong rổ hàng hóa tính CPI (gần 20%). Tiếp đó là hàng ăn (16,18%) và
nhà ở - vật liệu xây dựng (15,74%). Bưu chính viễn thông là nhóm duy nhất giảm
giá với mức giảm gần 6% trong năm 2010.
Về các địa phương, việc Hà Nội và TP HCM có mức tăng giá (lần lượt là
1,83% và 1,61%) thấp hơn so với trung bình cả nước trong tháng 12 là một diễn
biến khá bất ngờ. Trong khi đó, những địa phương có mức trượt giá mạnh trong
tháng (khoảng 2%) là Thái Nguyên, Hải Phòng và Gia Lai.
Trong tháng 12, giá vàng và đôla Mỹ không leo thang mạnh như những
tháng trước (lần lượt tăng 5,43% và 2,86%). Tuy nhiên, tính chung trong cả năm
2010, giá vàng đã tăng tới 30% trong khi mức tăng của đôla Mỹ là xấp xỉ 10%.
15
2. Đặc trưng lạm phát của nước ta
Lạm phát ở Việt Nam cũng có những biểu hiện chung giống với lạm phát ở
các quốc gia khác như: chỉ số giá cả nói chung tăng phổ biến do vậy giá trị của
đồng tiền giảm. Song lạm phát ở Việt Nam có đặc trưng riêng do điều kiện kinh tế
xã hội cụ thể:
trong việc góp phần tăng lạm phát.
- Lạm phát của một nền kinh tế đóng, phụ thuộc một chiều vào các nguồn tài trợ từ
bên ngoài. Việt Nam đóng cửa nền kinh tế, không quan hệ kinh tế với các nước
TBCN. Chính sách này ra đời do sự thù địch, cấm vậncủa Mỹ. Nguyên nhân nữa
dẫn đến sự đóng góp của nền kinh tế là do sự đối đầu đông tây mà Việt Nam và
các nước XHCN là 1 cực. Sự bó hẹp nền kinh tế này đã dẫn đến những khó khăn
đáng kể cho sản xuất kinh doanh.
- Ngoài những đặc điểm trên thì lạm phát Việt Nam có cơ cấu của nó bao gồm
những ngành kém hiệu quả có được sự ưu tiên phát triển. Mọi người đều thấy sự
mất cân đối khi ưu tiên phát triển công nghiệp nặng (vốn lớn, thu hồi lãi chậm).
- Lạm phát ở một nước chịu ảnh hưởng nặng nề của các cuộc chiến tranh kéo dài
do đó chi phí cho lĩnh vực quốc phòng lớn, tiền trợ cấp gia đình chính sách...
Những khoản này đã làm tăng thêm thâm hụt ngân sách và tăng lạm phát.
- Việt Nam là nước nông nghiệp mà luôn chịu ảnh hưởng của thiên tai, hạn hán,
mất mùa... Do đó, ngân sách hụt đi do phải chi ra 1 khoản trợ cấp cho các vùng
thiên tai.
3. Nguyên nhân thực sự gây ra lạm phát cao ở Việt Nam
Có thể tóm tắt các yếu tố tác động đến lạm phát xuất phát từ 3 nguyên nhân
chính: cung tiền tăng quá mức, giá hàng hóa thế giới tăng cao đột ngột, và sức cầu
về hàng hóa trong nước tăng trong khi sản xuất chưa đáp ứng kịp.
Thời gian qua, nhiều ý kiến đồng thuận cho rằng cung tiền được xem là nguyên
nhân chính gây ra lạm phát ở Việt Nam. Từ năm 2000 đến năm 2009, tín dụng
trong nền kinh tế tăng hơn 10 lần, cung tiền M2 tăng hơn 7 lần, trong khi đó GDP
thực tế chỉ tăng hơn 1 lần. Điều này tất yếu dẫn đến đồng tiền bị mất giá. Thực tế
17
chúng ta dễ nhận thấy là lạm phát ở Việt Nam cao hơn rất nhiều so với các quốc
gia khác trong cùng thời kỳ, mặc dù cùng chịu chung cú sốc tăng giá của hàng hóa
điện nước, điều chỉnh tỷ giá...), (ii) nguyên nhân cầu kéo (kích cầu, thâm hụt ngân
sách…), (iii) nguyên nhân tiền tệ (tăng cung tiền, tăng tín dụng…).
4.1.Điều chỉnh giá điện, xăng dầu và một số hàng hóa cơ bản khác
Sau dịp Tết Nguyên đán, giá nhiều mặt hàng cơ bản đã được điều chỉnh tăng.
Giá điện tăng 6.8% từ 01/3/2010, giá xăng dầu điều chỉnh tăng 6.5% (tổng cộng 2
lần), than bán cho ngành điện tăng từ 28 – 47%. Phần lớn ý kiến đều quan ngại
việc tăng giá điện và các hàng hóa cơ bản này sẽ ảnh hưởng mạnh đến giá cả hàng
hóa trong toàn bộ nền kinh tế và mức tăng trưởng GDP.
