Tiểu luận quản trị sản xuất: sản xuất và chế biến gạo ở việt nam - Pdf 26

BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP.HCM
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
Bộ môn:QUẢN TRỊ SẢN XUẤT & DỊCH VỤ
TIỂU LUẬN
CHƯƠNG 3
QUYẾT ĐỊNH VỀ SẢN PHẨM,DỊCH VỤ,CÔNG
SUẤT,CÔNG NGHỆ VÀ THIẾT BỊ
ĐỀ TÀI
SẢN XUẤT VÀ CHẾ BIẾN GẠO Ở VIỆT NAM
GVHD : Th.S Nguyễn Thị Ngọc
Hoa
SVTH : NHÓM 3
MÔN : QUẢN TRỊ SẢN XUẤT &
DỊCH VỤ
MHP : 210703104

TPHCM, ngày 10 tháng 12 năm 2014
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

3.1 Dự báo khả năng phát triển về dịch vụ,sản xuất và chế biến của gạo Việt nam đến
năm 2018 nhớ đưa ra nhận xét
3.2 Giải pháp và kiến nghị
3.2.1 Giải pháp
3.2.1.1 Quyết định về công nghệ ANH THƯ
3.2.1.2 Quyết định về dịch vụ
3.2.1.3 Quyết định về công xuất và thiết bị
3.2.2 Kiến nghị
3.3 Kết luận
3.3.1 Nhận thức về trách nhiệm xã hội của doanh ngiệp ở Việt Nam ( TUYẾT
SƯƠNG)
3.3.2 Những điểm cần lưu ý về trách nhiệm xã hội của doanh ngiệp ở Việt Nam.
 Nhớ : kết luận chung về đề tài (cuối cùng)
LƯU Ý: CÁC BẠN LÀM XONG KHI GỬI VỀ CHO TRUNG TỔNG HỢP THÌ
NHỚ:nội dung rõ ràng,nội dung các bạn làm phải thống nhất với đề tài, canh lề,canh
giữa,timenewroman,13,cách dòng ,sữa lỗi chính tả nge.^^!!
Phần hướng dẫn:
Tài liệu tham khảo:trên mạng,slie bài giảng,quản trị dụ án đầu tư nếu làm phần dự
báo,nhớ bám sát chương 3 để làm nge.!
 Bạn nào làm chương 1:chú ý nội dung ngắn gọn,xúc tích,
 Bạn nào làm chương 2,3: nhớ cho số liệu cụ thể và rõ ràng,có biểu đồ
 Riêng phần Dự báo ngoài làm lý thuyết bạn tiến phải tính toán,phải cần số
liệu.nên bạn Mỹ Thoa nhớ gửi nhanh qua cho bạn Tiến
nhé.TIẾN: ,sdt:0166 370 5500 mỹ
thoa,sdt:09630379117
 Chương dự báo bạn Tiến chú ý.phải tính được NPV,IRR (quản trị dự án đầu
tư) nhằm mang tính thuyết thục
 Bạn nào làm phần giải pháp chú ý:giải pháp phải thực tế,và theo quan điểm của
nhóm, mang tính khoa học,
HẠN CHÓT GỬI BÀI VỀ CHO MÌNH LÀ ;12h,28/11/2014.nhớ nt cho mình là

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ QUẢN TRỊ SẢN XUẤT VÀ DỊCH VỤ
1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Khái niệm về sản xuất và dịch vụ
1.1.2 Đặc điểm của sản xuất hiện đại
1.1.3 khái niệm về quản trị sản xuất và dịch vụ
1.2 Các bước phát triển của quản trị sản xuất và dịch vụ
1.2.1 Cách mạng công nghiệp
1.2.2 Quản trị khoa học
1.2.3 Cách mạng dịch vụ
1.3 Hướng nghiên cứu quản trị sản xuất và dịch vụ
1.3.1 Sản xuất như là một hệ thống
1.3.2 Dịch vụ như là chất xúc tác đa năng
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG SẢN XUẤT VÀ CHẾ BIẾN GẠO Ở VIỆT NAM
2.1 Tìm hiểu về sản xuất và chế biến gạo ở Vĩnh Long
2.1.1 Đẩy mạnh về công nghệ
2.1.2 Đẩy mạnh về dịch vụ
2.1.3 Đẩy mạnh về công xuất và thiết bị
2.1.4 Thích ứng linh hoạt
2.1.5 Chiến lược cho ngành sản xuất và chế biến gạo
2.2 Thực trạng về sản xuất và chế biến gạo ở Việt Nam giai đoạn (2003-2013)
CHƯƠNG 3:DỰ BÁO GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN, MỞ RỘNG SẢN XUẤT VÀ CHẾ
BIẾN GẠO Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2018
3.1 Dự báo khả năng phát triển về dịch vụ,sản xuất và chế biến của gạo Việt nam đến
năm 2018
3.2 Giải pháp và kiến nghị
3.2.1 Giải pháp
3.2.1.1 Quyết định về công nghệ
3.2.1.2 Quyết định về dịch vụ
3.2.1.3 Quyết định về công xuất và thiết bị
3.2.2 Kiến nghị

