KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
TIỂU LUẬN MÔN HỌC
TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
Đề tài:
Qua cơ sở lý luận về lạm phát.phân tích tình
trạng lạm phát và các biện pháp ở Việt Nam
trong năm 2008
GVHD : Đặng Công Triết
Thực hiện: Nhóm 5
Lớp : 110810103
Thành phố Hồ Chí Minh, thứ 6 ngày 18 tháng 03 năm 2011
BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐH CÔNG NGHIỆP TP HỒ CHÍ MINH
aôb
DANH SÁCH NHÓM
1. Nguyễn Minh Tiến MSSV: 10118521
2. Nguyễn Thị Tuyết Mai MSSV: 10081361
3. Trần Thanh Thảo MSSV: 10083551
4. Lê Thụy Thùy Trang MSSV: 10075001
5. Đặng Thị Mùi MSSV: 10080071
6. Phùng Thiên Vũ MSSV:
7. Nguyễn Thị Cẩm Yến MSSV: 10089191
8. Phan Ngọc Vân Lam MSSV: 10157451
9. Nguyễn Thị Thu Thúy MSSV: 10147311
10. Lê Đình Hùng MSSV: 10082791
MỤC LỤC
LỜI NHẬN XÉT 2
LỜI MỞ ĐẦU 3
NỘI DUNG 5
5.2.3 Các biện pháp điều hành cung cầu thị trường 24
5.2.4 Về chỉ đạo điều hành 26
KẾT LUẬN 27
TÀI LIỆU THAM KHẢO 29
TÓM TẮT
Việt Nam sau 12 năm kiểm soát được lạm phát (1995-2007),từ tháng 12
năm 2007,lạm phát quay trở lại với chỉ số CPI 2 con số.Giá cả mặt hàng tiêu dùng
thiết yếu tăng vọt các tháng đầu năm 2008,Chính phủ đã thực hiện chiến lược
kiềm chế lạm phát “cả gói” với 8 giải pháp.Nhớ những biện pháp kịp thời và linh
hoạt của Chính phủ,tình hình lạm phát cuối tháng năm 2008 đã được kiềm chế,tuy
vậy giá cả vẫn ở mức cao và vẫn còn nhiều diễn biến phức tạp.Lạm phát là một
hiện tượng mà cả thế giới đều quan tâm,nghiên cứu về lạm phát để từ đó rút ra
những bài học vế lý lụân và thực tiễn là nhiệm vụ của các học giả,các nhà nghiên
cứu,đặc biệt là các diễn đàn nghiên cứu khoa học của chuyên ngành kinh tế trong
các trường đại học.Đề tài đã hệ thống hoá lý luận cơ bản về lạm phát và phân tích
các diễn biến thực tế của lạm phát ở Việt Nam qua chỉ số CPI và lãi suất ngân
hàng, tỉ giá hối đoái,tốc độ giảm GDP… trong nước,chỉ số giá vàng,USD trên thế
giới… trong giai đoạn tứ tháng 12/2007 đến 11/2008 và dự báo rủi ro,thach thức
đế xuất hệ giải pháp trong thời gian tới với kì vọng tham gia hoạch định chính
sach vĩ mô.bổ sung kiến thức về lý luận và thực tiễn,nâng cao chất lượng giảng
dạy,nghiên cứu học tập cho sinh viên và các bạn đồng nghiệp.
LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Không lúc nào như thời gian từ năm 2008 đến nay, vấn đề lạm phát và tăng
trưởng thu hút sự quan tâm của nhiều giới khác nhau:từ người dân thường mỗi
ngày khi ra chợ có cảm nhận như mình bị móc túi; các chủ doanh nghiệp phải vật
lộn với những toan tính từ chi phí vật tư, hàng hoá, dịch vụ, lương công nhân đến
giá thành, giá bán, thị trường cung cấp vật tư, hàng hoá và tiêu thụ sản phẩm; các
chủ nhà băng tính toán lãi suất huy động và cho vay như thế nào vừa để thu hút
tiền gửi của người gửi tiền và người vay vốn có thể chấp nhận với lãi suất cao
đó có cơ sở để đưa ra những kiến nghị và giải pháp trong công tác quản lý và kiềm
chế lạm phát, từ đó có làm tốt lên công tác ổn định kinh tế vĩ mô.
NỘI DUNG
CHƯƠNG I:NHỮNG LÝ THUYẾT VỀ LẠM PHÁT
I.TÌNH HÌNH LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.Nhìn nhận và đánh giá tình hình lạm phát ở Việt Nam hiện nay
Lạm phát là một trong bốn yếu tố quan trọng nhất của mọi quốc gia (tăng trưởng cao, lạm
phát thấp, thất nghiệp ít, cán cân thanh toán có số dư). Tình hình lạm phát hiện nay ở Việt
Nam lên tới mức báo động là 2 con số, vượt qua ngưỡng lạm phát cho phép tối đa là 9%
của mỗi quốc gia. Điều này sẽ dẫn đến nhiều tiêu cực trong đời sống kinh tế của chính
phủ: làm suy vong nền kinh tế quốc gia. Bên cạnh đó là sự tác động mạnh tới đời sống
của người dân, nhất là dân nghèo khi vật giá ngày càng leo thang.Mặc cho sự tồn tại của
nhiều cách đo lường khác nhau nhưng các định nghĩa về lạm phát cơ bản không phải là
tùy tiện. ở đâu cũng vậy, ý tưởng chính đằng sau khái niệm lạm phát cơ bản là việc loại
trừ những biến động nhất định về giá cả một số hàng hóa, làm méo mó việc đo lường xu
hướng lạm phát của một nước. Đặc biệt đối với một số loại giá được coi là có biến động
lớn, khá ngẫu nhiên, mang tính nhất thời và không theo bất cứ một xu hướng nào. Tất cả
những loại giá đó chỉ gây ra sự thay đổi tạm thời mặt bằng giá nói chung và sẽ lại biến
mất ngay sau đó. Những biến động bất thường này sẽ xảy ra, ví dụ trong trường hợp của
các loại lương thực thực phẩm tươi sống theo thời vụ và chủ yếu phụ thuộc vào sự biến
động của chất lượng mùa màng do tác động của thiên tai hay những sự cố bệnh dịch như
bệnh dịch bò điên hay dịch cúm gà… gây ra.
