TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP Đề tài:
RÀO CẢN KỸ THUẬT TRONG THƯƠNG MẠI CỦA MỘT SỐ NƯỚC
CÔNG NGHIỆP PHÁT TRIỂN
VÀ CÁC BIỆN PHÁP GIÚP VIỆT NAM VƯỢT RÀO CẢN
Giáo viên hướng dẫn: Thạc sỹ Bùi Thị Lý
Sinh viên thực hiện : Đào Thị Thu Hương
Lớp : Anh 10 – K38
Hà Nội, năm 2003
MỤC LỤC
1. Khái quát chung về thị trường Mỹ 46
2. Một số quy định kỹ thuật đối với hàng nhập khẩu vào thị trường Mỹ 47
III. Nhật Bản 54
1. Khái quát về thị trường Nhật Bản 54
2. Một số quy định kỹ thuật đối với hàng nhập khẩu vào thị trường Nhật .56
IV. Rào cản kỹ thuật trong thương mại của một số nước công nghiệp
phát triển khác 62
1. Canada 62
2. Australia 64
3. Hàn Quốc 67
CHƯƠNG III : CÁC GIẢI PHÁP GIÚP VIỆT NAM VƯỢT RÀO CẢN KỸ THUẬT
TRONG THƯƠNG MẠI 72
I. Thực trạng xuất khẩu của Việt Nam trước rào cản kỹ thuật từ
các nước công nghiệp phát triển 72
1. Tình hình xuất khẩu của Việt Nam từ 1986 đến nay 72
2. Những thách thức đối với xuất khẩu của Việt Nam trước rào cản
kỹ thuật từ các nước công nghiệp phát triển 74
II. Các giải pháp giúp Việt Nam vượt rào cản kỹ thuật
trong thương mại 79
1. Các giải pháp cấp Nhà nước 79
1.1. Ký kết các hiệp định song phương và đa phương về rào cản
kỹ thuật trong thương mại 80
1.2. Tuyên tryền giới thiệu cho các doanh nghiệp về rào cản kỹ thuật
của các nước 82
1.3. Tổ chức đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý về chất lượng và kỹ
thuật cho các doanh nghiệp 84
kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước và đã đạt được khá nhiều thành tựu đáng kể. Trong mấy năm gần đây nền
kinh tế luôn tăng trưởng với tốc độ 6-7%/năm. Đặc biệt, xuất khẩu của Việt Nam
đã có sự tăng trưởng mạnh và góp phần to lớn cho sự phát triển của đất nước.
Kim ngạch xuất khẩu hàng năm ngày càng tăng. Kim ngạch xuất khẩu năm 2001
đạt 15 tỷ USD, năm 2002 đạt 16,7 tỷ USD chiếm khoảng 50% GDP của cả nước.
Và trong những năm tới, xuất khẩu vẫn là một định hướng phát triển chiến lược
của chúng ta.
Nền kinh tế thế giới đang trong thời kỳ hội nhập với xu hướng toàn cầu hoá khu
vực hoá, hình thành các khối mậu dịch tự do và hiện nay trên thế giới cũng hình
thành các tập đoàn đa quốc gia có ảnh hưởng lớn tới nền kinh tế thế giới. Trong
kỷ nguyên này, thế giới sẽ là một thị trường thống nhất, mà chủ thể kinh tế là các
khối mậu dịch tự do, đơn vị kinh tế chủ yếu chi phối thị trường là các tập đoàn đa
quốc gia. Cạnh tranh kinh tế sẽ diễn ra gay gắt trên quy mô toàn cầu. Các quốc
gia sẽ không thể phát triển tốt và sẽ bị tụt hậu nếu đứng ngoài cuộc.
Theo xu hướng đó, Việt Nam cũng đang từng bước hội nhập vào nền kinh tế thế
giớivà khu vực. Việt Nam đã là thành viên của ASEAN, APEC, AFTA và đang
trong quá trình đàm phán để gia nhập WTO.