Sản xuất hay sản xuất của cải vật chất là hoạt động chủ yếu trong các hoạt động kinh
tế của con người. Sản xuất là quá trình làm ra sản phẩm để sử dụng, hay để trao đổi trong
thương mại. Quyết định sản xuất dựa vào những vấn đề chính sau: sản xuất cái gì?, sản
xuất như thế nào?, sản xuất cho ai?, giá thành sản xuất và làm thế nào để tối ưu hóa việc
sử dụng và khai thác các nguồn lực cần thiết làm ra sản phẩm?
Tùy theo sản phẩm, sản xuất được phân thành ba khu vực:
• Khu vực một của nền kinh tế : Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Thủy sản
• Khu vực hai của nền kinh tế : Khai thác mỏ, Công nghiệp chế tạo (công nghiệp
nhẹ, công nghiệp nặng), Xây dựng
• Khu vực ba của nền kinh tế , hay Khu vực dịch vụ.
1.1.1.2. Dịch vụ
Khi kinh tế càng phát triển thì vai trò của dịch vụ ngày càng quan trọng và dịch vụ đã
trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khác nhau: từ kinh tế học đến văn hóa
học, luật học, từ hành chính học đến khoa học quản lý. Do vậy mà có nhiều khái niệm
về dịch vụ theo nghĩa rộng hẹp khác nhau, đồng thời cách hiểu về nghĩa rộng và nghĩa
hẹp cũng khác nhau.
Cách hiểu thứ nhất
- Theo nghĩa rộng: dịch vụ được xem là một ngành kinh tế thứ 3. Với cách
hiểu này, tất cả các hoạt động kinh tế nằm ngoài 2 ngành nông nghiệp và
công nghiệp đều được xem là thuộc ngành dịch vụ
- Theo nghĩa hẹp: dịch vụ được hiểu là phần mềm của sản phẩm, hỗ trợ cho
khách hàng truớc, trong và sau khi bán
Cách hiểu thứ hai
- Theo nghĩa rộng: Dịch vụ là khái niệm chỉ toàn bộ các hoạt động mà kết
quả của chúng không tồn tại dưới hình dạng vật thể. Hoạt động dịch vụ
bao trùm lên tất cả các lĩnh vực với trình độ cao, chi phối rất lớn đến quá
trình phát triển kinh tế - xã hội, môi trường của từng quốc gia, khu vực nói
riêng và toàn thế giới nói chung. Ở đây dịch vụ không chỉ bao gồm những
ngành truyền thống như: giao thông vận tải, du lịch, ngân hàng, thương
mại, bao hiểm, bưu chính viễn thông.mà còn lan toả đến các lĩnh vực rất