Sự biến động cho tới những cơn sốc của giá dầu thô trên thị trường thế giới từ trước đến
nay cũng thường xuyên chịu tác động của các nhân tố tạm thời như chiến tranh, bệnh
dịch, thời tiết… Trên thực tế, vấn đề khó khăn trong việc xác định xu hướng giá cả với sự
trợ giúp của phương pháp loại bỏ này là rất khó dự tính được liệu những biến động bất
thường đó về giá cả chỉ là tạm thời trong ngắn hạn hay sẽ còn kéo dài một khoảng thời
gian khá lâu nữa. Chẳng hạn như khi xác định giá cả dầu thô: sự tăng giá của dầu thô một
mặt, phụ thuộc chủ yếu vào nhu cầu trung hạn về dầu thô trên thị trường quốc tế và do
đó, lại phụ thuộc vào các nhân tố tăng trưởng kinh tế; mặt khác, còn phụ thuộc vào sản
quản lý hành chính công cộng: cuộc cải cách y tế ở Đức cũng sẽ làm tăng thêm 0,2% lạm
phát của toàn khu vực trong năm 2004. Tổng hợp lại, cả thuế thuốc lá và chi phí hành
chính đang chiếm tỷ trọng khoảng 8% HICP sẽ làm gia tăng lạm phát ở khu vực Euro ít
nhất thêm 0,5% trong năm 2004. Nếu loại bỏ tác động của các yếu tố thuế và chi phí
hành chính nói chung thì lạm phát bình quân khu vực này sẽ chỉ còn ở mức thấp xấp xỉ
1% thay vì 2% trong cả 2 năm 2004 và 2005. Đây là điều cần cân nhắc kỹ trong phân
tích, đánh giá chính sách tiền tệ của ECB để có thể kiềm chế hiệu quả lạm phát ở khu vực
Euro ở mức xấp xỉ dưới 2% như mục tiêu đã đề ra trong trung hạn.
Như vậy, để đánh giá đầy đủ về tình hình lạm phát, các NHTW cần phải có một cách
nhìn nhận sáng suốt về vấn đề này, nhất là ở những nền kinh tế còn yếu kém và bất ổn
định của các nước đang phát triển. Ngay tại cuộc Hội thảo trong tháng 7/2000 về đề tài
“Lạm phát cơ bản và cách dự báo lạm phát” do Trung tâm Đào tạo và Nghiên cứu
của các NHTW Đông Nam á (SEACEN) tổ chức cho các quan chức NHTW tại các nước
Châu á (chủ yếu là các nước đang phát triển như Inđônêxia, Malaixia, Mông Cổ, Nê pan,
Philippin, Thái Lan, Trung Quốc, Việt Nam và Xrilanca), các thành viên tham dự Hội
thảo đã nhận thức được sự cần thiết và tầm quan trọng của chỉ số lạm phát cơ bản, cách
xác định chỉ số này rất có ý nghĩa phục vụ cho các mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ
của các nước trên 3 phương diện: đề ra chính sách, trách nhiệm bảo đảm thực hiện chính
sách đã đề ra và xúc tiến công tác dự báo và ước tính theo mô hình kinh tế lượng. Cơ sở
quan trọng để tính toán lạm phát cơ bản chính là chất lượng chuẩn xác và tính kịp thời
của các số liệu thống kê giá cả và tiền tệ được tập hợp và xử lý trong tính toán. Đây là
vấn đề trọng tâm thu hút sự quan tâm chú ý của hầu hết NHTW các nước, các khu vực có
sử dụng chỉ số lạm phát cơ bản trong điều hành chính sách. Từ tháng 8/2000, ECB cũng
đã kêu gọi các nước thành viên trong khu vực Euro cần có sự cải cách về cách thức thu
thập và tính toán các chỉ số kinh tế trong khu vực vì số liệu mà ECB nhận được từ các
nước thành viên chưa đạt các chuẩn mực cần thiết. Trong đó, ECB nêu rõ số liệu về khu
vực dịch vụ là đặc biệt cần thiết phải quan tâm để có được đầy đủ và chính xác hơn. ECB
còn yêu cầu các thành viên phải cung cấp và công bố số liệu kịp thời hơn vì nếu so sánh
thì các nhà quản lý và hoạch định chính sách của ECB thường có thông tin, số liệu quan
trọng về GDP hay về thị trường lao động… chậm hơn nhiều so với các đồng nghiệp ở
lệ phần trăm mức tăng của mức giá trung bình hiện tại so với mức giá trung bình ở thời
điểm gốc. Để dễ hình dung có thể coi mức giá cả như là phép đo kích thước của một quả
cầu, lạm phát sẽ là độ tăng kích thước của nó.
2.Chỉ số giá tiêu dùng ở Việt Nam trong xu hướng giá cả trên thế giới gia tăng
Cho đến nay, Việt Nam mới chỉ tính toán và công bố chính thức chỉ số giá tiêu dùng CPI,
chưa tính toán lạm phát cơ bản. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) hiện nay của Việt Nam được
tính trên cơ sở chỉ số giá tiêu dùng của các tỉnh, thành phố trong cả nước. Chỉ số giá của
từng tỉnh, thành phố được tính theo phương pháp bình quân số học gia quyền giữa chỉ số
giá tiêu dùng nhóm cấp III, cấp II rồi cấp I với quyền số cố định tương ứng trên cơ sở cơ
cấu chi tiêu hộ gia đình tổng hợp từ kết quả điều tra do Tổng cục Thống kê tiến hành năm
2000.