Tuy vậy, theo tính toán của Bộ Công thương việc tăng giá điện tác động trực
tiếp chỉ làm CPI tăng 0.16%. Một số ngành công nghiệp với chi phí tiền điện cao
(chiếm 30 - 40% giá thành) như cấp nước, điện phân… giá đầu ra sản phẩm tăng
thêm khoảng 2.83 – 3.5%. Những ngành sản xuất thâm dụng năng lượng khác như
cán thép, xi măng giá thành tăng thêm khoảng 0.20 – 0.69%. Tổng hợp chi phí tiêu
dùng cuối cùng chỉ tăng từ 0.19 – 0.27%.
Thực tế, ước lượng mức độ tác động thực sự của việc tăng giá hàng hóa cơ
bản này đến CPI là việc làm khó khăn. Việc tăng giá điện, xăng dầu ngoài ảnh
hưởng đến chi phí sản xuất, còn tác động lên kỳ vọng của người tiêu dùng. Nếu kỳ
vọng về mức lạm phát cao trong tương lai thì mức lạm phát thực tế càng trở nên
trầm trọng. Điều này thường xảy ra đối với những nền kinh tế mà cơ chế thị
trường kém hiệu quả.
4.2 Ảnh hưởng của việc điều chỉnh tỷ giá
Ngày 10/02, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) quyết định điều chỉnh tỷ giá liên
ngân hàng tăng thêm 3.3%, đưa mức trần tỷ giá chính thức lên 19,100 VND/USD.
Nhiều nhận định cũng quan ngại về việc điều chỉnh tỷ giá này sẽ ảnh hưởng tới đà
tăng giá của hàng hóa trong nước, vì tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hiện nay đã
bằng khoảng 1.5 lần GDP.
19
Tăng trưởng tín dụng và cung tiền cao trong năm 2009 sẽ ảnh hưởng đến
lạm phát trong năm 2010. Chúng ta đều biết lạm phát có quan hệ chặt chẽ với cung
tiền, nhưng thường có độ trễ từ 5 – 7 tháng
5. Các giải pháp chống lạm phát ở Việt Nam hiện nay
5.1 Các quan điểm về khắc phục lạm phát
Tăng lãi suất ngân hàng cao hơn mức lạm phát. Thuyết tiền tệ của Friedman
được áp dụng. Muốn khắc phục lạm phát cần phải thi hành chính sách "hạn chế
tiền tệ" hay "khắc khổ" thu, tăng lãi suất tín dụng của ngân hàng trung ương, hạn
chế tăng lương, duy trì thất nghiệp ở mức thấp.
Đối với mọi cuộc siêu lạm phát và lạm phát phi mã, hầu như đều gắn liền
với sự tăng trưởng nhanh chóng về tiền tệ, thâm hụt ngân sách lớn… nên đề ra
biện pháp giảm mạnh tốc độ tăng cung tiền, cắt giảm mạnh mẽ chi tiêu và kiểm
soát có hiệu quả việc tăng lương danh nghĩa, chắc chắn sẽ chặn đứng và đẩy lùi
lạm phát.
Đối với lạm phát vừa phải, muốn kiềm chế và đẩy lùi từ từ xuống mức thấp
hơn cũng đòi hỏi áp dụng các chính sách nói trên. Tuy nhiên, biện pháp này kéo
theo suy thoái và thất nghiệp - một giá đắt- nên việc kiểm soát chính sách tiền tệ
và tài khoá trở nên phức tạp và đòi hỏi phải thận trọng.
Có thể xoá bỏ lạm phát hay không? Cái giá phải trả của việc xoá bỏ hoàn
toàn lạm phát không tương xứng với lợi ích đem lại của nó, vì vậy các quốc gia
thường chấp nhận lạm phát ở mức thấp và xử lý ảnh hưởng của nó chỉ số hoá các
yếu tố chi phí như tiền lương, giá vật tư, lãi suất… Đó là cách làm cho sự thiệt hại
của lạm phát là ít nhất.
Có nhiều áp lực buộc chính phủ phải tăng chi ngân sách, nhưng ngược lại
không mấy sức ép để tăng thêm thu nhập.Và chính phủ sẽ có thể sẽ khó cưỡng lại
cám dỗ in thêm tiền một lần nữa khi việc phát hành trái phiếu gặp khó khăn. Khi
tiền viện trợ được rót vào, chính phủ sẽ thấy rằng nhiều dự án đòi hỏi phía Việt
Nam phải đồng tài trợ bằng tiền trong nước. Những đòi hỏi này rõ ràng sẽ làm
21
22
điều chỉnh lãi suất và tỷ giá phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế-xã hội
trong giai đoạn mới. Để thực hiện ục tiêu trên. ngân hàng nhà nước phải phối hợp
chặt chẽ với bộ kế hoạch và đầu tư. Bộ tài chính và các Bộ, các ngành có liên quan
tập trung thực hiện kiên quyết một số giải pháp sau đây:
- Tiếp tục triển khai phát triển thị trường vốn ngắn hạn, củng cố thị trường tín
phiếu kho bạc. Ngân hàng nhà nước cần phối hợp với Bộ tài chính tổ chức điều
hành có hiệu quả hoạt động của các thị trường này nhằm thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế, góp phần kiểm soát lạm phát nhất là trong dip tết nguyên đán.
