TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
NGUYỄN ANH TUẤN
NGUYỄN QUỐC TUẤN
KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂ
RẦY ĐẦU VÀNG
(Eoeurysa flavocapitata Muir); HIỆU LỰC CÁC CHẾ
PHẨM NẤM KÝ SINH TRÊN RẦY ĐẦU VÀNG HẠI
MÍA VÀ BỌ ĐUÔI KÌM; KHẢ NĂNG ĂN RẦY ĐẦU
VÀNG CỦA BỌ ĐUÔI KÌM
Luận văn tốt nghiệp
Ngành: BẢO VỆ THỰC VẬT
Cần Thơ, 2010
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Luận văn tốt nghiệp
Ngành: BẢO VỆ THỰC VẬT
Tên đề tài:
KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM
FAO: Food and Agriculture Organization of the United Nations (Tổ chức Lương
thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc).
IUPAC: International Union of Pure and Applied Chemistry (Liên hiệp Hóa học
Thuần túy và Ứng dụng Quốc tế)
Ma: Metarhizium anisopliae
NSKP: ngày sau khi phun
NSKT: ngày sau khi thả.
NT: nghiệm thức.
Pae: Paecilomyces sp.
PTN: phòng thí nghiệm.
NL: nhà lưới
RĐV: rầy đầu vàng
SHƯD: sinh học ứng dụng.
WHO: The World Health Organization (Tổ chức Y tế Thế giới)
WG: Thuốc dạng hạt tan trong nước.
i
Nguyễn Anh Tuấn và Nguyễn Quốc Tuấn, 2010. “Khảo sát đặc điểm hình thái
rầy đầu vàng (Eoeurysa flavocapitata Muir); Hiệu lực các chế phẩm nấm ký
sinh trên rầy đầu vàng hại mía và bọ đuôi kìm; Khả năng ăn rầy đầu vàng của
bọ đuôi kìm”. Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư Bảo Vệ Thực Vật, Khoa Nông Nghiệp và
Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại học Cần Thơ.
TÓM LƯỢC
Đề tài nhằm khảo sát một số đặc điểm hình thái của RĐV, hiệu lực của một
số chế phẩm nấm kí sinh trong phòng trừ RĐV, khảo sát khả năng ăn rầy đầu vàng
và ảnh hưởng của các chế phẩm nấm kí sinh lên BĐK trong điều kiện PTN và NL.
Từ đó tìm ra cách phòng trừ rầy đầu vàng có hiệu quả theo hướng bền vững.
Kết quả đạt được như sau:
MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1 ........................................................................................................... 3
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU ....................................................................................... 3
1.1 Cây mía ....................................................................................................... 3
1.2 Các loài sâu hại chính trên mía .................................................................... 4
1.2.1 Sâu đục thân .......................................................................................... 4
1.2.2 Bọ hung hại mía..................................................................................... 5
1.2.3 Rệp bông trắng hại mía .......................................................................... 5
1.2.4 Rầy đầu vàng ......................................................................................... 5
1.2.4.1 Phân bố và ký chủ ............................................................................ 6
1.2.4.2 Đặc điểm hình thái và sinh học......................................................... 6
1.2.4.3 Tập quán sinh sống và cách gây hại.................................................. 6
1.2.4.4 Biện pháp phòng trị .......................................................................... 7
1.3 Bọ đuôi kìm ................................................................................................ 8
1.3.1 Thành phần loài và sự phân bố của bọ đuôi kìm ..................................... .8
1.3.2 Một số đặc điểm hình thái của bọ đuôi kìm ............................................. 9
iii
Bọ đuôi kìm vàng: Chelisoches variegates ................................................ 9
1.3.3 Đặc điểm sinh học của bọ đuôi kìm ..................................................... 10
1.3.4 Thiên địch tự nhiên của bọ đuôi kìm. .................................................. 11
1.3.5 Khả năng sử dụng bọ đuôi kìm trong phòng trừ sinh học. ................... 12
1.4 Đặc tính của một số loài nấm ký sinh côn trùng và thuốc hóa học sử dụng