Danh mục thu thập giá gồm khoảng 396 mặt hàng, chia theo 10 nhóm tiêu dùng cấp I, lại
được phân tiếp thành 34 nhóm cấp II, 86 nhóm cấp III và 75 nhóm cấp IV. Sự phân nhóm
được tiến hành theo hình tháp, càng xuống thấp số lượng nhóm càng lớn (trong mỗi
nhóm đều bao gồm hàng hóa và dịch vụ cho từng loại nhu cầu tiêu dùng). Ví dụ trong
nhóm tiêu dùng cấp I, lương thực – thực phẩm lại được phân tiếp thành 3 nhóm cấp II và
20 nhóm cấp III…
Phương pháp xác định chỉ số CPI của Việt Nam được diễn tả ở trên cho thấy: Nhìn
chung, các mức quyền số cố định có tác động chi phối đáng kể đến xu hướng và mức độ
biến động chỉ số giá tiêu dùng ở Việt Nam. Tổng cộng có 10 nhóm hàng hóa và dịch vụ
của rổ hàng hóa dịch vụ tham gia kết cấu quyền số tính chỉ số giá tiêu dùng CPI; các mức
quyền số này đã được Tổng cục Thống kê tính toán xác định trên cơ sở cơ cấu chi tiêu
thực tế ở các hộ gia đình đã được điều tra khảo sát theo định kỳ khoảng 5 năm một lần
(gần đây là các năm 1995, 2000 được lấy làm năm gốc điều tra). Trong đó, quyền số cố
định của nhóm hàng cấp I lương thực – thực phẩm vẫn đứng ở vị trí cao nhất với mức
47,9% (đã giảm đáng kể so với mức 60,86% ở năm 1995); còn quyền số cố định của 9
nhóm cấp I còn lại thấp hơn rất nhiều. Như vậy, xu hướng biến động chỉ số giá tiêu dùng
ở Việt Nam từ trước đến nay, nhất là kể từ khi tính toán và công bố chính thức chỉ số
CPI, chủ yếu chịu ảnh hưởng của sự biến động giá lương thực thực phẩm là mức giá hay
thay đổi mạnh do phải chịu nhiều yếu tố tác động khác nhau ở trong và ngoài nước. Điều
giá phân bón thì tăng 5,7% so với cuối năm 2003. Giá cả trên thị trường thế giới tăng cao
đã gây tác động trở lại làm gia tăng đáng kể lạm phát ở ngày càng nhiều nước trên thế
giới từ các nước công nghiệp tiên tiến như Mỹ (chỉ số giá tiêu dùng đã tăng từ 1,7%/năm
trong tháng 2/2004 lên tới 5,1%/năm trong tháng 5/2004), các nước khu vực Euro (chỉ số
CPI từ tháng 2-5/2004 đã tăng từ 1,6%/năm lên 2,5%/năm – cao vượt mức trần mục tiêu
2%/năm), rồi Nhật Bản (CPI đã tăng 1,1%/năm trong tháng 5/2004 – mức tăng CPI cao
nhất kể từ năm 1997) cho đến các nước đang phát triển như Trung Quốc (trong tháng
6/2004 chỉ số giá sản xuất tăng 6,4%/năm còn CPI đã tăng lên gần 5%/năm – mức tăng
cao nhất trong vòng 7 năm qua; CPI của cả năm 2003 chỉ vào khoảng 1%).
Mức độ tăng giá nguyên vật liệu sản xuất và giá hàng tiêu dùng trong 7 tháng đầu năm
2004 ở Việt Nam như vậy là khá cao và như Bộ Tài chính Việt Nam đã thừa nhận có gây
tác động không nhỏ đến nền kinh tế, đời sống xã hội: “tác động xấu đến sản xuất kinh
doanh, đến chính sách kinh tế vĩ mô, giá đầu ra, ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của hàng
hóa, dịch vụ” (Báo cáo của Bộ Tài chính tại Hội nghị triển khai các giải pháp thực hiện
thắng lợi nhiệm vụ tài chính – ngân sách 2004 và xây dựng dự toán ngân sách 2005 ngày
23/6/2004 tại Hà Nội). Cũng tại Hội nghị này, Phó Thủ tướng Vũ Khoan đã khẳng định
mặt bằng giá cả ở Việt Nam cũng phải tăng lên theo xu hướng tăng giá trên thị trường thế
giới trong bối cảnh hội nhập toàn cầu hóa hiện nay: “Vấn đề giá cả theo tôi là vấn đề
nóng bỏng nhất hiện nay. Trong hoàn cảnh hiện tại, giá cả của nước ta phụ thuộc hầu như
hoàn toàn vào giá thế giới, nhất là một số mặt hàng thiết yếu như sắt thép, dầu xăng, xi
măng… nên theo tôi, không thể điều khiển hoàn toàn được giá cả. Nếu không nhận thức
phù hợp về vấn đề này sẽ không giải quyết được vấn đề giá cả chứ không phải cứ thắt
chặt giá cả là đúng… Chúng ta nên hướng dẫn người dân quen dần với tình hình mới, đó
cũng là đặc điểm của môi trường hội nhập”.
Trong thực tế, chúng ta chưa tính toán lạm phát cơ bản nên chưa thể xác định được rõ
ràng và đầy đủ xu hướng lạm phát ở Việt Nam. Hơn thế nữa, chỉ số giá tiêu dùng CPI
hiện nay đang được tính trên cơ sở rổ hàng hóa dịch vụ cùng với các quyền số tương ứng
cơ cấu chi tiêu tiêu dùng của các hộ gia đình Việt Nam đã được Tổng cục Thống kê khảo
sát điều tra từ trước năm 2000. Đã hơn 3 năm trôi qua, đời sống vật chất tinh thần của
nhân dân ta đã có nhiều đổi thay đáng kể và một điều tương đối chắc chắn là các mức
. (Dân trí) - Theo dự báo của Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế TƯ, lạm phát năm nay, xét
đến kịch bản xấu nhất có thể lên tới 22,3%, trong khi kinh tế Việt Nam khó tiếp tục tăng
trưởng với tốc độ cao như năm 2007.Tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2007 đạt
8,5%, theo đánh giá của bản báo cáo, “cũng khó có thể nói đó là một con số thật ấn
tượng”, dù đây là tốc độ tăng trưởng cao nhất kể từ năm 1997.Bởi con số này không ghi
nhận sự đột phá so với các năm liền kề 2005 - 2006 và tỷ lệ đầu tư so với GPD năm 2007
quá cao, chiếm tới 44%.
Cuối năm 2007, thời điểm đánh dấu tròn một năm Việt Nam trở thành thành viên WTO.
Thời gian một năm là quá ngắn để có thể đánh giá và nhìn nhận đầy đủ tác động của việc
gia nhập WTO đối với tiến trình cải cách bên trong và nền kinh tế Việt Nam. Nhưng việc
gia nhập WTO đã phần nào làm “lộ rõ những yếu kém, bất cấp cố hữu của nền kinh tế
Việt Nam, nhất là đối với việc đảm bảo sự phát triển nhanh, vững bền” - báo cáo nhấn
mạnh.Theo TS.Võ Trí Thành, sự sôi động của thị trường tài chính, hoạt động ngân hàng
và thị trường bất động sản năm qua ít chuyển hóa sang nền kinh tế thực; khu vực tài
chính, ngân hàng và bảo hiểm vẫn chiếm chưa tới 2% GDP.
Điều này đang là lời cảnh báo về chất lượng tăng trưởng, chất lượng đầu vào của nền
kinh tế. Vốn đầu tư của các doanh nghiệp lớn tăng 5,7% cũng là dấu hiệu bất thường, bởi
một phần vốn rất lớn của các doanh nghiệp này đã không dẫn vào các kênh sản xuất kinh
doanh tạo sản phẩm thật mà chủ yếu đổ vào các kênh đầu tư ảo: chứng khoán, bất động
sản… Ngược lại, tốc độ tăng tiêu dùng của người dân Việt Nam đang cao hơn rất nhiều
so với tốc độ tăng GDP. “Bình quân đầu người năm qua đạt khoảng 841 USD/người/năm,
trong khi tốc độ tiêu dùng của người dân lại đang cao hơn rất nhiều. Điều này dẫn tới tiết
kiệm nội địa năm 2007 bị chững lại.
CHƯƠNG II.MỐI LO NGẠI ĐẾN NẾN KINH TẾ HIỆN NAY
I.LẠM PHÁT – MỐI QUAN NGẠI CHỦ YẾU CỦAVIỆT NAM NĂM 2008
“Sức ép lạm phát sẽ là mối quan ngại chủ yếu của Việt Nam năm 2008”. Đây là thông
điệp được đưa ra trong báo cáo khảo sát kinh tế xã hội năm 2008 do UB Kinh tế xã hội
châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) của Liên Hợp Quốc công bố. Trong phần khảo sát
về Việt Nam, báo cáo của ESCAP bày tỏ tin tưởng Việt Nam sẽ tiếp tục dẫn đầu về tăng
trưởng kinh tế ở khu vực Đông Nam Á.
nghiệp chế biển sản phẩm nông nghiệp có ít tiến bộ, cùng với thiên tai dịch bệnh và
những tác động không mong muốn từ giá cả toàn cầu sẽ là những thách thức lớn của Việt
Nam trong năm 2008.
II.VAI TRÒ TRONG KINH TẾ
1.Các hiệu ứng tích cực
Nhà kinh tế đoạt giải Nobel James Tobin nhận định rằng lạm phát (tỷ lệ tăng giá mang
giá trị dương) vừa phải sẽ có lợi cho nền kinh tế. Ông dùng từ "dầu bôi trơn" để miêu tả
tác động tích cực của lạm phát. Mức lạm phát vừa phải làm cho chi phí thực tế mà nhà
sản xuất phải chịu để mua đầu vào lao động giảm đi. Điều này khuyến khích nhà sản xuất
đầu tư mở rộng sản xuất. Việc làm được tạo thêm. Tỷ lệ thất nghiệp sẽ giảm.
2.Các hiệu ứng tiêu cực
Đối với lạm phát dự kiến được
Trong trường hợp lạm phát có thể được dự kiến trước thì các thực thể tham gia vào nền
kinh tế có thể chủ động ứng phó với nó, tuy vậy nó vẫn gây ra những tổn thất cho xã hội:
Chi phí mòn giày: lạm phát giống như một thứ thuế đánh vào người giữ tiền và lãi suất
danh nghĩa bằng lãi suất thực tế cộng với tỷ lệ lạm phát nên lạm phát làm cho người ta
giữ ít tiền hay làm giảm cầu về tiền. Khi đó họ cần phải thường xuyên đến ngân hàng để
rút tiền hơn. Các nhà kinh tế đã dùng thuật ngữ "chi phí mòn giày" để chỉ những tổn thất
phát sinh do sự bất tiện cũng như thời gian tiêu tốn mà người ta phải hứng chịu nhiều hơn
so với không có lạm phát.
* Chi phí thực đơn: lạm phát thường sẽ dẫn đến giá cả tăng lên, các doanh nghiệp sẽ
mất thêm chi phí để in ấn, phát hành bảng giá sản phẩm.
* Làm thay đổi giá tương đối một cách không mong muốn: trong trường hợp do lạm phát
doanh nghiệp này tăng giá (và đương nhiên phát sinh chi phí thực đơn) còn doanh nghiệp
khác lại không tăng giá do không muốn phát sinh chi phí thực đơn thì giá cả của doanh
nghiệp giữ nguyên giá sẽ trở nên rẻ tương đối so với doanh nghiệp tăng giá. Do nền kinh
tế thị trường phân bổ nguồn lực dựa trên giá tương đối nên lạm phát đã dẫn đến tình trạng
kém hiệu quả xét trên góc độ vi mô.
* Lạm phát có thể làm thay đổi nghĩa vụ nộp thuế của các cá nhân trái với ý muốn của
người làm luật do một số luật thuế không tính đến ảnh hưởng của lạm phát. Ví dụ: trong
cách nhìn nhận ở góc độ nguyên nhân của lạm phát. Theo lý thuyết kinh tế học hiện đại,
lạm phát do ba nguyên nhân: cầu kéo, chi phí đẩy và quá thừa mức tiền cung ứng trong
lưu thông. Tuy nhiên trong thực tế, lạm phát gia tăng còn do một số nguyên nhân nữa, thí
dụ: Tâm lý của dân chúng, sự mất cân đối trong cơ cấu đầu tư
Lạm phát tiền tệ được hiểu là mức tiền cung ứng cho lưu thông vượt quá mức cần thiết,
biểu hiện là sự mất giá của đồng bản tệ.
Lạm phát giá cả được hiểu là giá cả hàng hóa và dịch vụ nói chung tăng lên do cầu lớn
hơn cung (cầu kéo), hoặc do chi phí sản xuất hàng hóa và dịch vụ tăng lên (chi phí đẩy).
Trong thực tế hai loại lạm phát nói trên ít khi xảy ra cùng một lúc, mà thường hoặc là lạm
phát giá cả, hoặc là lạm phát tiền tệ.
A.Chống lạm phát ở Việt Nam: Tìm đúng nguyên nhân mới có giải pháp tích cực
Kiềm chế lạm phát để ổn định kinh tế ở nước ta đang là vấn đề bức xúc. Lạm phát đang
diễn ra do nhiều nguyên nhân, trong đó, đặc biệt quan trọng là nguyên nhân tỷ giá, là yếu
tố phản ánh biến động kinh tế cả trong nước và quốc tế. Trên cơ sở nhấn mạnh định
lượng về lạm phát, tác giả đã kiến nghị một số giải pháp để góp phần kiềm chế lạm phát
ở nước ta.
1 - Chế độ tỷ giá hiện hành là nguyên nhân cơ bản của lạm phát ở Việt Nam
Năm 2007, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục đà tăng trưởng ấn tượng đạt 8,48%, cao hơn
mức trung bình 5 năm giai đoạn 2003 - 2007 (8%/năm), là một trong những nền kinh tế
có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trên thế giới. Tuy nhiên, vào những tháng cuối năm
2007 và đầu năm 2008, cùng với đà suy thoái kinh tế thế giới, đồng USD mất giá, giá dầu
thô tăng cao, giá cả lương thực và nguyên nhiên vật liệu tăng đột biến cộng với tác động
của thiên tai, dịch bệnh đã làm cho nền kinh tế Việt Nam bộc lộ những nhược điểm cố
hữu của một nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi.
Trong các báo cáo gần đây, Chính phủ đã chỉ ra được hầu hết những nguyên nhân gây ra
những yếu kém kinh tế trong thời kỳ này. Cụ thể là, "cơ cấu kinh tế chậm cải thiện; công
nghiệp khai thác tài nguyên và gia công vẫn chiếm tỷ trọng lớn, công nghiệp phụ trợ
chậm phát triển, phần lớn vật tư, nguyên liệu trung gian cho sản xuất phải nhập khẩu; giá
trị gia tăng sản xuất công nghiệp thấp. Tình trạng đầu tư từ nguồn vốn ngân sách nhà
nước vẫn còn dàn trải, không bảo đảm tiến độ, còn nhiều thất thoát, hiệu quả thấp kéo
tỉ USD, cao hơn 77% so với năm 2006. Tổng chi ngân sách nhà nước đạt 399,3 nghìn tỉ
đồng, vượt khoảng 11,7% so với dự toán năm. Bội chi ngân sách nhà nước 56,5 nghìn tỉ
đồng, bằng 4,95% GDP. Thâm hụt cán cân thương mại là 14,12 tỉ USD, bằng 29% tổng
kim ngạch xuất khẩu, tăng gấp hơn 2,5 lần so với năm 2006
(2)
. Tổng cầu tăng nóng vượt
quá khả năng của một nền kinh tế còn tồn tại nhiều vấn đề "thắt cổ chai" liên quan tới hạ
tầng kinh tế, xã hội và pháp luật đã làm gia tăng áp lực lạm phát. Tuy nhiên, cần phải
nhìn nhận việc gia tăng đầu tư nước ngoài và đầu tư công vào kết cấu hạ tầng tạo cơ hội
nhiều hơn thách thức, góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế và giải quyết các vấn đề "thắt
cổ chai", tạo đà phát triển bền vững trong dài hạn.
Nhóm nguyên nhân thứ hai có nguồn gốc từ các yếu tố bên ngoài
Tác động của lạm phát do chi phí đẩy ở Việt Nam thường cao hơn gấp đôi các nước khác
trong khu vực là do Việt Nam thực thi chính sách neo giá đồng nội tệ với USD
(3)
. Các
nước trong khu vực như Ma-lai-xi-a và Thái Lan theo đuổi chính sách thả nổi có điều tiết
đồng nội tệ và đã điều chỉnh lên giá nội tệ theo giá trị danh nghĩa của đồng USD trong
thời gian qua. Kể cả Trung Quốc là nước có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam trong
việc thực thi chính sách tỷ giá cũng đã điều chỉnh lên giá danh nghĩa nội tệ trong thời
gian qua. Kết quả là, trong khoảng thời gian từ tháng 1-2004 đến nay, đồng Việt Nam có
xu hướng mất giá danh nghĩa, trong khi đồng tiền của các nước khác trong khu vực có xu
hướng lên giá danh nghĩa so với đồng USD.
Giá hàng hóa, nguyên liệu trên thế giới tăng mạnh trong thời gian gần đây là do tăng
trưởng cầu thế giới tăng nhanh hơn tốc độ tăng cung với bằng chứng là lượng hàng tồn
kho hàng hóa nguyên liệu giảm mạnh. Đồng USD mất giá danh nghĩa làm cho giá hàng
hóa tính theo đồng tiền khác như EUR, GBP giảm tương đối và càng khuyến khích cầu.
Bên cạnh đó, các quỹ đầu tư trên thế giới gia tăng mua hàng hóa đề phòng vệ rủi ro mất
giá USD. Kết quả là giá hàng hóa nguyên liệu tăng lên cao hơn mức bình thường, tăng do
tăng cầu và tăng do USD mất giá.
sách tiền tệ là từ 6-36 tháng, nên không phải cung tiền tăng lập tức dẫn tới lạm phát.