thấy các hệ thống sản xuất tự động điều khiển bằng chương trình.
- Ứng dụng máy tính vào sản xuất hiện đại mở rộng từ điều khiển quá trình
sản xuất, đến kết hợp thiết kế với chế tạo.
- Các mô hình mô phỏng toán học ngày càng được sử dụng rộng rãi để hỗ trợ
cho các quyết định sản xuất.
1.1.3. Khái niệm về quản trị sản xuất và dịch vụ
Quản trị sản xuất và dịch vụ là tổng hợp các hoạt động xây dựng hệ thống sản xuất
và quản trị quá trình sử dụng các yếu tố đầu vào tạo thành các sản phẩm (dịch vụ)
đầu ra theo yêu cầu của khách hàng nhằm thực hiện các mục tiêu đã xác định.
Quản trị sản xuất dịch vụ nhằm đạt các mục tiêu:
• Hoàn thành chức năng sản xuất, cung cấp sản phẩm cho khách hàng đúng số
lượng với tiêu chuẩn chất lượng và thời gian phù hợp.
• Tạo ra và duy trì lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp.
• Tạo ra tính linh hoạt cao trong đáp ứng liên tục nhu cầu của khách hàng về sản
phẩm.
• Đảm bảo tính hiệu quả trong việc tạo ra các sản phẩm cung cấp cho khách hàng.
Quản trị sản xuất dịch vụ tập trung vào các vấn đề:
• Thiết kế hệ thống sản xuất.
• Phương pháp tổ chức sản xuất.
• Điều hành quá trình sản xuất.
1.2. Các bước phát triển của quản trị sản xuất và dịch vụ
Khoa học về quản trị sản xuất dịch vụ phát triển liên tục nhanh chóng cùng với việc phát
triển khoa học và công nghệ. Xét về mặt lịch sử, chúng ta có thể chia thành 3 giai đoạn
chính sau:
1.2.1. Cách mạng công nghiệp
Ở Anh vào những năm đầu thế kỷ 18, khoa học kỹ thuật phát triển mạnh kéo theo sự
bùng nổ cách mạng công nghiệp. Việc phát minh ra động cơ hơi nước của Jame Watt vào
năm 1964, tạo điều kiện cho ra đời hàng loạt những máy móc khác trong kỹ nghệ. Tính
sẵn có của máy hơi nước và máy móc sản xuất tạo điều kiện cho việc tập hợp các công
nhân vào nhà máy. Sự tập trung này tạo ra một nhu cầu về việc sắp xếp họ lại một cách

Để thành công trong việc cạnh trạnh đáp ứng nhu cầu khách hàng, các công ty phải hiểu
rõ các phản ứng của khách hàng và cải tiến liên tục mục tiêu phát triển nhanh chóng sản
phẩm kết hợp với tối ưu hóa chất lượng ngoại hạng, thời gian cung ứng nhanh chóng và
đúng lúc, với chi phí và giá cả thấp.
1.3. Hướng nghiên cứu quản trị sản xuất dịch vụ
1.3.1. Sản xuất như là một hệ thống
Russel Ackoff nhà tiên phong trong lý thuyết hệ thống, mô tả hệ thống như sau: hệ thống
là một tổng thể không thể chia nhỏ được mà không làm cho nó mất đi nét đặc trưng và vì
thế nó phải được nghiên cứu như là một tổng thể.
Hệ thống sản xuất tiếp nhận đầu vào ở các hình thái như nguyên vật liệu, tiền vốn, nhân
sự, trang thiết bị, các thông tin, những yếu tố đầu vào này được chuyển đổi hình thái
trong hệ thống để tạo thành các sản phẩm hoặc dịch vụ theo mong muốn, mà chúng ta
gọi là kết quả sản xuất. Một phần của kết quả quản lý bởi hệ thống quản lý để nhằm xác
định xem nó có thể được chấp nhận hay không về mặt số lượng, chi phí và chất lượng.
Nếu kết quả là chấp nhận được thì không có sự thay đổi nào được yêu cầu trong hệ thống;
nếu như kết quả không chấp nhận được các hoạt động điều chỉnh về mặt quản lý cần phải
thực hiện.
1.3.2. Dịch vụ như một chất xúc tác đa năng
Do sự thay đổi của tình hình kinh tế xã hội , sự cạnh tranh diễn ra gay gắt buộc các nhà
sản xuất phải chú ý nhiều hơn đến năng suất, chất lượng và hiệu quả. Vì vậy, nhiệm vụ
của quản trị sản xuất là phải linh hoạt đáp ứng được nhu cầu khách hàng. Với sự thay đổi
liên tục của môi trường kinh doanh để có thể áp dụng được nhiệm vụ đó ngày nay, quản
trị sản xuất được phát triển theo các hướng sau:
• Tăng cường chú ý đến các hoạt động dịch vụ
• Xây dựng hệ thống sản xuất linh hoạt
• Tăng cường các kỹ năng quản lý năng động
• Tăng cường các phương pháp và biện pháp khai thác tiềm năng vô tận của con
người, tạo ra sự tích cực tinh thần chủ động sang tạo, tự giác trong sản xuất
• Thiết kế lại hệ thống sản xuất của doanh nghiệp nhằm rút ngắn thời gian trong
thực hiện hoạt động, giảm thiểu chi phí gây ra sự lãng phí trong quá trình sản xuất

