Qua cơ sở lý luận về lạm phát.phân tích tình trạng lạm phát và các biện pháp ở Việt Nam trong năm 2008 - Pdf 24

KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
---    ---
TIỂU LUẬN MÔN HỌC
TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
Đề tài:
Qua cơ sở lý luận về lạm phát.phân tích tình
trạng lạm phát và các biện pháp ở Việt Nam
trong năm 2008
GVHD : Đặng Công Triết
Thực hiện: Nhóm 5
Lớp : 110810103
Thành phố Hồ Chí Minh, thứ 6 ngày 18 tháng 03 năm 2011
BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐH CÔNG NGHIỆP TP HỒ CHÍ MINH
aôb

DANH SÁCH NHÓM
1. Nguyễn Minh Tiến MSSV: 10118521
2. Nguyễn Thị Tuyết Mai MSSV: 10081361
3. Trần Thanh Thảo MSSV: 10083551
4. Lê Thụy Thùy Trang MSSV: 10075001
5. Đặng Thị Mùi MSSV: 10080071
6. Phùng Thiên Vũ MSSV:
7. Nguyễn Thị Cẩm Yến MSSV: 10089191
8. Phan Ngọc Vân Lam MSSV: 10157451
9. Nguyễn Thị Thu Thúy MSSV: 10147311
10. Lê Đình Hùng MSSV: 10082791
TÓM TẮT
Việt Nam sau 12 năm kiểm soát được lạm phát (1995-2007),từ tháng 12
năm 2007,lạm phát quay trở lại với chỉ số CPI 2 con số.Giá cả mặt hàng tiêu dùng
thiết yếu tăng vọt các tháng đầu năm 2008,Chính phủ đã thực hiện chiến lược kiềm

bị rút khỏi thị trường chứng khoán, vốn đầu tư trực tiếp không thực hiện được như
cam kết. Để kích thích nền kinh tế, trong lúc tích luỹ của nền kinh tế, dự trữ ngân
sách, dự trữ ngoại hối của nước ta còn rất hạn hẹp, Nhà nước ta không đủ nguồn lực
để cung cấp các gói kích thích nền kinh tế như các nước phát triển hoặc như Trung
Quốc, Ấn Độ với hàng trăm tỷ đô la; Nhà nước chỉ có những khoản kích thích bằng
tăng vốn đầu tư trực tiếp cho sản xuất nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, trợ cấp
bằng tăng các khoản cho vay, giảm thuế, giảm lãi suất cho vay, tăng lương hoặc
giảm giờ làm việc, giảm giá hàng hoá, dịch vụ hoặc tăng trợ cấp cho các đối tượng
chính sách.
Để làm rõ mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng, đã có nhiều công trình nghiên
cứu của các nhà kinh tế trong nước và thế giới, về lý thuyết và thực nghiệm nhóm
chúng tôi có một số ý kiến về tình hình lạm phát hiện nay, nếu có ý nào còn sai sót
mời thầy bổ sung thêm, nhóm em xin chân thành cảm ơn.
2. Mục đích nghiên cứu
- Hệ thống hóa lý luận về lạm phát.
- Phân tích và đánh giá thực trạng tình hình lạm phát trong năm 2008
- Dự báo mức lạm phát trong một vài tháng cuối năm 2008
- Đề xuất giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao khả năng kiềm chế và chống
lạm phát trong năm 2008
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi nghiên cứu, chuyên đề đi sâu vào nhận định tình hình biến động
nội tại chuỗi gia tăng lạm phát, nhìn nhận lý do khách quan của sự biến động, từ đó
có cơ sở để đưa ra những kiến nghị và giải pháp trong công tác quản lý và kiềm chế
lạm phát, từ đó có làm tốt lên công tác ổn định kinh tế vĩ mô.
NỘI DUNG
CHƯƠNG I:NHỮNG LÝ THUYẾT VỀ LẠM PHÁT
I.TÌNH HÌNH LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.Nhìn nhận và đánh giá tình hình lạm phát ở Việt Nam hiện nay
Lạm phát là một trong bốn yếu tố quan trọng nhất của mọi quốc gia (tăng trưởng cao, lạm
phát thấp, thất nghiệp ít, cán cân thanh toán có số dư). Tình hình lạm phát hiện nay ở Việt