Hội nhập kinh tế mang lại rất nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam: các
rào cản thương mại được dỡ bỏ theo hiệp định được ký kết giữa các quốc gia
thành viên của các tổ chức, việc tiếp cận thị trường dễ dàng hơn, thông tin được
cung cấp đầy đủ hơn. Nhưng các doanh nghiệp cũng đứng trước nhiều thách thức:
các quốc gia thay vì sử dụng thuế, giấy phép xuất nhập khẩu, hạn ngạch… để bảo
vệ thị trường đã dựng nên một loại rào cản mới tinh vi , phức tạp và khó vượt qua hơn nhiều. Đó là rào cản kỹ thuật. Rào cản kỹ thuật thật sự là thách thức lớn cho
các doanh nghiệp Việt Nam bởi trình độ kỹ thuật của nước ta còn thấp, các doanh
nghiệp còn chưa ý thức được tầm quan trọng của các rào cản đó. Do vậy, các
doanh nghiệp nước ta gặp rất nhiều khó khăn khi tiếp cận và xuất khẩu hàng sang
Khoá luận chứng minh rằng trong thương mại quốc tế hiện nay, rào cản kỹ
thuật có tác động rất to lớn tới thương mại giữa các nước và việc sử dụng
rào cản kỹ thuật ngày càng phổ biến.
Khoá luận đưa ra những rào cản mà một số nước công nghiệp phát triển
hiện nay đang áp dụng để giúp các doanh nghiệp Việt Nam hiểu rõ hơn về
rào cản kỹ thuật từ đó rút ra bài học và kinh nghiệm khi xuất khẩu sang các
nước đó.
Khoá luận đưa ra những kiến nghị về các giải pháp để các doanh nghiệp
Việt Nam có thể vượt qua được các rào cản kỹ thuật đó khi tham gia
thương mại quốc tế.
VI. Kết cấu của khoá luận:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, khoá luận gồm 3 chương:
Chương I : Khái quát về rào cản kỹ thuật trong thương mại.
Chương II : Thực tiễn áp dụng rào cản kỹ thuật trong thương mại của một
số nước công nghiệp phát triển.
Chương III : Các giải pháp giúp Việt Nam vượt rào cản kỹ thuật trong
thương mại.
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Thạc sĩ Bùi Thị Lý, giảng viên
môn Quan hệ kinh tế quốc tế, Khoa Kinh tế Ngoại thương đã tận tình hướng dẫn,
chỉ bảo và giúp đỡ em trong quá trình hoàn thành khoá luận này
CHƯƠNG I
KHÁI QUÁT VỀ RÀO CẢN KỸ THUẬT TRONG THƯƠNG MẠI
I. RÀO CẢN KỸ THUẬT TRONG THƯƠNG MẠI
1. Khái niệm và các hình thức của rào cản kỹ thuật trong thương mại
1.1. Rào cản kỹ thuật trong thương mại là gì?
Thương mại quốc tế ngày càng phát triển, không chỉ giới hạn ở thương mại hàng
hoá mà còn mở rộng ra các lĩnh vực khác như dịch vụ, sở hữu trí tuệ…, đem lại
áp dụng ba loại hàng rào : thuế quan, hạn ngạch và rào cản kỹ thuật để hạn chế
sức cạnh tranh của hàng hoá nước ngoài với hàng hoá trong nước. Nhưng sau khi
hội nhập, tham gia vào các tổ chức thương mại tự do của khu vực và thế giới thì
các nước sẽ phải xoá bỏ hạn ngạch, thuế xuất nhập khẩu bằng không hoặc áp
dụng cùng một loại thuế suất đối với một loại hay một nhóm hàng. Do đó, hiện
nay, rào cản kỹ thuật là biện pháp rất quan trọng và được các nước sử dụng ngày
càng nhiều. Các quốc gia khi áp dụng rào cản kỹ thuật thường đưa ra những quy
định rất nghiêm ngặt và khó vượt qua về chất lượng và các tiêu chuẩn kỹ thuật
của hàng hoá vì vậy, rào cản kỹ thuật là một biện pháp hết sức tinh vi và hiệu quả.