Trong tình hình hiện nay, tốc độ tăng trưởng cung ứng tiền tệ M2 chỉ đóng vai trò xúc tác
cho quá trình nhập khẩu lạm phát từ nước ngoài. Trên thực tế, ở bảng 1 chúng ta có thể
thấy do lương thực, thực phẩm chiếm tỷ trọng tới 42,7% trong chỉ số CPI, nên phần đóng
góp của giá lương thực thường chiếm tới 70% động thái của chỉ số giá tiêu dùng CPI
(được coi là tỷ lệ lạm phát). Trong quý III năm 2007, phần đóng góp của các yếu tố phi
lương thực vào lạm phát chỉ là 3,5%. Con số này là 4% cho quí IV năm 2007, và ngay cả
khi lạm phát lên tới 15,7% vào tháng 2-2008, thì lương thực thực phẩm góp tới 10,8%.
Tháng 3 và tháng 4, tỷ lệ lạm phát so với cùng kỳ năm trước là 19,4% và 21,4%, phần
đóng góp của lạm phát giá lương thực, thực phẩm là 13,1% và 14,6%.
2 - Thử bàn thêm về giải pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam
Theo thông tin từ Hiệp hội Thủy sản các tỉnh phía Nam, việc không vay được vốn đã bắt đầu
gây ra nhiều hậu quả mà cả doanh nghiệp và nông dân phải gánh chịu. Điều này khiến việc
mua cá nguyên liệu của người dân chậm lại, nông dân đang bị thiệt hại rất lớn. Chỉ tính riêng
từ tháng 3-2008 đến nay, người nuôi cá đã mất khoảng 300 tỉ đồng do việc không bán được
cá và giá cá xuống thấp. Nông dân không còn mặn mà nuôi cá, nguồn cá nguyên liệu sụt
giảm, công nghiệp chế biến lại gặp khó khăn. Vòng tròn luẩn quẩn là khi có thị trường thì
không có cá để xuất khẩu và ngược lại, khi có cá thì không có thị trường.
Lãnh đạo Tập đoàn dệt may Việt Nam cũng cho rằng, khi doanh nghiệp đang căng sức để
cạnh tranh và giữ lấy thị trường nước ngoài nhiều biến động thì câu chuyện vốn vay, lãi suất
và giá cả trong nước gần như đi ngược lại tất cả
(6)
.
Lạm phát tiền tệ có thể được giải quyết thông qua thắt chặt tín dụng, nhưng lạm phát do
cầu kéo hoặc chi phí đẩy chỉ có thể được giải quyết thông qua điều chỉnh cơ cấu và ổn
định hóa. Việc thi hành chính sách thắt chặt tiền tệ trong những tháng đầu năm 2008
thông qua điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc, điều chỉnh lãi suất cơ bản, lãi suất tái chiết
khấu và phát hành tín phiếu bắt buộc nhằm thu hút bớt tiền từ lưu thông về, giảm áp lực
đối với lạm phát, kiểm soát quy mô tăng trưởng tín dụng bộc lộ nhiều vấn đề có tính hệ
thống, cơ cấu, đe dọa sự ổn định của hệ thống tài chính.
`Bảng 1. Chỉ số lạm phát giá tiêu dùng và chỉ số lạm phát "cơ bản"
Nguồn: East Asia & Pacific Update (4-2008)
Bảng 1 chỉ ra rằng, gia tăng lạm phát trong thời gian gần đây chủ yếu là do tăng giá
lương thực theo diễn biến chung trên thế giới. Nguyên nhân làm cho lạm phát ở Việt
Nam cao hơn nước ngoài là do chế độ tỷ giá bất lợi làm cho Việt Nam phải “nhập khẩu
lạm phát” giá lương thực tính theo USD, và làm khuếch đại mức tăng giá cả lương thực
tương đối so với các nước khác.
Trừng phạt hệ thống tài chính, ngân hàng bằng các công cụ hành chính sẽ không giải
quyết được vấn đề lạm phát phi tiền tệ. Hiện nay, các nước trên thế giới thường sử dụng
thêm chỉ số lạm phát cơ bản (core inflation), là chỉ số lạm phát loại bỏ các nhân tố biến
động lớn như giá lương thực và năng lượng, để giám sát các nhân tố lạm phát có nguồn
gốc tiền tệ. Khi chỉ số lạm phát cơ bản nằm trong giới hạn kỳ vọng, mà chỉ số giá tiêu
dùng vẫn tăng cao do các nhân tố phi tiền tệ thì cần phải có biện pháp điều chỉnh cơ cấu.
Việc chuyển dần từ điều hành chính sách tiền tệ theo lượng cung ứng tiền tệ sang khuôn
khổ chính sách tiền tệ đạt mục tiêu lạm phát sẽ giúp minh bạch hóa chính sách tiền tệ.
Chính sách tỷ giá cần phải linh hoạt có quản lý dựa trên một giỏ tiền tệ chứ không chỉ
gắn với duy nhất USD, đồng thời đa dạng hóa dự trữ ngoại hối để tránh rủi ro mất giá
đồng USD. Chính phủ cần nhanh chóng cải thiện hệ thống thông tin dự báo kinh tế vĩ mô
và công bố công khai, minh bạch. Cần có sự phối hợp nghiên cứu với các nhà khoa học
để tìm giải pháp và có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan trong điều hành chính sách.
Xác định mục tiêu cụ thể có thứ tự ưu tiên, tránh tham vọng đạt được tất cả các mục tiêu
rồi cuối cùng không hoàn thành mục tiêu nào. Xây dựng cơ chế giám sát, điều hành chính
sách tiền tệ và thị trường tài chính.
Kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô phải được xác định là mục tiêu ưu tiên hàng
đầu trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, việc kềm chế lạm phát cần được thực hiện có lộ
trình, minh bạch, để ngân hàng và các tổ chức tín dụng có cơ hội chuẩn bị, tránh gây sốc
cho hệ thống tài chính ngân hàng như trong thời gian vừa qua có thể đẩy nguy cơ khủng
hoảng toàn hệ thống lên cao./.
II. GIẢI PHÁP CHỐNG LẠM PHÁT CỦA CHÍNH PHỦ
Đất nước ta bước vào thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2008
trưởng GDP trong quý I đạt 7,4%. Đây là những cố gắng lớn của cả nước.
Tuy nhiên, do những tác động của kinh tế thế giới và những bất cập, yếu kém trong quản
lý, điều hành kết hợp với các nguyên nhân nội sinh từ nền kinh tế đã làm cho tình hình
kinh tế quý I năm 2008 có những diễn biến bất lợi như: Lạm phát cao, giá tiêu dùng tháng
3 đã tăng 9,19% so với tháng 12 năm 2007; nhập khẩu tăng mạnh, chênh lệch xuất - nhập
khẩu lên tới hơn 7 tỷ USD và bằng 56,5% kim ngạch xuất khẩu.
Tình hình đó đã ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển sản xuất và đời sống của các tầng lớp
nhân dân, nhất là những người làm công ăn lương và người nghèo, đe doạ đến ổn định vĩ
mô, tác động không thuận đến môi trường đầu tư, kinh doanh.
Trong phiên họp thường kỳ cuối tháng 3 năm 2008, qua thảo luận nghiêm túc và cân
nhắc thận trọng trên các mặt, Chính phủ đã thống nhất xác định nhiệm vụ trọng tâm trong
tình hình hiện nay là: phấn đấu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an
sinh xã hội và tăng trưởng bền vững. Trong đó, kiềm chế lạm phát là mục tiêu ưu tiên
hàng đầu. Bởi lẽ, nếu không kiềm chế được lạm phát, chẳng những sẽ ảnh hưởng đến
phát triển sản xuất và đời sống của nhân dân, đến ổn định kinh tế vĩ mô mà còn ảnh
hưởng đến tăng trưởng kinh tế trong trung và dài hạn, việc làm cũng giảm sút, môi
trường đầu tư kinh doanh cũng sẽ trở nên xấu hơn.
Nói kiềm chế lạm phát là mục tiêu ưu tiên hàng đầu, có nghĩa là không chạy theo chỉ tiêu
tăng trưởng đã đặt ra từ cuối năm 2007 mà phải tập trung sức để kiềm chế bằng được lạm
phát, phấn đấu bảo đảm tốc độ tăng giá giảm dần. Theo tinh thần đó, Chính phủ dự kiến
sẽ trình Quốc hội xem xét giảm chỉ tiêu tăng trưởng và điều chỉnh lại chỉ tiêu lạm phát
cho phù họp với tình hình thực tế. Sự điều chỉnh này là cần thiết nhằm hướng các giải
pháp vào mục tiêu ưu tiên hàng đầu, bảo đảm tiền đề cho tăng trưởng cao và bền vững
những năm tiếp theo. Chính phủ đã và đang tập trung chỉ đạo điều hành để thực hiện các
nhiệm vụ trọng tâm và mục tiêu ưu tiên hàng đầu này.
Bảy giải pháp chủ yếu
Trước tình hình này, Chính phủ đã thống nhất xác định nhiệm vụ trọng tâm hiện nay của
đất nước ta là: kiềm chế lạm phát, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã
hội và tăng trưởng bền vững, trong đó kiềm chế lạm phát là mục tiêu ưu tiên hàng đầu.
Để đạt được những nhiệm vụ và mục tiêu nêu trên, một mặt phải tiếp tục đẩy mạnh thực
các công trình đầu tư kém hiệu quả, tập trung vốn cho những công trình sắp hoàn thành,
những công trình đầu tư cho sản xuất hàng hóa thuộc mọi thành phần kinh tế để đẩy
nhanh tiến độ, sớm đưa vào sản xuất.
Các Bộ liên quan, nhất là Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính khẩn
trương hoàn chỉnh các văn bản về đầu tư xây dựng, kịp thời ban hành hướng dẫn xử lý
các vướng mắc phát sinh để đẩy nhanh tiến độ giải ngân các công trình sớm đưa vào khai
thác phát huy hiệu quả.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì việc nghiên cứu để chuyển một số công trình đầu tư từ
nguồn vốn ngân sách sang hình thức đầu tư BOT từ nguồn vốn trong và ngoài nước hoặc
bán, chuyển nhượng công trình có khả năng thu hồi vốn cho doanh nghiệp, tư nhân khai
thác hoặc đầu tư tiếp để nâng cao hiệu quả đầu tư.
Bộ Tài chính chủ trì rà soát, đề xuất các biện pháp chấn chỉnh hoạt động đầu tư của các
doanh nghiệp nhà nước, các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty lớn. Sơ kết mô hình tập
đoàn kinh tế theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 3 khóa IX. Bộ Kế hoạch và Đầu tư
phối hợp với Bộ Tài chính chuẩn bị để thực hiện trong quý IV năm 2008.
Thực hiện chính sách tiết kiệm đồng bộ, chặt chẽ, nghiêm ngặt trong tất cả các cấp, các
ngành, trong toàn bộ hệ thống chính trị. Đưa nội dung thực hành tiết kiệm trong chi tiêu
ngân sách, trong sản xuất và đời sống vào chương trình cuộc vận động: "Học tập và làm
theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" trong năm 2008 và những năm tiếp theo. Năm
2008, ngoài việc tiết kiệm bình quân 10% chi phí hành chính (trừ tiền lương, phụ cấp
lương, các khoản chi cho con người theo chế độ quy định) của các cơ quan sử dụng ngân
sách nhà nước, thực hiện cắt giảm những khoản chi mua sắm chưa thật cần thiết, giảm tối
đa các hội nghị toàn quốc, giảm chi phí đi lại (nhất là đi lại bằng máy bay); cắt giảm các
khoản chi tiếp khách, các đoàn công tác nước ngoài bằng vốn ngân sách hoặc có nguồn
gốc ngân sách mà không thật thiết thực; tiết kiệm năng lượng, phương tiện triệt để hơn
nữa. Giảm các chi phí cho hoạt động lễ hội, lễ kỷ niệm, đón nhận huân chương, danh hiệu
thi đua, gây tốn kém, lãng phí. Bộ Tài chính chủ trì giao chỉ tiêu và hướng dẫn nội dung
và tổ chức triển khai để các đơn vị thực hiện.
Phấn đấu năm 2008 thu ngân sách thực hiện vượt dự toán đã được giao, tăng dự phòng để
chi cho khắc phục thiên tai, an sinh xã hội, giảm thêm tỷ lệ thâm hụt ngân sách so với
trạng thiếu điện và bảo đảm điện cho sản xuất.