trong trường hợp các loại giá cả thực phẩm thời vụ tách khỏi xu hướng chung và do đó, sẽ
làm thay đổi phần nào xu hướng lạm phát. Bởi phải loại bỏ hoàn toàn và thường xuyên các
cấu phần giá cả nhiên liệu và thực phẩm thời vụ nên xu hướng lạm phát nhìn chung sẽ
không bao giờ được phản ánh đầy đủ một cách tuyệt đối cả. Để khắc phục được một phần
nhược điểm này, nhiều NHTW các nước đang tăng cường sử dụng mô hình hóa lạm phát
cơ bản ở nước mình theo hai cách với sự hỗ trợ của các phương pháp thống kê nhất định.
Một là, xác định các thành phần giá cả dễ biến động và quy định một quyền số thấp trong
tính toán giá của rổ hàng hóa; như vậy, những thông tin về các loại giá cả này sẽ không
hoàn toàn bị mất đi. Hai là, chia tách sự biến động chỉ số giá tiêu dùng, hoặc các bộ phận
cấu thành riêng lẻ của nó thành những phần mang tính tạm thời và phần mang tính thường
xuyên và lâu dài; trong đó, phần có tính lâu dài sẽ biểu thị xu hướng lạm phát và lạm phát
khi đó sẽ được xác định tương ứng cho kỳ hạn dài hơn một năm. Cách xác định lạm phát
cơ bản cho thấy vào thời điểm hiện nay những thông tin về xu hướng giá rất quan trọng
vẫn đang còn bị bỏ qua. Do vậy, chỉ số lạm phát cơ bản phải thường xuyên được xem xét
và điều chỉnh lại cách tính toán cho phù hợp tình hình thực tế ở từng nước, từng khu vực.
Trong báo cáo tháng 1/2004, ECB đã rà soát lại tác động của thuế gián thu và chi phí hành
chính lên lạm phát ở khu vực Euro: kết quả phân tích cho thấy phần chi phí thuốc lá chiếm
tỷ trọng 2,3% trong cấu thành chỉ số giá tiêu dùng đã điều hòa (HICP), nên khi thuế thuốc
lá bắt đầu gia tăng đáng kể từ quý IV/2003 ở cả Pháp và Đức, là 2 nền kinh tế hàng đầu
khu vực, khiến cho giá thuốc lá ở Châu Âu dự tính sẽ gia tăng ít nhất 8% trong năm 2004
so với 2003, dẫn tới chỉ số lạm phát chung của cả khu vực sẽ gia tăng ít nhất 0,2% trong
cùng kỳ. Tương tự như vậy đối với phần chi phí quản lý hành chính công cộng: cuộc cải
cách y tế ở Đức cũng sẽ làm tăng thêm 0,2% lạm phát của toàn khu vực trong năm 2004.
Tổng hợp lại, cả thuế thuốc lá và chi phí hành chính đang chiếm tỷ trọng khoảng 8% HICP
sẽ làm gia tăng lạm phát ở khu vực Euro ít nhất thêm 0,5% trong năm 2004. Nếu loại bỏ
tác động của các yếu tố thuế và chi phí hành chính nói chung thì lạm phát bình quân khu
vực này sẽ chỉ còn ở mức thấp xấp xỉ 1% thay vì 2% trong cả 2 năm 2004 và 2005. Đây là
điều cần cân nhắc kỹ trong phân tích, đánh giá chính sách tiền tệ của ECB để có thể kiềm
chế hiệu quả lạm phát ở khu vực Euro ở mức xấp xỉ dưới 2% như mục tiêu đã đề ra trong
trung hạn.

thị trường để cuối 2008 lạm phát có thể trở về một con số. Cách đây vài năm, năm 2004,
Việt Nam cũng đặt trong chỉ số lạm phát của Việt Nam ở mức 9,4%. Tuy nhiên, so với thời
điểm đó, tình hình lạm phát năm nay có nhiều điểmkhác.
Một là, đồng USD bị mất giá trên toàn cầu, đòi hỏi có những tính toán, cân nhắc về việc có
nên tiếp tục cố định tỷ giá tiền đồng so với tiền USD không.
Mức tăng cung tiền của Việt Nam lớn hơn rất nhiều so với các nước khác trong khu vực.
Đối với một nước dân số đông và tăng nhanh như Việt Nam, số người nghèo có thể tăng
lên cùng với lạm phát. Ứng phó trước tình trạng này, chỉ một bộ phận người Việt có thể
đầu tư vào lĩnh vực tài chính, bảo vệ chính mình. Người nghèo không có được công cụ bảo
vệ đó. Họ phụ thuộc vào thu nhập hằng ngày. Họ có thể bị đói trong "cuộc đua" mua hàng
hóa trong cơn lạm phát.
Việt Nam đang nhập khẩu lạm phát Nhìn ra khu vực, cùng chịu tác động của cú sốc cung,
của tăng giá hàng hóa nhưng tình trạng lạm phát của các nước rất thấp, ngay cả Trung
Quốc có tốc độ phát triển kinh tế nhanh hơn nhiều so với Việt Nam.
Lạm phát 1 được đo lường bằng cách theo dõi sự thay đổi trong giá cả của một lượng lớn
các hàng hóa và dịch vụ trong một nền kinh tế (thông thường dựa trên dữ liệu được thu
thập bởi các tổ chức Nhà nước, mặc dù các liên đoàn lao động và các tạp chí kinh doanh
cũng làm việc này). Giá cả của các loại hàng hóa và dịch vụ được tổ hợp với nhau để đưa
ra một "mức giá cả trung bình", gọi là mức giá trung bình của một tập hợp các sản phẩm.
Chỉ số giá cả là tỷ lệ mức giá trung bình ở thời điểm hiện tại đối với mức giá trung bình
của nhóm hàng tương ứng ở thời điểm gốc. Tỷ lệ lạm phát thể hiện qua chỉ số giá cả là tỷ
lệ phần trăm mức tăng của mức giá trung bình hiện tại so với mức giá trung bình ở thời
điểm gốc. Để dễ hình dung có thể coi mức giá cả như là phép đo kích thước của một quả
cầu, lạm phát sẽ là độ tăng kích thước của nó.
2. Chỉ số giá tiêu dùng ở Việt Nam trong xu hướng giá cả trên thế giới gia tăng
Cho đến nay, Việt Nam mới chỉ tính toán và công bố chính thức chỉ số giá tiêu dùng CPI,
chưa tính toán lạm phát cơ bản. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) hiện nay của Việt Nam được
tính trên cơ sở chỉ số giá tiêu dùng của các tỉnh, thành phố trong cả nước. Chỉ số giá của
từng tỉnh, thành phố được tính theo phương pháp bình quân số học gia quyền giữa chỉ số
giá tiêu dùng nhóm cấp III, cấp II rồi cấp I với quyền số cố định tương ứng trên cơ sở cơ