Sự khác biệt giữa các hàng rào kỹ thuật với các loại rào cản trước đây là những
quy định và yêu cầu của thị trường được phát triển từ những mối quan tâm chung
của cả Chính phủ và người tiêu dùng về an toàn, sức khoẻ, chất lượng và môi
trường. Các hàng rào thuế quan và phi thuế quan trước đây nhìn chung là nhằm
bảo vệ các nhà sản xuất trong nước. Ngày nay, bảo vệ môi trường và bảo vệ
người tiêu dùng ngày càng được quan tâm và thay thế cho việc bảo vệ nhà sản
xuất và lao động.
1.2. Các hình thức của rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế
Rào cản kỹ thuật trong thương mại là một hình thức bảo hộ hết sức phức tạp và
tinh vi. Các yêu cầu của các thị trường đặt ra cho hàng hoá nhập khẩu liên quan
đến nhiều khía cạnh như tiêu chuẩn về quy cách, mẫu mã, bao bì, nhãn mác, về chất lượng, về vệ sinh, về an toàn cho người tiêu dùng, an toàn cho người lao
động, về mức độ gây ô nhiễm môi sinh, môi trường… Tuy nhiên, chúng ta có thể
chia những rào cản đó thành 3 loại cơ bản sau :
Tiêu chuẩn về chất lượng và quy cách của sản phẩm
Tiêu chuẩn về vệ sinh thực phẩm và an toàn cho người sử dụng
Tiêu chuẩn về môi trường
1.2.1. Tiêu chuẩn về chất lượng và quy cách sản phẩm.
Chất lượng là yếu tố quan trọng hàng đầu để hàng hoá có thể thâm nhập vào thị
Về quy cách sản phẩm, các quốc gia cũng đưa ra các quy định rất chặt chẽ liên
quan đến kích thước, hình dáng thiết kế, độ dài, các chức năng của sản phẩm. Ví
dụ, đối với một số loại rau quả và hạt nhất định muốn xuất sang thị trường Mỹ
phải đáp ứng các quy định của Mỹ về phẩm cấp, kích thước, chất lượng và độ
chín.
Bao bì, nhãn mác của sản phẩm cũng được quy định chặt chẽ. Bao bì sản phẩm
ngoài các yêu cầu phải phù hợp với việc tái sinh, sử dụng lại và không gây ô
nhiễm môi trường, còn phải đáp ứng các quy định về mẫu mã và kích cỡ bao bì.
Việc bao gói và bảo quản phải có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền để có thể
đảm bảo chất lượng của hàng hoá. Trên bao bì phải ghi rõ các hướng dẫn vận
chuyển, lưu kho và các hướng dẫn chuyên môn khác bằng các ngôn ngữ cần thiết.
Luật pháp của các nước thường quy định hết sức nghiêm ngặt về việc ghi nhãn
đối với hàng hoá. Các nước yêu cầu trên nhãn hàng hoá phải ghi đủ những thông
tin cần thiết về sản phẩm và nhà sản xuất bằng các ngôn ngữ theo quy định của
từng nước để giúp khách hàng lựa chọn và đảm bảo an toàn cho khách hàng khi
sử dụng. Nhãn hàng phải đáp ứng đúng quy định thì sản phẩm mới được lưu
thông trên thị trường. Mục đích của các quy định và tiêu chuẩn này là nhằm bảo vệ an toàn và sức khoẻ
cho con người, cho động thực vật và môi trường của nước nhập khẩu. Tuy nhiên
do sự chênh lệch về trình độ phát triển nên những quy định này của các nước phát
triển đã tạo ra một rào cản rất khó vượt đối với hàng hoá của các nước đang và
kém phát triển vì những nước này chưa có trình độ khoa học công nghệ cao nên
khó có thể đáp ứng được những yêu cầu này.