4 ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU, KIỂM SOÁT CHẶT CHẼ NHẬP KHẨU, GIẢM
NHẬP SIÊU
Bộ Công Thương chủ trì:
a) Đề xuất các giải pháp cải cách thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động xuất khẩu
để giảm chi phí cho doanh nghiệp, góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng xuất
khẩu Việt Nam đi đôi với việc áp dụng các hàng rào kỹ thuật và các biện pháp khác phù
hợp với các cam kết quốc tế của nước ta để giảm nhập siêu, kể cả việc tăng thuế nhập
khẩu những mặt hàng không thiết yếu.
b) Hỗ trợ công tác xúc tiến thương mại đối với hàng xuất khẩu; đẩy mạnh hoạt động xúc
tiến tại các thị trường truyền thống và mở rộng thị trường mới để tăng xuất khẩu;
c) Tăng cường các giải pháp khuyến khích sản xuất trong nước để thay thế hàng nhập
khẩu, thúc đẩy mạnh các hoạt động dịch vụ và du lịch;
d) Phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để đề xuất cơ chế, chính sách
bảo đảm nguồn cung lương thực, thực phẩm trên thị trường nội địa, bảo đảm an ninh
lương thực và kiềm chế sự tăng giá quá mức của nhóm hàng này. Điều hành và kiểm soát
để xuất khẩu gạo năm 2008 ở mức 3,5 đến 4 triệu tấn.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì điều hành chính sách tiền tệ, tỷ giá phù hợp với
chủ trương đẩy mạnh xuất khẩu. Có cơ chế và chỉ đạo các ngân hàng thương mại mua hết
ngoại tệ cho các doanh nghiệp xuất khẩu, xử lý kịp thời các ách tắc về tín dụng, đáp ứng
nhu cầu vay vốn hợp lý cho xuất khẩu.
Bộ Tài chính chủ động, linh hoạt trong việc sử dụng công cụ thuế để tăng thuế xuất khẩu
ở mức hợp lý đối với than, dầu thô. Điều chỉnh tăng thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc
biệt ở mức hợp lý đối với một số mặt hàng tiêu dùng không thiết yếu như: ô tô nguyên
chiếc, linh kiện lắp ráp xe ô tô dưới 12 chỗ ngồi, một số mặt hàng điện tử, điện lạnh, xe
và linh kiện lắp ráp xe hai bánh gắn máy, rượu, bia để thực hiện mục tiêu giảm nhập siêu
nhưng vẫn bảo đảm phù hợp với cam kết hội nhập; kiến nghị điều chỉnh cơ chế, chính
sách về thuế, áp dụng các hàng rào kỹ thuật và các biện pháp khác cần thiết, phù hợp với
các cam kết quốc tế để hạn chế các mặt hàng thuộc diện không khuyến khích nhập khẩu.
5. TRIỆT ĐỂ THỰC HÀNH TIẾT KIỆM TRONG SẢN XUẤT VÀ TIÊU DÙNG
chịu trách nhiệm trước Chính phủ về hoạt động của hệ thống bán lẻ và đại lý bán lẻ của
doanh nghiệp.
Chính phủ yêu cầu các hiệp hội ngành hàng tham gia tích cực, ủng hộ các chủ trương và
giải pháp bình ổn thị trường, giá cả.
7. TĂNG CƯỜNG CÁC BIỆN PHÁP HỖ TRỢ ỔN ĐỊNH ĐỜI SỐNG VÀ SẢN XUẤT
CỦA NHÂN DÂN, MỞ RỘNG VIỆC THỰC HIỆN CÁC CHÍNH SÁCH VỀ AN SINH
XÃ HỘI
Căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao, các Bộ, địa phương và cơ quan liên quan tăng
cường các biện pháp hỗ trợ an sinh xã hội, ổn định đời sống nhân dân thông qua việc đẩy
mạnh công tác xóa đói, giảm nghèo và giải quyết việc làm, hỗ trợ bảo đảm đời sống nhân
dân, nhất là vùng nghèo, hộ nghèo, vùng bị thiên tai, người lao động có thu nhập thấp
Bộ tài chính chủ trì
a) Phối hợp với các cơ quan liên quan kiểm tra việc triển khai thực hiện các chính
sách về điều chỉnh mức lương tối thiểu mà Chính phủ đã ban hành có hiệu lực từ ngày 01
tháng 01 năm 2008; kiểm tra việc xuất gạo dự trữ quốc gia để cấp không thu tiền cho hộ
đồng bào bị thiên tai, thiếu đói;
b) Tổ chức thực hiện đầy đủ và có hiệu quả chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số,
hộ thuộc diện chính sách, hộ nghèo, hộ cận nghèo và ngư dân theo Quyết định số
289/QĐ-TTg ngày 18 tháng 3 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ như: hỗ trợ dầu hỏa ở
nơi không có điện hoặc thiếu điện; nâng học bổng cho học sinh dân tộc các trường nội
trú; hỗ trợ thêm cho học sinh mẫu giáo, học sinh bán trú con hộ nghèo; nâng bảo hiểm y
tế cho người nghèo và cho trẻ em dưới 6 tuổi; hỗ trợ lãi suất để đầu tư thay máy tiết kiệm
nhiên liệu, bảo hiểm phương tiện và con người. Tiếp tục nghiên cứu trình Thủ tướng
Chính phủ chính sách bảo đảm an sinh xã hội;
c) Chủ trì rà soát để cắt, giảm các loại phí thu từ nông dân;
d) Chủ trì cùng Bộ Công Thương giám sát việc triển khai thực hiện từ nay cho đến hết
tháng 6 năm 2008, chưa tăng giá điện, than, xăng, dầu; giữ ổn định giá xi măng, phân
bón, nước sạch, thuốc chữa bệnh, vé máy bay, tàu hỏa, vé xe buýt; giữ ổn định mức thu
học phí, viện phí. Đồng thời nắm chắc diễn biến của lạm phát, đề xuất với Chính phủ các
giải pháp thích hợp tiếp theo.