loại phục vụ cho việc xuất khẩu gạo.
Bình quân vốn đầu tư cho một dây chuyền sản xuất hoàn chỉnh từ 1,5-1,9 tỷ đồng. Theo
ông Nguyễn Văn Thành-giám đốc công ty TNHH Phước Thành 4 tại xã Lộc Hòa (huyện
Long Hồ), năm nay doanh nghiệp tiếp tục cải tiến công nghệ, trang bị dây chuyền lau
bóng gạo với công suất 8 tấn/giờ nâng cao chất lượng cạnh tranh với gạo ngoại.
Tại chợ gạo Cầu Đôi, một trong những chợ đầu mối thu mua, xay xát gạo trọng điểm của
Vĩnh Long và khu vực, các cơ sở xay xát ở đây còn là vệ tinh của các doanh nghiệp cung
ứng kịp thời nhu cầu mua, chế biến gạo xuất khẩu.
2.1.2 Đẩy mạnh về công suất và thiết bị
Tỉnh hiện có gần 650 nhà máy, cơ sở xay xát, lau bóng gạo. Năm 2012, sản lượng xay xát
lau bóng gạo là 1.234 ngàn tấn (ước tiêu thụ NL điện khoảng 41,6 triệu KWh/năm).
Hiện nay, một số DN chế biến lúa gạo trên địa bàn tỉnh đã chủ động đầu tư thiết bị hiện
đại, thực hiện các giải pháp như lắp đặt biến tần, tận dụng phế phẩm để làm nguyên liệu
cung cấp nhiệt phục vụ cho quy trình sản xuất, đổi mới công nghệ như: Công ty Lương
thực Vĩnh Long, Công ty CP Lương thực- Thực phẩm Vĩnh Long, Công ty Xuất nhập
khẩu Vĩnh Long, Công ty CP Phước Thành IV.
Thời gian qua, Công ty Lương thực Vĩnh Long đã mạnh dạn đầu tư vào kho chứa và các
dây chuyền chế biến lúa gạo tại các xí nghiệp trực thuộc theo hướng hiện đại và khép kín
các dây chuyền: công đoạn sấy lúa, xát trắng lau bóng, ép viên trấu…
Ông Lưu Xuân Bá- Phó Giám đốc Công ty Lương thực Vĩnh Long cho biết: Thành công
quan trọng thực hiện tiết kiệm NL là đã mạnh dạn đầu tư dây chuyền ép viên trấu có năng
suất 4 tấn/giờ cung cấp trấu viên cho các lò đốt, lò sấy- thay thế cho dầu DO và than đá
(tiết kiệm được 50% cho phí so với dầu DO và 40% chi phí so với than đá). Mặt hàng này
rất được ưa chuộng ở thị trường trong nước và xuất khẩu sang Anh, Hàn Quốc, Hà Lan,
Nga…
2.1.3 Đẩy mạnh về dịch vụ
Vĩnh Long đầu tư nâng cao chất lượng gạo xuất khẩu
Năm 2010, gạo tiếp tục là mặt hàng xuất khẩu thế mạnh của tỉnh Vĩnh Long, với kế
hoạch dự kiến xuất khẩu 380 nghìn tấn.
Theo đó, tỉnh chú trọng đẩy mạnh nâng cao chất lượng lúa hàng hóa từ khâu sản xuất đến

70% là xuất khẩu theo các hợp đồng thương mại với gạo cao cấp 5% tấm đi các thị
trường Nhật Bản, Malaysia, châu Phi. Đây vẫn sẽ là các thị trường xuất khẩu chiến lược
của Vĩnh Long Food, do công ty có năng lực đáp ứng yêu cầu cao về chất lượng của các
thị trường này, giúp thu đuợc giá trị kinh tế cao.
Tuy nhiên, tính đến thời điểm tháng 8/2010, tổng lượng gạo xuất khẩu của Vĩnh
Long đạt 200.000 tấn và đây có lẽ là con số xuất khẩu của cả năm 2007, do Việt Nam đã
ký đủ hợp đồng xuất khẩu với số lượng 4,5 triệu tấn theo chỉ tiêu Chính phủ đề ra đầu
năm. Trong đó, xuất khẩu gạo 5% tấm theo các hợp đồng thương mại đạt khoảng 100.000
tấn (chiếm 50% tổng khối lượng gạo xuất khẩu) năm nay đi thị trường Malaysia và Nhật
Bản, còn lại 100.000 tấn gạo 15%, 25% xuất khẩu đi thị trường Philippines và Indonesia
theo hợp đồng chính phủ.
Giá lúa trong nước biến động lớn, cùng với giá cước vận chuyển cao đã ảnh hưởng
không nhỏ đến hiệu quả và lợi nhuận từ xuất khẩu gạo, đặc biệt trong thực hiện các hợp
đồng xuất khẩu giao gạo cuối năm, với giá xuất khẩu đã ký từ thời điểm đầu năm. Vì vậy,
Vĩnh Long Food đã có chiến lược chuyển hướng đa dạng hoá sản phẩm gạo chế biến
sang khai thác thị trường tiêu thụ nội địa với kế hoạch bán nội địa 50.000 tấn, tăng hơn
gấp đôi so với năm 2009.
Công ty hợp tác với Saigon Coopmart đầu tư phát triển hệ thống siêu thị tại An
Giang và Vĩnh Long, với tỷ lệ vốn nắm giữ là công ty Vĩnh Long 35%. Các sản phẩm
gạo jasmine, gạo thơm lài, nếp, cao sản được đóng gói đa dạng theo các bao bì đóng gói
từ 2 đến 5kg, đưa thương hiệu gạo đặc sản VinhLong Food vào mạng lưới các siêu thị
trên địa bàn và Thành phố Hồ Chí Minh, hướng đến mở rộng thị trường các tỉnh miền
Trung và cung cấp gạo cho các khu công nghiệp, khu chế xuất, các trường học và bếp ăn
tập thể.
Tháng 5/2010, Công ty Lương thực Thực phẩm Vĩnh Long được biết đến là công
ty xuất khẩu gạo đầu tiên bán đấu giá cổ phần ra công chúng. Ngay năm đầu tiên cổ phần
hoá, Vĩnh Long Food thể hiện được năng lực ứng phó trên thị trường khi quyết định đa
dạng hoá sản phẩm gạo chế biến hướng đến phục vụ thị trường gạo nội địa, trước sự thu
hẹp quy mô xuất khẩu gạo cấp cao- sản phẩm thế mạnh của công ty và lợi nhuận từ xuất
khẩu giảm do biến động lớn giá gạo nguyên liệu và giá vận chuyển.

vụ nhu cầu xuất khẩu và tiêu thụ nội địa.
2.2. THỰC TRẠNG SẢN XUẤT VÀ CHẾ BIẾN GẠO Ở VIỆT NAM GIAI
ĐOẠN ( 2003-2013 )
Trong những năm gần đây sản xuất và xuất khẩu gạo của Việt Nam đã tở thành ngành
chủ lực quan trọng. Từ chỗ thiếu đói triền miên và phải nhập khẩu lương thực bình quân
hàng năm tren nửa triệu tấn gạo, nhưng nhờ đường lối đổi mới và các quyết sách trong
nông nghiệp, có chính sách từ năm 1989 trở đi, Việt Nam chẳng những đã sản xuất đủ lúa
gạo cho nhu cầu tiêu dùng nội địa, mà còn dành một khối lượng lớn cho xuất khẩu. Nhờ
đồng thời tăng diện tích, năng suất và chất lượng sản lượng lúa tăng liên tục trong những
năm qua.
2.2.1. Về sản xuất
Trong gần 10 năm (1995-2003), sản lượng lương thực tăng bình quân hàng năm
khoảng 5,3% (chỉ trừ năm 2001), cao hơn nhiều so với thế giới (1,7%) và châu Á (1,8%).
Tốc độ tăng của lương thực so với dân số khoảng 3 lần, làm cho sản lượng lương thực
bình quân đầu người tăng từ 466,1kg/người (năm 2003), lên tới 508,8 kg/người (năm
2008) và đến 549,2kg/người (năm 2013).
SẢN LƯỢNG LƯƠNG THỰC BÌNH QUÂN ĐẦU NGƯỜI (2003-2013)
Đơn vị: kg/ người
200
3
2004 2005 2006 2007 2008 2009
201
0
2011 2012