1.2.2. Tiêu chuẩn về vệ sinh thực phẩm và an toàn cho người sử dụng
Vệ sinh thực phẩm và an toàn cho người sử dụng là những vấn đề được người
tiêu dùng và Chính phủ các nước đặc biệt quan tâm vì nó liên quan trực tiếp đến
sức khoẻ và an toàn của người tiêu dùng. Từ cuối những năm 1990 cho đến gần
đây, vì nguy cơ truyền nhiễm bọt não bò vẫn được gọi là bệnh bò điên người tiêu
Điển hình như EU là thị trường được coi là rất khó tính đối với thực phẩm nhập
khẩu đã ban hành 16 quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm đối với các loại thuỷ
sản nhập khẩu vào khối này. Đó là các quy định về tiêu chuẩn nuôi trồng, chế
biến, tồn trữ và vận chuyển; về hệ thống kiểm tra HACCP, về dư lượng tối đa các
chất độc hại trong sản phẩm. Sản phẩm nhập khẩu vào EU sẽ phải chịu sự kiểm
tra gắt gao gồm ba bước: kiểm tra chứng từ về vệ sinh y tế, kiểm tra sự đồng nhất
giữa chứng từ và sản phẩm, kiểm tra trên sản phẩm.
Trong các quy định về vệ sinh và an toàn cho người tiêu dùng thì giấy chứng
nhận tiêu chuẩn xác định tình trạng nguy hiểm HACCP là một quy định bắt buộc
của rất nhiều thị trường. Nếu các doanh nghiệp không áp dụng và có giấy chứng
nhận đạt tiêu chuẩn HACCP thì không được phép xuất khẩu hàng sang những thị
trường có yêu cầu về điều kiện này. Các doanh nghiệp xuất khẩu cũng cần tuân
thủ nghiêm ngặt tiêu chuẩn thực hành sản xuất tốt GMP – Good Manufacturing
Practice ( GMP đòi hỏi người công nhân, nhà máy, các phương tiện chế biến, đồ
chứa, nguồn nước phải đảm bảo an toàn vệ sinh) và các quy định trong hiệp định về các biện pháp vệ sinh và vệ sinh thực phẩm của WTO. Ngoài ra, tuỳ theo mặt
hàng và tuỳ theo yêu cầu của từng thị trường mà còn có nhiều các quy định khác
như quy định về nhãn mác sản phẩm, các chỉ tiêu vi sinh quy định loại, lượng
khuẩn có trong sản phẩm đối với thuỷ sản, các chỉ tiêu về tiếng ồn, mức phóng xạ
đối với các sản phẩm tiêu dùng…
Tóm lại, cũng như các loại rào cản kỹ thuật khác, rào cản về vệ sinh và an toàn
cho người tiêu dùng là một loại rào cản hết sức phức tạp , tinh vi, đa dạng và
được sử dụng ngày càng nhiều khiến cho các doanh nghiệp xuất khẩu rất khó nắm
bắt và khó vượt qua gây cản trở không ít cho thương mại quốc tế.
1.2.3. Tiêu chuẩn về môi trường
Phát triển thương mại gắn với bảo vệ môi trường đang là xu thế thương mại quốc
tế, đó là phát triển thương mại bền vững trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế,
được gọi chung là “thương mại-môi trường”. Sau một thời gian dài chạy theo lợi
đóng gói bao gồm những quy định liên quan đến nguyên vật liệu đóng gói, những
quy định về tái sinh, những quy định về xử lý và thu gom sau quá trình sử dụng…
Những tiêu chuẩn và quy định liên quan đến những đặc tính tự nhiên của sản
phẩm và nguyên liệu đóng gói đòi hỏi việc đóng gói phải phù hợp với việc tái
sinh hay dùng lại. Những sản phẩm không phù hợp có thể bị thị trường từ chối cả
nguyên vật liệu đóng gói và sản phẩm chứa trong bao bì.