- Ngân hàng nhà nước điều hành chặt chẽ phương tiện thanh toán đã dự kiến:Thu
hồi nợ đến hạn và quá hạn, không chê hạn mức tín dụng kiểm soát định mức dự
trữ bắt buộc theo pháp lệnh Ngân hàng, loại bỏ tín phiếu kho bạc trong cơ cấu dự
trữ bắt buộc và tăng tương ứng phần tiền gửi trên tài khoản của Ngân hàng nhà
nước.
- Ngân hàng Nhà nước cần sơ kết kinh nghiệm điều hàng thị trường ngoại tệ liên
ngân hàng để có những sửa đổi bổ sung cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu mua bán
ngoại tệ giữa các ngân hàng với các tổ chức kinh tế. Việc mua ngoại tệ của ngân
hàng nhà nước chỉ thực hiện khi có Quyết định của Thủ tướng Chính phủ. tăng
cường kiểm tra kiểm soát và từng bước thực hiện nhanh hơn chủ trương “ trên đất
Việt Nam chỉ tiêu tiền Việt nam.
- Bên cạnh các công cụ điều hành chính sách tiền tệ trực tiếp, cần áp dụng thành
các chuyển gián tiếp để điều hành lãi suất thị trường, điều hoà lưu thông tiền tệ,
mở rộng việc thanh toán. Ngân hàng nhà nước theo dõi kiểm tra tại các ngân hàng
thương mại việc giảm lãi suất cho vay so với hiện nay để có phương án giảm tiếp
lãi suất cho vay kích thích đầu tư.
5.2.2 Các biện pháp về ngân sách nhà nước.
- Phấn đấu tăng thu, thực hiện triệt để tiết kiệm chi nhằm giảm bội chi ngân sách
nhà nước, tăng dự trữ tài chính bảo đảm cân đối ngân sách nhà nước vững chắc,
phối thị trường Việc quản lý thị trường phải gắn với đặc thù của từng khu vực.
- Về diều hành cân đối cung cầu hàng hoá. Bộ Kế Hoạch và Đầu tư chủ trì phối
hợp với các cơ quan quản lý ngành hàng phối hợp với cơ quan chức năng chịu
trách nhiệm theo dõi diễn biến cung cầu những mặt hàng thuộc Bộ, cơ quan của
24
mình quản lý. Phát hiện và sử lý kịp thời những mất cân đối phát sinh trong quá
trìng điều hành. Bộ thương mại có trách nhiệm điều hoà hàng hoà trong cả nước,
nhất là những mặt hàng quan trọng để giải quyết những mất cân đối cục bộ ở từng
khu vực. Đối với những mặt hàng quan trọng cho sản xuất và đời sống ( lương
thực, đường, xăng dầu, xi măng... )thì việc cân đối cung cầu phải tiến hành từng
quí, từng tháng. Đối với các mặt hàng này, phải xây dựng lực lượng dự trữ lưu
thông hàng hoá là công cụ không thể thiếu để điều hoà thị trường. Các Bộ, các cơ
quan quản lý ngành hàng, hội đồng quản lý, các tổng công ty này sớm trình Chính
phủ đề án về cơ chế lưu thông, bảo mức dự trữ cần thiết, dù sức chi phối khi thị
trường phát sinh mất cân đối.
- Bộ thương mại khẩn trương tổ chức tốt việc triển khai thực hiên quyết định số
864/ITg ngày 30 tháng 12 năm 1995 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hàng
hoá và điều hành và điều hành công tác suất nhập khẩu. Phối hợp với các Bộ
ngành liên quan thực hiện các biện pháp để bảo đảm sự cân đối giữa lực lượng
hàng hoá, dịch vụ với tổng sức mua của xã hội. Chỉ đạo và đôn đốc các doanh
nghiệp suất nhập khẩu đưa đại bộ phận hàng hoá nhập khẩu về nước ngay từ
những tháng đầu năm, đáp ứng kịp cho sản xuất và cân đối cung cầu hàng hoá ở
trong nước. Chấn chỉnh tình trạng xuất nhập khẩu bằng việc sắp xếp đầu mối xuất
nhập khẩu hợp lý, nhất là xuất khẩu lương thực. Tổ chức việc mua hàng hoá xuất
khẩu có trật tự, ngăn chặn tình trạng tranh mua hàng xuất khẩu đẩy giá lên. Nghiên
cứu hình thành quỹ hỗ trợ xuất nhập khẩu để có nguồn sử lý những rủi ro trong
kinh doanh.
- Để ngăn chặn ngay từ đầu những dấu hiệu dẫn đến phát sinh biến đổi giá. Ban
quản lý chuyên ngành phải chịu trách nhiệm trước chính phủ về việc tăng giá đột
biến với những mặt hàng thuộc phạm vi mình quản lý.
26