trong thí nghiệm ................................................................................................... 12
1.4.1 Nấm xanh Metarhizium anisopliae Sorokin ......................................... 12
1.4.2 Nấm trắng Beauveria bassiana Vuillemin............................................ 15
1.4.3 Nấm tím Paecilomyces sp. ................................................................... 16
1.4.4 Thuốc hóa học Chess 50WG ................................................................ 18
vàng trong điều kiện ngoài đồng ........................................................................... 29
3.3 Khảo sát khả năng ăn rầy đầu vàng (RĐV) của bọ đuôi kìm (BĐK) trong
điều kiện phòng thí nghiệm (PTN)........................................................................ 30
3.3.1 Khả năng ăn RĐV của một cặp BĐK (đực-cái) trong PTN .................. 30
3.3.2 Khả năng ăn RĐV của một cặp BĐK (cái) trong PTN ......................... 31
3.3.3 Khả năng ăn RĐV của một cặp BĐK (đực) trong PTN ........................ 32
3.4 Khảo sát ảnh hưởng của một số loài nấm ký sinh trên BĐK trong điều kiện
phòng thí nghiệm (PTN) và nhà lưới .................................................................... 33
3.4.1 Ảnh hưởng của ba loại nấm Ma-ĐHCT, Bb-ĐHCT và Pae-ĐHCT lên bọ
đuôi kìm trong điều kiện PTN .............................................................................. 33
v
3.4.2 Ảnh hưởng của ba loại nấm Ma-ĐHCT, Bb-ĐHCT và Pae-ĐHCT lên bọ
đuôi kìm trong điều kiện nhà lưới ......................................................................... 35
CHƯƠNG 4 ......................................................................................................... 41
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ .................................................................................. 41
4.1 Kết luận .................................................................................................. 41
4.2 Đề nghị ................................................................................................... 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 42
vi
DANH SÁCH BẢNG
Bảng
Tựa bảng
phòng thí nghiệm, bộ môn BVTV, 12/2009
3.5
Khả năng ăn RĐVcủa một cặp BĐK (đực) trong điều kiện
33
phòng thí nghiệm, bộ môn BVTV, tháng 12/2009
3.6
Độ hữu hiệu của các chế phẩm nấm ký sinh đối với BĐK trong
34
điều kiện phòng thí nghiệm, Bộ môn BVTV, tháng 03/2010
3.7
Độ hữu hiệu của các chế phẩm nấm ký sinh trên BĐK trong điều
kiện nhà lưới, Bộ môn BVTV, tháng 04/2010
vii
35
DANH SÁCH HÌNH
Tựa hình
Hình
38
3.6
Thí nghiệm ảnh hưởng của các chế phẩm nấm xanh Ma-ĐHCT,
trắng Bb-ĐHCT, tím Pae-ĐHCT và thuốc Chess 50WG lên
38
BĐK
3.7
BĐK bị nhiễm nấm trắng Bb-ĐHCT trong phòng thí nghiệm
39
3.8
Thí nghiệm khảo sát đặc điểm hình thái RĐV trong PTN
39
3.9
BĐK được nhân nuôi trong phòng thí nghiệm và nhà lưới
39
3.10
Trăng là tỉnh có truyền thống trồng mía lâu đời, với tổng diện tích canh tác khoảng
15.800 ha. Đặc biệt, cây mía được trồng nhiều nhất ở huyện Cù Lao Dung với 7.500
ha, đây được xem là những vùng mía trọng điểm của miền Tây (Niên giám thống
kê, 2008).
Tuy nhiên, cây mía thường bị dịch hại tấn công làm ảnh hưởng đến năng suất
và chất lượng đường của mía… Đặc biệt gần đây nhất là rầy đầu vàng một loài côn
trùng mới gây hại trên mía. Rầy đầu vàng (Eoeurysa flavocapitata Muir) còn được
gọi là rầy đen gây hại trên mía, cũng thấy xuất hiện trên mía ở các nước lân cận như
Thái Lan, Trung Quốc, Đài Loan,… Đây là đối tượng gây hại mạnh, chúng chích
hút nhựa lá mía tạo những chấm màu vàng, có chất dịch nhầy trong suốt làm mía
không phát triển được và chết dần ở mía dưới 3 tháng tuổi, đồng thời làm giảm
năng suất và chất lượng ở mía trên 7 tháng tuổi. Rầy đầu vàng chỉ mới xuất hiện vài
năm gần đây, ở nước ta vẫn chưa có nghiên cứu sâu về loại côn trùng này. Hiện
nay, có khoảng 7.000 ha mía ở các tỉnh bị nhiễm rầy đầu vàng gây thiệt hại nặng.