Nhãn môi trường :
Sản phẩm được dán nhãn sinh thái nhằm mục đích thông báo cho người tiêu dùng
biết là sản phẩm đó được coi là tốt hơn về mặt môi trường. Các tiêu chuẩn về dán
nhãn sinh thái được xây dựng trên cơ sở phân tích chu kỳ sống của sản phẩm, một
quá trình còn được gọi là phân tích từ đầu đến cuối (từ lúc sinh đến lúc chết).
Theo phương pháp này, người ta sẽ đánh giá mức độ ảnh hưởng đối với môi
trường của sản phẩm ở các giai đoạn khác nhau trong toàn bộ chu kỳ sống của nó. Các giai đoạn này bao gồm giai đoạn tiền sản xuất (chế biến nguyên liệu thô), sản
xuất, phân phối (bao gồm cả đóng gói), sử dụng hoặc tiêu thụ và loại bỏ sau khi
sử dụng.
Phí, thuế và các khoản thu liên quan đến môi trường:
Các khoản này được gọi chung là phí môi trường thường được áp dụng nhằm ba
mục tiêu chính: thu lại các chi phí phải sử dụng cho môi trường, thay đổi cách
ứng xử của cá nhân và tập thể đối với các hoạt động có liên quan tới môi trường
và thu quỹ cho các hoạt động bảo vệ môi trường. Thường có các loại phí sau:
- Phí sản phẩm: được áp dụng cho các sản phẩm gây ô nhiễm như có chứa các
hoá chất độc hại (xăng pha chì) hoặc có một số thành phần cấu tạo của sản phẩm
gây khó khăn cho việc thải loại sau sử dụng.
- Phí đối với khí thải: được áp dụng với các chất gây ô nhiễm thoát vào không
khí, nước hoặc đất hoặc gây tiếng ồn. Các khoản phí này có thể được đánh vào
thời điểm tiêu thụ (trong trường hợp này tương đương với phí sản phẩm và có tác
động tương tự đến thương mại), hoặc có thể được thu dưới hình thức phí đối với
như tham gia ký kết các hiệp định song phương, đa phương về rào cản kỹ thuật
trong thương mại. Trong số đó, thì hiệp định về rào cản kỹ thuật trong thương mại
của GATT/WTO là quan trọng và có phạm vi hiệu lực lớn nhất.
2.1. Hiệp định về rào cản kỹ thuật trong thương mại của WTO
Với mục đích thúc đẩy thương mại quốc tế, từ khi mới thành lập, GATT đã tổ
chức các vòng đàm phán thương mại về các vấn đề giao dịch. Trong các vòng
đàm phán đầu, trọng điểm thảo luận tập trung vào thuế suất. Nhưng từ vòng đàm
phán Tokyo (1973-1979), do thực tế tình hình thương mại quốc tế đã xuất hiện
những hình thức mới của rào cản thương mại nên các nước đã tập trung nghiên cứu về các cản trở không liên quan đến thuế suất, đó là các yêu cầu kỹ thuật mà
hàng hoá phải đáp ứng trước khi nhập khẩu vào các quốc gia khác.
Và năm 1979, 17 quốc gia đã ký hiệp định về rào cản kỹ thuật trong thương mại
được gọi là điều lệ chuẩn của GATT và thoả thuận về các biện pháp vệ sinh và vệ
sinh thực phẩm.
Hiệp định về rào cản kỹ thuật có hiệu lực từ 01/01/1980. Những quy định của
Hiệp định này nhằm đảm bảo tính ổn định sản phẩm về chất lượng, giảm bớt
kiểm tra. Ngoài ra, Hiệp định còn đảm bảo tính an toàn vệ sinh cho người, gia súc
và cây cối, bảo vệ môi trường sinh thái.
Tuy nhiên Hiệp định cũng cho phép sử dụng những rào cản kỹ thuật trong những
trường hợp cần thiết. Trong phần đầu của Hiệp định có nêu rõ: “không một quốc
gia nào bị ngăn cấm đưa ra những biện pháp cần thiết nhằm bảo vệ con người,
động vật, cuộc sống hoặc sức khoẻ của thực vật, của môi trường hoặc không bị
ngăn cấm đưa ra các biện pháp nhằm ngăn cản các hành động lừa bịp với mức độ
phù hợp”.