giá lương thực – thực phẩm tăng tới 13,7% (trong đó, giá lương thực tăng 11,2% và giá
thực phẩm tăng 15,4%), trong khi chỉ số giá bình quân của 9 nhóm hàng tiêu dùng còn lại
trong cùng kỳ hầu như chỉ tăng nhẹ ở mức 1 chữ số, không cao quá mức 5% (riêng giá
hàng hóa dịch vụ nhóm dược phẩm y tế tăng 7,7% do phải nhập khẩu tới 60% nguyên liệu
sản xuất thuốc chữa bệnh; trong khi chỉ số giá nhóm giáo dục lại giảm nhẹ 2,7%). Nếu so
với cùng kỳ năm 2003 thì chỉ số giá tiêu dùng CPI của Việt Nam trong tháng 7/2004 đã
tăng 9,1%/năm – mức tăng cao nhất trong hơn 5 năm qua (lần cuối gần đây nhất CPI của
Việt Nam cũng đã tăng 9,1%/năm là vào tháng 1/1999) chủ yếu do giá lương thực – thực
phẩm tăng mạnh với mức 15,5% trong cùng kỳ. Theo dự báo của Bộ Tài chính Việt Nam,
chỉ số lạm phát chung của Việt Nam trong cả năm 2004 sẽ là 9%. Giá tiêu dùng tăng cao
có ảnh hưởng không tốt đến thu nhập và đời sống của đại bộ phận dân cư. Đó là chưa kể
đến giá các loại nguyên vật liệu thiết yếu cho sản xuất công nghiệp và nông nghiệp ở Việt
Nam đều đã tăng rất cao từ đầu năm 2004 đến nay do phải phụ thuộc nặng nề vào nguồn
nhập khẩu như xăng và các sản phẩm dầu phải nhập khẩu 100%, phân đạm 90%, phôi thép
75% và thép thành phẩm 65%… Hệ quả là khi giá các mặt hàng nguyên vật liệu này trên
thị trường thế giới tăng cao thì giá nhập khẩu chúng vào Việt Nam cũng phải tăng theo rất
mạnh nếu ngân sách nhà nước không đủ khả năng bù lỗ. Tính ra trong 6 tháng đầu năm
2004, giá cả của hầu hết nguyên nhiên liệu thiết yếu cho sản xuất công – nông nghiệp như
xăng dầu, sắt thép… đều tăng nhanh đột biến lần lượt với các mức 23,6% và 48% so với
cùng kỳ năm trước chủ yếu do nhu cầu tiêu thụ rất mạnh của 2 nền kinh tế khổng lồ trên
thế giới là Mỹ và Trung Quốc, còn giá phân bón thì tăng 5,7% so với cuối năm 2003. Giá
cả trên thị trường thế giới tăng cao đã gây tác động trở lại làm gia tăng đáng kể lạm phát ở
ngày càng nhiều nước trên thế giới từ các nước công nghiệp tiên tiến như Mỹ (chỉ số giá
tiêu dùng đã tăng từ 1,7%/năm trong tháng 2/2004 lên tới 5,1%/năm trong tháng 5/2004),
các nước khu vực Euro (chỉ số CPI từ tháng 2-5/2004 đã tăng từ 1,6%/năm lên 2,5%/năm –
cao vượt mức trần mục tiêu 2%/năm), rồi Nhật Bản (CPI đã tăng 1,1%/năm trong tháng
5/2004 – mức tăng CPI cao nhất kể từ năm 1997) cho đến các nước đang phát triển như
Trung Quốc (trong tháng 6/2004 chỉ số giá sản xuất tăng 6,4%/năm còn CPI đã tăng lên
gần 5%/năm – mức tăng cao nhất trong vòng 7 năm qua; CPI của cả năm 2003 chỉ vào
khoảng 1%).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status