bộ
2013
466.1 482.5 480.9 476.6 477.9 508 503.6 513.4 537.7 548.7 549.2
Nguồn: Tổng cục thống kê
Như vậy, trong thời gian qua Việt Nam đã thực sự có sản xuất lúa hàng hóa. Tuy nhiên,

quả tuyệt vời cho nông nghiệp những năm qua.
2.2.2. Về chế biến.
• Tuốt lúa: đây là khâu đầu tiên để chế biến lúa thành những hạt gạo trắng. Hiện nay, ở
nước ta phần lớn đã được tuốt bằng máy. Số lượng máy tuốt lúa đã tăng nhanh làm năng
suất lao động và giảm nhẹ sự vất vả cho nông dân, nhưng ở ĐBSCL cũng chỉ chiếm 35%,
đồng băng sông Hồng là 26%, còn lại là tuốt lúa thủ công.
• Phơi sấy: phần lớn lúa được phơi nắng cho khô trên các sân xi măng và sân gạch. Chế độ
phơi như vậy tiết kiệm năng lượng nhưng chất lượng thấp, không đpá ứng được yêu cầu
sản xuất hàng hóa, nhất là vào vụ hè thu ở ĐBSCL. Hiện nay, trong nước đã xuất hiện
nhiều loại máy sấy chất lượng nhưng giá thành còn cao, chưa phát triển mạnh.
• Bảo quản: nông dân chủ yếu bảo quản lúa tại nhà. Những vùng có lúa cao như DDBSCL
khoảng 55-60% nông hộ có phương tiện vảo quản đến 10 tấn, còn ở đồng bằng sông
Hồng chỉ khoảng 2,7 tấn/hộ. Phần lớn các cơ sở xây xát có kho chứa với quy mô từ 10
tấn ở ĐBSH tới chục ngàn tấn ở ĐBSCL, các cơ sở này thường trữ gạo từ 1-3 tháng. Tuy
nhiên mạng lưới kho đa số kém chất lượng, thiếu phương tiện bốc dỡ và hầu hết vẫn dùng
lao động thủ công.
• Xay xát, tái chế: hiện nay cả nước có khiangr 14-15.5 tấn gạo/năm, trong đó quốc doanh
quản xay xát 34%, ngoài quốc doanh 66%. Năng lực thiết bị tái chế gạo xuất khẩu tỏng
vài năm gần đây đã tăng nhanh, nay đạt công suất khoảng 3,7 triệu tấn/năm. Trừ một số
máy móc được trang thiết bị thời gian gần đây, phần lớn máy xay xát đang sử dụng ở
nước ta (nhất là ở miền Bắc) đều đã cũ, chất lượng và hiệu quả thấp, tỉ lệ thu hồi gạo chỉ
đạt 65-70%, nguyên gạo 45-50%, tỉ lệ gãy 15-20%, trong khi các máy mới có tỉ lệ thu hồi
75-80%, tỉ lệ gạo nguyên 55-60%.
CHƯƠNG 3:DỰ BÁO VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN VÀ MỞ RỘNG SẢN XUẤT VÀ
CHẾ BIẾN GẠO Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2018

3.1 Dự báo khả năng phát triển về dịch vụ,sản xuất và chế biến của gạo Việt nam đến
năm 2018.
Từ những số liệu có được ở phần thực trạng ta đẽ dàng đưa ra dự báo về sản lượng gạo
sản xuất và chế biến cho các năm tiếp theo,cụ thể như sau :