Hiệp định quy định các nước thành viên phải đối xử một cách bình đẳng giữa các
sản phẩm nhập khẩu và các sản phẩm nội địa hoặc sản phẩm cùng loại có xuất xứ
từ bất kỳ quốc gia nào khác. Điều 2.1 nêu rõ: “ Các thành viên phải đảm bảo rằng
theo các quy định kỹ thuật, các sản phẩm nhập khẩu từ một lãnh thổ của bất cứ
Hiệp định.
Hiệp định còn quy định những ưu đãi đặc biệt và khác biệt đối với các nước thành
viên đang phát triển về nhu cầu phát triển, tài chính, thương mại cũng như trong
quá trình soạn thảo, áp dụng các quy định kỹ thuật, tiêu chuẩn…Các nước thành
viên đang phát triển có thể được Uỷ ban về rào cản kỹ thuật đối với thương mại
dành cho những ngoại lệ trong việc thực hiện toàn bộ hay một phần nghĩa vụ của
Hiệp định. Hiệp định cũng thành lập một Uỷ ban về hàng rào kỹ thuật đối với thương mại
gồm đại diện của các Thành viên để điều phối việc áp dụng rào cản kỹ thuật trong
thương mại của các nước nhằm tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy việc phát triển
kinh tế của các nước thành viên.
Hiệp định đưa ra các phương pháp để các bên bàn bạc và giải quyết khi có tranh
chấp xảy ra dưới sự giám sát của cơ quan giải quyết tranh chấp.
Theo tạp chí Export quality số 44 tháng 3/1995 thì “ Hiệp định về rào cản kỹ
thuật trong thương mại quốc tế nhằm tạo ra những cơ cấu, những định chế trong
các doanh nghiệp, trong các quốc gia, trong các khu vực nhằm giảm thiểu hoặc
loại trừ dần rào cản kỹ thuật trong thương mại giữa các tổ chức”.
2.2. Hiệp định về các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch động vật của WTO
Bên cạnh Hiệp định về rào cản kỹ thuật trong thương mại, WTO đưa ra Hiệp định
về các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch động vật (SPS – Sanitary and
Phytosanitary Measures) để điều chỉnh việc áp dụng các biện pháp vệ sinh và
kiểm dịch động vật có ảnh hưởng tới thương mại của các nước.
Hiệp định về các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch động vật của WTO cũng cho
phép các nước thành viên sử dụng các biện pháp cần thiết liên quan đến vấn đề vệ
sinh và kiểm dịch động vật để bảo vệ con người, động thực vật và môi trường của
mình trong những trường hợp cần thiết với điều kiện các biện pháp này không
được tạo nên một sự đối xử bất công bằng giữa các Thành viên cũng như không
được tạo ra các rào cản trá hình đối với thương mại quốc tế.
về các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch động vật của mình cũng như những thay
đổi của các biện pháp đó.
Đồng thời, Hiệp định này cũng có quy định về sự hỗ trợ kỹ thuật giữa các nước
thành viên, đặc biệt là cho các Thành viên đang phát triển thông qua các hiệp
định song phương hoặc trong khuôn khổ các tổ chức quốc tế phù hợp. Tương tự Hiệp định về rào cản kỹ thuật trong thương mại, Hiệp định về các biện
pháp vệ sinh và kiểm dịch động vật cũng có sự ưu đãi và đối xử đặc biệt đối với
các nước thành viên đang phát triển.
Ngoài ra, Hiệp định này cũng có các điều khoản về việc thực thi Hiệp định, điều
khoản về tư vấn và giải quyết tranh chấp phát sinh giữa các Thành viên và thành
lập một Uỷ ban về các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch động vật để điều hành việc
thực hiện các điều khoản của Hiệp định.