Để đối phó với loài côn trùng gây hại này, nông dân chủ yếu sử dụng thuốc
trừ sâu hóa học với mức độ và liều lượng ngày càng cao, phun xịt trực tiếp lên cây
mía để bảo vệ thân cây đến cận ngày thu hoạch. Điều này không những làm cho chi
phí sản xuất tăng mà còn ảnh hưởng tới nhiều loài thiên địch trên rẫy mía, môi
trường và sức khỏe người phun thuốc. Mặt khác, dưới áp lực chọn lọc mạnh của
thuốc trừ sâu đã gây ra sự bộc phát tính kháng thuốc của các loại dịch hại (Trần Văn
Hai và ctv., 1997). Vì vậy, việc khảo sát đặc điểm hình thái và đánh giá hiệu quả
của một số chế phẩm nấm ký sinh lên rầy đầu vàng hại mía để phòng trừ bằng biện
pháp sinh học là cần thiết, nhằm hạn chế tối đa mức độ thiệt hại do rầy đầu vàng
trên mía gây ra, đảm bảo an toàn sức khoẻ cho người sản xuất và người tiêu dùng.
Việc ứng dụng các chế phẩm sinh học trong phòng trừ rầy đầu vàng gây hại trên
1
mía và việc khảo sát ảnh hưởng của các loại chế phẩm này đối với thiên địch thì
mầm nơi tiếp giáp giữa mầm và hạt. Mía trồng bằng hom khi mọc mầm có hai loại
rễ: rễ hom và rễ chồi. Theo Lê Song Dự và Nguyễn Thị Quý Mùi (1997), thân mía
làm nhiệm vụ mang lá, vận chuyển nước và thức ăn từ rễ tới lá. Thân là đối tượng
thu hoạch và nơi dự trữ đường (trích dẫn Nguyễn Hoàng Ân và Đỗ Quang Phúc,
2009). Thân mía gồm nhiều đốt và lóng hợp thành, cao trung bình 2–3 m, một số
giống có thể cao 4–5 m. Lá mía mọc thành 2 hàng so le, đối nhau hoặc theo đường
vòng trên thân mía tùy giống, mỗi đốt có một lá. Lá mía dính vào thân ở phía dưới
đai rễ, khi lá rụng tạo thành sẹo lá hay vết lá. (Trần Văn Sỏi, 2001). Ngoài ra, cây
mía còn có các bộ phận khác như: lóng, hoa mía, hạt mía…
Do quá trình sinh truởng của cây mía từ 10 – 14 tháng, nên trồng mía còn tùy
vào khí hậu của mỗi địa phương. Theo Trần Thị Kim Ba và ctv. (2008) thời vụ
trồng mía chịu ảnh hưởng của khí hậu. Để đảm bảo năng suất cao, nguyên tắc thời
vụ là làm thế nào cho thời kỳ lóng dài gặp lúc mưa nhiều, nhiệt độ cao. Thời kỳ
chín thì mưa ít hay không mưa, nhiệt độ thấp.
3
Theo Trần Văn Sỏi (2001) mía là cây cao sản, mỗi hecta một năm có thể cho
từ 150–200 tấn năng suất sinh khối. Vì vậy nhu cầu dinh dưỡng của cây mía rất lớn.
Ngoài các chất đa lượng NPK, cây mía rất cần canxi (Ca) và các chất vi lượng khác.
Theo Trần Thị Kim Ba và ctv. (2008) thì trung bình khi đạt 100 tấn/ha, cây
mía đã lấy đi khoảng 120 kg N, 70 kg P2O5, 200 kg K2O. Theo Viện PK quốc tế với
năng suất 224 tấn/ha cây mía đã hút 403 P2O5, 683 K2O, 112 Mg, 96 S (kg/ha).
(trích dẫn Đỗ Quang Phúc và Nguyễn Hoàng Ân, 2009).
Cách bón: bón đầy đủ, bón thúc nhiều lần phù hợp với nhu cầu sinh trưởng
của cây mía. Chủ yếu là bón thúc, nâng cao năng suất mía. Kết hợp N, P, K thích
hợp, lượng phân bón tùy theo điều kiện đất đai, khí hậu, giống.
Bón 500–1000 kg vôi trên mặt liếp trước khi đào rãnh 5–10 ngày.
Bón lót: toàn bộ phân hữu cơ và Super lân 100% trước khi trồng, xử lý đất
Sâu đục thân mình hồng: Sesamia inferens Walker
1.2.2 Bọ hung hại mía: Alissonotum impressicolle Arrow
Theo Trần Văn Sỏi (2001) thì bọ hung và ấu trùng của chúng là một trong
những loài sâu gây hại đáng kể đến nghề trồng mía. Bọ hung và ấu trùng của chúng
đục rỗng các gốc mía làm mía mất khả năng tái sinh, chúng ăn mất phần gốc của
các mầm còn bé, từ 3–5 lá thật làm cho mầm bị chết khô.
1.2.3 Rệp bông trắng hại mía: Ceratovacuna lanigera Zehntner
Theo Trương Quốc Tùng và Lê Văn Thuyết (2005) thì rệp non và trưởng
thành sống thành bầy ở mặt dưới lá chích hút nhựa làm lá đỏ, khô chết, làm giảm
năng suất và giảm độ đường. Có hai loại rệp: có cánh và không cánh.
Rệp có cánh màu đen, bụng và chân vàng, toàn thân được phủ lớp bông
trắng, xuất hiện quanh năm, thời tiết thích hợp 20–290C và ẩm độ > 75%.
Ngoài ra, còn một số sâu hại mía khác như: rệp sáp, sâu đục ngọn, bọ trĩ,
chuột, mối đất, dế dũi, cào cào, châu chấu…
1.2.4 Rầy đầu vàng
Tên khoa học : Eoeurysa flavocapitata Muir 1913
Tên tiếng Anh: Black Leafhopper, Yellow Headed Planthopper
Họ: Rầy thân (Delphacidae)
Bộ: Cánh đều (HOMOPTERA)
1.2.4.1 Phân bố và ký chủ
5
Rầy đầu vàng (RĐV) còn được gọi là rầy đen gây hại chủ yếu trên mía. RĐV
cũng xuất hiện trên mía ở các nước lịch sử trồng mía lâu đời như Ấn Độ, Thái Lan,
Trung Quốc, Đài Loan…
(http://www.congtyhai.com/htmls/technology_science_vn.php?id=16&curPa=4 )
1.2.4.2 Đặc điểm hình thái
trên mía Hè Thu từ đẻ nhánh đến 4–6 lóng.
6
Rầy trưởng thành hoạt động nhanh nhẹn, có tính hướng sáng, ban đêm vào
đèn nhiều. Rầy cái đẻ trứng vào hai mép gân lá, rầy non mới nở bò men theo mép
gân lá đến đọt. Rầy non và rầy trưởng thành tập trung ở lá đọt hay lá mới xòe ra
chích hút nhựa lá. Lá mía bị hại có những chấm vàng về sau liên kết nhau tạo thành
vết vàng lớn, trên đó có lớp bọt trắng hoặc lớp dịch trong suốt. Lớp dịch này thu
hút, kiến, ong,…đến, sau thời gian biến thành những chấm tròn màu đen và có mùi
hôi. Cây mía bị nặng lá đọt bị thối, lá xanh giảm và biến dạng, ngắn, ảnh hưởng đến
sinh trưởng và tích lũy đường của cây mía.
Mật độ rầy thường cao vào các tháng 4–5, 7–8 và 11-12. Hằng năm ở các
tỉnh phía Bắc, rầy phát sinh 6–7 lứa, thời gian một lứa khoảng 40–50 ngày, trong đó
thời gian trứng 8-12 ngày, rầy non 25–30 ngày, rầy trưởng thành đẻ trứng 5–19
ngày và có thể sống đến 1 tháng. Ở miền Đông, rầy xuất hiện từ tháng 7–10, sau đó
giảm dần.
1.2.4.3 Biện pháp phòng trị
* Biện pháp canh tác
Trồng mía tập trung ít bị hại hơn trồng lẻ tẻ. Nên trồng các giống kháng như:
F 177, F 178, ROC 5, ROC 16, R 570.
Theo Trần Văn Hai, về lâu dài cần chọn những loại giống mía có thân cứng,
lá cứng thì rầy đầu vàng ít tấn công. Cần áp dụng phân bón cân đối giữa phân đạm,
lân và kali, không nên bón phân đạm nhiều quá. Cây mía thừa đạm sẽ làm lá mía rất
non, mềm thì rầy đầu vàng dễ chích hút gây bệnh. Nếu kiểm soát chúng không đúng
kỹ thuật, sẽ làm bộc phát mật số rầy.
(http://muivi.com/muivi/index.php?option=com_content&task=view&id=4589&Ite
mid=431)
* Biện pháp sinh học
(http://xttm.agroviet.gov.vn/tapchi/baonnvn/2006/So183-06.asp)
1.3 BỌ ĐUÔI KÌM
1.3.1 Thành phần loài và sự phân bố của bọ đuôi kìm.
Bọ đuôi kìm phân bố khắp nơi trên thế giới ngoại trừ vùng cực. Tuy nhiên,
chúng phân bố đa dạng chủ yếu ở các vùng nhiệt đới (Habian Haas, 1996, trích dẫn
Hà Thanh Liêm, 2006).
Hiện nay, trên thế giới có khoảng 1800 loài được tìm thấy (D. C. F. Rentz và
D. K McE. Kevan, 1991; Fiban Haas, 1996).
8
1.3.2 Một số đặc điểm hình thái của bọ đuôi kìm
Trứng mới đẻ có màu trắng sữa, đường kính trứng khoảng 0,75 mm và có
hình hơi tròn. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển của phôi thì trứng hơi vàng và
bóng hơn, cho đến khi gần nở thì trứng có màu vàng sậm và hơi nâu. Đồng thời thì
kích thước trứng cũng tăng lên và dài khoảng 1,25 mm và có hình oval (John L.
Capinera, 1999).
Theo John L. Capinera (1999) thì ấu trùng có hình dạng rất giống thành trùng.
Tuy nhiên, chúng cũng có một số điểm khác với thành trùng như, ấu trùng có kích
thước ngắn và nhỏ hơn thành trùng. Bên cạnh đó thì màu sắc của ấu trùng nhạt và
đuôi kìm ít cong hơn thành trùng. Ngoài ra ấu trùng chưa có xuất hiện cánh chúng
chỉ mới xuất hiện mầm cánh trên lưng. Cuối cùng là số đốt râu giữa các tuổi ấu
trùng và thành trùng luôn khác nhau nhưng chúng có số đốt bụng bằng nhau. Đây là
những điểm giúp ta phân biệt giữa thành trùng và ấu trùng bọ đuôi kìm. (trích dẫn
Đặng Tiến Dũng và Phạm Kim Ngọc, 2005).
Bọ đuôi kìm có cơ thể thon dài, dẹp. Tùy theo loài mà chúng có chiều dài
khác nhau: Forficulidae auricularia Linnaens dài 13-19mm, loài Euborellia
annalipes Lucas dài 13-16 mm. Màu sắc biến đổi từ màu đỏ nâu cho tới màu đen.
Thông thường thì con cái có màu nhạt hơn con đực và có kích thước lớn hơn con
Vòng đời của bọ đuôi kìm bao gồm các giai đoạn: trứng, ấu trùng và thành
trùng. Thời gian trứng kéo dài khoảng một tuần nhưng tùy theo nhiệt độ mà thời
gian trứng có thể kéo dài 10 ngày cho đến 3 tháng. Ấu trùng trải qua 3-4 lần lột xác
trước khi thành trùng (William F. Lyon, 1991). Thành trùng bọ đuôi kìm có đời
sống dài khoảng 1 năm. Tuy nhiên con đực có thời gian sống ngắn hơn so với con
cái.
Trứng được sự chăm sóc của con cái, con cái dời trứng và thường xuyên
liếm trứng để loại bỏ nấm và các vật chất trên vỏ trứng. Tuy nhiên, theo Lamb
(1976) thì việc liếm trứng sẽ cung cấp một chất lỏng trên bề mặt trứng để cho trứng
có thể nở tốt. Trứng cần có sự chăm sóc của con mẹ, nếu chúng không có được sự
chăm sóc thì tỷ lệ sống sót rất thấp so với trứng có sự chăm sóc của con mẹ (Louise
Kulzer, 1996, trích dẫn Đặng Tiến Dũng và Phạm Kim Ngọc, 2005).
Theo Steve Jacobs (2003), bọ đuôi kìm là loài biến thái không hoàn toàn vì
thế ấu trùng có hình dạng giống thành trùng. Tùy theo loài mà chúng sẽ trãi qua 4-5
lần lột xác trước khi thành trùng. Tuy nhiên khi gặp điều kiện thuận lợi thì có thể tới
6 tuổi.
Theo D.C.F.Rentz và D. K McE. Kevan (1991) thì tùy theo loài mà thời gian
ấu trùng cũng khác nhau: Labidura riparia: 100 ngày, Marava arachidis: 40-44
ngày, Anisolabis littorea: 165 ngày… Ấu trùng tuổi 1 được sự chăm sóc của con
cái, con cái mang thức ăn về tổ và ợ trở ra cho ấu trùng ăn. Nhưng bắt đầu sang tuổi
2 thì con cái mất bản năng làm mẹ, nó không còn chăm sóc con và có thể tấn công
con của chúng như con mồi (Lamb, 1976).
10
Khi bắt đầu từ tuổi 2 thì ấu trùng rời tổ và tự đi kiếm thức ăn và chúng cần
nhiều ẩm độ, ấu trùng có tính ăn tạp giống như thành trùng. Bắt đầu từ tuổi 3 thì
chúng có thể tấn công và ăn lẫn nhau (Donald Lewis, 1996).
Kìm là điểm đặc trưng của bộ bọ đuôi kìm. Chúng được dùng để giữ con
11
còn có chim, Mermis (Nematoda), Hymemolepis (Cestoda) nhưng tỷ lệ ký sinh
không cao, thấp hơn 10%.
1.3.5 Khả năng sử dụng bọ đuôi kìm trong phòng trừ sinh học.
Theo Risbec (1993) thì bọ đuôi kìm có khả năng ăn bọ cánh cứng hại dừa tại
Vannuatu. Tại Thái Lan, bọ đuôi kìm được nông dân nuôi nhân tại nhà để phục vụ
cho việc phòng trừ côn trùng gây hại trên đồng. Đồng thời trên cánh đồng họ tạo
những đống rơm, rạ và tưới nước để cung cấp ẩm độ, tạo nơi ẩn nấp cho chúng vào
ban ngày, còn ban đêm thì chúng đi bắt mồi.
Ngoài ra bọ đuôi kìm còn được coi là thiên địch quan trọng trên lúa, chúng
chui vào rãnh sâu đục thân để tìm sâu non và đôi khi chúng còn bò lên lá để ăn sâu
cuốn lá.
Tại Bến Cát (Bình Dương), bọ đuôi kìm được thả để phòng trừ sâu đục thân
mía mình hồng Sesamia sp. trong điều kiện nhà lưới và kết quả đạt được là tỷ lệ
lóng bị hại giảm trung bình từ 1,18-1,45%, đồng thời trọng lượng trung bình của
cây tăng lên từ 0,074 – 0,122 kg (Đỗ Ngọc Điệp, 2003).
Theo Nguyễn Công Thuật (1996) thì ấu trùng và thành trùng của bọ đuôi kìm
có thể tìm ăn trứng và sâu đục thân mía trên ruộng mía và sâu đục thân bắp trên
ruộng bắp. Ngoài ra, chúng còn ăn các côn trùng gây hại trên bắp cải, đậu tương và
đậu rau.
1.4 ĐẶC TÍNH CỦA MỘT SỐ LOẠI NẤM KÝ SINH CÔN TRÙNG VÀ
THUỐC HOÁ HỌC ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG THÍ NGHIỆM
1.4.1 Nấm Mertarhizium anisopliae Sorokin
1.4.1.1 Nguồn gốc, phân loại và phân bố
Năm 1878, khi nghiên cứu về một số loài sâu non bộ cánh cứng hại lúa mì
Anisoplia austriaca, nhà khoa học người Nga I. I Metchnikov đã phát hiện thấy một
loài nấm bào tử lục có thể gây chết hàng loạt loại sâu này. Ông đã xác định loài nấm
này có tên khoa học là Entomophthora anisopliae. Về sau, Sorokin kiểm tra lại và
anisopliae var. anisopliae có kích thước 3,5- 5,0 x 2,5 - 4,5 µm, dạng bào tử lớn là
M. anisopliae var. major có kích thước bào tử 10-14 µm. Để phân biệt hai loài trên,
tác giả Tsai và ctv. đã nghiên cứu đặc tính huyết thanh khác nhau của hai loài này
và xác định rằng loài M. anisopliae là chủng gây bệnh mạnh nhất trên côn trùng
thuộc bộ cánh cứng Coleoptera. Nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu và tìm thấy có
khoảng 204 loài côn trùng thuộc họ Elaridae và Curculionidae dễ bị nhiễm bệnh bởi
nấm M. anisopliae.
1.4.1.3 Khả năng sinh độc tố
13
Nấm M. anisopliae có một số ngoại độc tố như Deustruxin A, B, C, D. Các
ngoại độc tố này là những sản phẩm thứ cấp vòng peptid, L – prolyne, L – leucine
anhydride, L – prolyne, L – valine anhydride và Desmethyl Destruxin B. Năm
1961, 1962, Y. Kodaira đã tách được độc tố Deustruxin A và Deustruxin B từ dịch
nuôi cấy nấm lục cương M. anisopliae.
Theo Trần Thị Thanh (2000) thì người ta đã tổng hợp nhân tạo được
Deustruxin B và có khoảng 70 loài côn trùng bị tiêu diệt bởi nấm M. anisopliae,
trong đó có 34 loài côn trùng cánh cứng và 5 loài côn trùng cánh vẩy.
1.4.1.4 Sự xâm nhiễm và cơ chế gây bệnh của nấm ký sinh côn trùng
Nấm xanh M. anisopliae gây nhiễm trùng cho côn trùng thông qua việc tiếp
xúc. Chỉ cần một bào tử của nấm xanh M. anisopliae gắn chặt lên bề mặt ngoài của
côn trùng (da), bào tử sẽ nhanh chóng nảy nầm và bắt đầu phát triển. Sau khi xâm
nhập qua lớp da côn trùng, chúng nhanh chóng phát triển vào bên trong cơ thể và là
nguyên nhân làm cho côn trùng chết. Theo tác giả, nấm M. anisopliae có thể gây
nhiễm cho ấu trùng và trưởng thành của nhiều loại côn trùng. Tuy nhiên, nấm M.
anisopliae chỉ có thể gây nhiễm trùng cho côn trùng trong bộ cánh cứng ở giai đoạn
ấu trùng vì ở giai đoạn trưởng thành, côn trùng có vỏ rất cứng.
1.4.1.5 Thành tựu và ứng dụng
hình trong chi nấm bạch cương Beauveria.
Hiện nay, nấm Bb có trên 120 loài thuộc 45 họ 7 bộ côn trùng, nếu kể cả sâu
hại công nghiệp, chúng có thể ký sinh gần 200 loài (Trần Thế Nhã và Trần Công
Lanh, 2002).
1.4.2.2 Đặc điểm hình thái
Nấm Bb có sợi từ màu trắng đến màu kem có pha một ít màu đỏ, da cam, đôi
khi pha một ít màu lục, có thể tiết vào môi trường sắc tố màu vàng, màu đỏ nhạt
hoặc màu xanh da trời. Sợi nấm phân nhánh, có vách ngăn ngang, có chiều dài
khoảng 3- 5 µm phát triển dày đặc trên môi trường, về sau xuất hiện chi chít các
cuống sinh bào tử. Đặc điểm của loại nấm này là sợi xốp, cuống bào tử trần đứng
riêng rẽ hay tụ lại thành từng đám, không phân nhánh hoặc phân nhánh, hình ống
hoặc hình bình với chiều dài không đều nhau. Trên cuống có những nhánh nhỏ
mang bào tử trần (Phạm Thị Thuỳ, 2004, trích dẫn Trần Quốc Thắng, 2008).
Nấm Bb sinh ra những bào tử trần đơn bào, không màu, trong suốt không
vách từ hình cầu (đường kính 1-4 µm) đến hình trứng (kích thước 1,5-5,5 µm).
Cuống sinh bào tử mọc hướng gốc và tụ lại thành từng đám dày đặc trên những sợi
nấm vươn ra khỏi lớp khuẩn ty. Cuống sinh bào tử có phần gốc hình cầu, kích thước
2-3 x 3-4 µm gắn trên các cành bào tử hình zic zắc dài tới 20 µm (Rombach và ctv.,
1994 trích dẫn Phạm Đức Lộc, 2007).
1.4.2.3 Khả năng sinh độc tố
15