3.2.1.1 Quyết định về công nghệ.
Sản xuất và chế biến gạo là ngành có sản lượng cao và sản phẩm ít biến đổi, do đó, nên
chọ sử dụng công nghệ liên tục và cơ giới hóa các hoạt động để có thể tiết kiệm thời gian
và thu được hiệu quả cao. Công nghệ này mang đặc tính lâu dài, cố định và liên tục trong
hoạt động của các doanh nghiệp chuyên môn hóa, chuyên sản xuất một hoặc một vài sản
phẩm nào đó.
Lợi ích của việc sử dụng công nghệ liên tục:
- Tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm soát chất lượng gạo
- Hoạch định và lên lịch sản xuất gạo và việc điều hành đơn giản
- Dụng cụ chuyên môn hóa
- Lao động được chuyên môn hóa cao, không phải hướng dẫn công việc chi tiết
- Kiểm soát tồn kho dễ dàng
- Chi phí biến đổi thấp
Đối với việc sản xuất và chế biến gạo của nước ta, tuy đã có nhiều cải tiến nhưng đa số
vẫn còn khá lạc hậu so với những nước khác. Vì vậy, ngành nông nghiệp, đặc biệt là
ngành trồng lúa cần đẩy mạnh cơ giới hóa và áp dụng qui trình công nghệ hiện đại, khoa
học để có thể thu được hiệu quả cao hơn với chất lượng gạo tốt hơn và ít tốn nguồn lực
hơn. Cụ thể như sau:
3.2.1.2 Công nghệ sản xuất gạo
Chọn giống
Chuẩn bị đất
Gieo sạ
Bón phân
Quản lý nước
Phòng trừ cỏ dại – sâu bệnh
Thu hoạch
Bảo quản
1.1.1.1.1.1 Chọn giống – nên chọn giống lúa phù hợp với điều kiện tự nhiên của vùng
như khí hậu, đất đai, thời tiết… Đồng thời, cũng phải chọn được loại giống tốt
và khỏe mạnh.

Phân ly thóc – gạo lứt
Thóc
Bóc vỏ trấu
Vỏ trấu
Làm sạch
Tạp chất
1.1.1.1.2.1 Làm sạch: thóc từ kho nhờ băng chuyền đưa vào vựa chứa thóc đầu, sau
đó qua cân tự động rồi qua bộ phận làm sạch tạp chất.
1.1.1.1.2.2 Bóc vỏ trấu: khi đã lọc sạch các tạp chất, chuyển thóc qua bộ phận bóc bỏ
trấu.
1.1.1.1.2.3 Phân lý thóc – gạo lứt: sau khi công đoạn trên hoàn thành sẽ thu được hỗn
hợp bán thành phẩm gồm gạo lứt, tấm xây, thóc, cám xay và trấu có chất lượng
khác nhau nên cần được phân loại. Vì vậy, hỗn hợp này được đưa đến bộ phận
phân ly thóc – gạo lứt, gọi là sàng tự chảy.
1.1.1.1.2.4 Bóc cám: chuyển gạo lứt qua máy xát gạo để bóc đi lớp cám bên ngoài tạo
thành gạo trắng.
1.1.1.1.2.5 Xoa bóng: chuyển gạo trắng đến bộ phận xoa bóng để làm nhẵn bề mặt
gạo, giúp làm tăng giá trị thương phẩm của hạt gạo, loại bỏ các mảnh cám bám
trên bề mặt gạo để gạo có thể bảo quản được lâu mà chất lượng ít bị giảm.
1.1.1.1.2.6 Tách tấm: chuyển hỗn hợp gạo đã được xoa bóng đến sàng phân ly để tách
tấm, thu được gao nguyên.
1.1.1.1.2.7 Tách hạt màu: chuyển hỗn hợp trên đến bộ phận tách hạt màu để loại bỏ
đi những hạt bị nấm mốc, xanh xám vì thóc chưa đủ chín, những hạt bị lên men,

1.1.1.1.2.8 Đóng gói: cuối cùng, gạo được đưa đến bộ phận đóng gói để ra thành
phẩm.
3.2.1.3 Quyết định về dịch vụ
Việc đa dạng hóa và mở rộng thị trường bao giờ cũng là mục tiêu quan trọng nhất của
doanh nghiệp chế biến và kinh doanh gạo. Để có thể bán được gạo một cách hiệu quả,
các doanh nghiệp kinh doanh cần thực hiện các biện pháp sau:

thức, giữ chữ tín trong việc hợp tác, ký kết hợp đồng bao tiêu sản phẩm với doanh
nghiệp.
3.2.2.2 Đầu tư đồng bộ khoa học – công nghệ để hiện đạo sản xuất
Cũng như tất cả cá cngafnh nghề khách trong nền kinh tế, ngành sản xuất và xuất khẩu
gạo Việt Nam muốn phát triển cần có những chính sách đầu tư thỏa đáng cho khoa học –
công nghệ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status