Có thể nói Hiệp định về rào cản kỹ thuật trong thương mại và Hiệp định về các
biện pháp vệ sinh và kiểm dịch động vật của WTO là công cụ quan trọng góp
phần vào việc hội nhập thị trường thế giới của các doanh nghiệp, các quốc gia dù
ở trình độ phát triển khác nhau.
II. CÁC HỆ THỐNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG THƯỜNG ĐƯỢC SỬ DỤNG TRÊN THẾ
GIỚI.
Trong thời đại ngày nay, hội nhập kinh tế quốc tế là một xu hướng tất yếu nếu các
quốc gia không muốn bị tụt hậu, bị cô lập. Nhưng khi tham gia thương mại thế
giới thì các nước lại gặp rất nhiều rào cản. Do đó, mỗi doanh nghiệp cần phải có
những giải pháp để vừa hội nhập kinh tế thành công vừa bảo đảm được những
quyền lợi của doanh nghiệp mình.
Để vượt qua các rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế, các doanh nghiệp có
thể sử dụng nhiều biện pháp khác nhau trong đó có việc áp dụng các hệ thống
quản lý chất lượng quốc tế. Hiện nay trên thế giới có nhiều hệ thống quản lý chất
lượng do các tổ chức tiêu chuẩn và chất lượng khác nhau ban hành và cấp giấy
chứng nhận trong đó phổ biến là hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000, hệ thống
ISO 9002: Hệ thống chất lượng – Mô hình đảm bảo chất lượng trong quá
trình sản xuất lắp đặt và dịch vụ. ISO 9003: Hệ thống chất lượng – Mô hình đảm bảo chất lượng trong quá
trình kiểm tra cuối cùng và thử nghiệm.
ISO 9004.1: Quản lý chất lượng và các yếu tố trong hệ thống chất lượng.
Phần 1: Hưóng dẫn
ISO 9004.2: Quản lý chất lượng và các yếu tố trong hệ thống chất lượng
Phần 2: Hướng dẫn dịch vụ
Bốn triết lý của bộ ISO 9000:
Phương hướng tổng quát của bộ ISO 9000 là nhằm tạo ra những sản phẩm
và dịch vụ có chất lượng để thoả mãn nhu cầu của khách hàng bên trong và
bên ngoài doanh nghiệp.
Các đặc trưng kỹ thuật đơn thuần không thể đảm bảo sự phù hợp của sản
phẩm đối với nhu cầu của khách hàng.Các tiêu chuẩn của hệ thống chất
lượng sẽ bổ sung thêm vào các đặc trưng kỹ thuật của sản phẩm nhằm thoả
mãn một cách tốt nhất nhu cầu của khách hàng.
Bộ ISO 9000 nêu ra những hướng dẫn đối với hệ thống chất lượng cho việc
phát triển có hiệu quả chứ không áp đặt một hệ thống chất lượng chuẩn đối
với từng doanh nghiệp. Hệ thống chất lượng của mỗi doanh nghiệp bị chi
phối bởi tầm nhìn, văn hoá, cách quản trị, cách thực hiện, ngành công
nghiệp, loại sản phẩm hay dịch vụ. Mỗi loại hình doanh nghiệp sẽ có hệ
thống quản lý chất lượng đặc trưng phù hợp cho từng hoàn cảnh cụ thể.
Hệ thống chất lượng của bộ ISO 9000 dựa trên mô hình quản trị theo quá
trình (MBP – Management By Process) lấy phòng ngừa làm phương châm
chủ yếu trong suốt vòng đời sản phẩm (thiết kế - sản xuất - tiêu dùng).
Bộ tiêu chuẩn ISO là một bộ tiêu chuẩn mang tính toàn cầu, được thừa nhận rộng
rãi trên thế giới do đó các doanh nghiệp sẽ có lợi ích rất lớn nếu được bên thứ ba
công nhận đạt tiêu chuẩn ISO 9000. Các doanh nghiệp ISO 9000 này sẽ được: