Tìm hiểu về văn nghệ dân gian dân tộc mảng - Pdf 48

MỤC LỤC
NỘI DUNG...........................................................................................................2
1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, nguồn gốc của người
Mảng ở Lai Châu.................................................................................................2
1.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội...............................................2
1.1.1.Đặc điểm về điều kiện tự nhiên....................................................................2
1.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội...............................................................................3
1.2. Khái quát về tộc người và nguồn gốc lịch sử của người Mảng ở Lai
Châu......................................................................................................................3
1.2.1 Khái quát về tộc người và ngôn ngữ............................................................3
1.2.2. Về nguồn gốc lịch sử...................................................................................5
1.3. Đời sống văn hóa vật chất............................................................................6
1.3.1. Đặc điểm về sản xuất kinh tế:.....................................................................6
1.3.2. Đặc điểm về nhà ở, trang phục...................................................................6
1.3.3. Đặc điểm về ẩm thực...................................................................................7
1.3.4. Phương tiện vận chuyển:.............................................................................7
1.4. Văn hóa tinh thần.........................................................................................7
1.4.1. Đặc điểm về tín ngưỡng, tôn giáo và lễ hội................................................7
1.5. Văn hóa xã hội..............................................................................................9
2. Một số loại hình văn nghệ dân gian và ý nghĩa của nó trong đời sống văn
hóa của người Mảng..........................................................................................13
2.1. Văn học dân gian........................................................................................13
2.2.Nghệ thuật dân gian....................................................................................16
2.2.1. Nhạc cụ......................................................................................................16
2.2.2. Hát.............................................................................................................17
2.2.3. Múa............................................................................................................19
2.3. Giá trị của văn nghệ dân gian đối với người Mảng và đối với kho tàng
văn hóa dân gian Việt Nam...............................................................................20
2.3.1. Giá trị của văn nghệ dân gian đối với người Mảng..................................20
2.3.2. Đối với kho tàng văn hóa dân gian Việt Nam...........................................20


1


NỘI DUNG
1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, nguồn gốc của
người Mảng ở Lai Châu.
1.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội
1.1.1.Đặc điểm về điều kiện tự nhiên
Lai Châu là một tỉnh miền núi cao, địa hình hiểm trở có đường biên giới
quốc gia dài, tiếp giáp với hai nước Trung Quốc và Lào. Lai Châu có diện tích tự
nhiên gần 17.000 km2.......
Diện tích lớn thứ hai sau tỉnh Đắk Lắk. Độ cao trung bình so với mặt biển
khoảng 600m, trên 50% diện tích có độ cao hơn 1.000m, độ dốc trên 25 o chiếm
90% diện tích.
Phía Đông giáp hai tỉnh Lào Cai và Sơn La
Phía Bắc tiếp giáp Trung Quốc, có đường biên giới Việt- Trung dài 360km
Phía Tây- Tây Bắc tiếp giáp nước Lào, có đường biên giới Việt- Lào dài
314km
Với địa bàn phức tạp 3/4 diện tích tự nhiên là núi cao, đồi trọc và rừng
rậm, Lai Châu thuộc khí hậu gió mùa vùng núi, mùa đông lạnh, có sương muối,
mùa hè nóng bức, có gió bão, mưa nhiều. Do kiến tạo về địa hình địa chất của
Lai Châu núi cao, khe sâu, nhiều sông suối, địa hình bị chia cắt nhiều dẫn đến
động đất, lũ quét thường xuyên xảy ra. Nhiều sông suối, có khoảng 3061 con
sông suối lớn nhỏ, hướng chảy theo địa hình được kiến tạo và hợp thành các con
sông lớn như sông Nậm Rốm, sông Mã và đặc biệt là sông Đà.
Rừng Lai Châu cũng khá phong phú và đa dạng về chủng loại, sinh vật
dồi dào, nhiều gỗ quý hiếm như lim, sến, táu, chò, pơ mu, lát, dổi... rừng có
nhiều khả năng cung cấp lâm sản như tre, nứa, mây và một số lâm sản khác.
Trong rừng Lai Châu vẫn còn tồn giữ được một số động vật quý hiếm như: hổ,
gấu, trăn, nai, sơn dương, khỉ và các loại chim muông khác.

20 nóc nhà, ngày nay đã có những bản có từ 40 đến 50 nóc nhà. Tổ chức xã hội
gồm cố kết dòng họ gọi là Đẳm, người đứng đầu dòng họ là Muôn đẳm và cố
kết làng gọi là Muy, mang tính chất mỗi công xã láng giềng gồm vài chục gia
đình nhỏ phụ quyền, tính theo dòng họ cư trú quây quần bên nhau. Người Mảng
3


quan niệm có trời ( Mon tem, Mon ong ) là đấng sáng tạo ra tất cả, đã làm ra con
người rồi thả xuống mặt đất.
Mặc dù là một tộc người du canh du cư nhưng người Mảng vẫn luôn cư
trú trong phạm vi nhất định. Tuy họ sinh sống xen kẽ với các dân tộc khác
nhưng người Mảng vẫn giữ được phong tục tập quán, những nét truyền thống
của dân tộc mình, không bị phân hóa chí thành các nhóm tộc người địa phương
có phong cách ngôn ngữ khác nhau. Người Mảng vẫn giữ được nguyên vẹn
tiếng nói của dân tộc mình. Tiếng Mảng thuộc nhóm ngôn ngữ Môn Khmer,
mang đầy đủ đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ Môn Khmer và ngữ hệ Nam Á
song vẫn mang tính biệt lập so với một số họ trong cùng ngôn ngữ.Tiếng Mảng
được dùng chính thức trong nội tộc.
Khi giao tiếp với các dân tộc khác người Mảng thường dùng ngôn ngữ
của các dân tộc như Mông, Hà Nhì, Thái, Kinh... Dân tộc Mảng tuy có ngôn ngữ
riêng nhưng không có chữ viết riêng của mình.
Người Mảng có câu chuyện giải thích về việc tại sao dân tộc của họ lại
không có chữ viết riêng: Trước đây, người Mảng cũng như các dân tộc khác,
mỗi dân tộc đều có tiếng nói riêng nhưng chưa có chữ viết riêng. Khi con người
thấy cần phải có một cái gì đấy để giữ lại những sự việc trong thời gian lâu dài,
để đời này có thể truyền cho đời sau và sau sau nữa, lúc đó các dân tộc mới bàn
với nhau, cùng kéo lên trời xin với Mon Ten giúp đỡ. Thấy đoàn người kéo nhau
lên, Mon Ten ngạc nhiên hỏi:
-


- Các anh ơi làm thế nào để ống chữ không bị ướt?
Nước chảy ầm ầm, không bên nào nghe được bên nào nói cái gì. Người
Mảng mới giơ ống chữ ra hiệu. Ở bờ bên kia mọi người tỏ ra hiểu ý, họ vỗ vỗ
vào bụng ra hiệu bảo dắt ống chữ vào bụng thì không bị ướt. Người Mảng lại
nghĩ mọi người bảo nuốt chữ vào bụng sẽ không bị ướt liền mở ống lấy chữ cho
hết vào mồm nuốt rồi lội qua suối. Sang đến bờ, khi thấy mọi người lấy ống chữ
dắt ở bụng ra, người Mảng mới hiểu rõ ý của mọi người nhưng chữ đã bị nuốt
trong bụng không thể lấy ra được nữa.
Người Mảng bị mất chữ từ đấy. Không có chữ viết, khi cần người Mảng
phải mượn chữ của dân tộc khác để học và viết.
1.2.2. Về nguồn gốc lịch sử
Tên gọi khác: Người Mảng còn có tên gọi khác là Mảng Ư, Xá Mảng,
Niểng O, Xá Bá O.
Nhóm địa phương: Mảng Gứng, Mảng Hệ. Người Mảng là một dân tộc
thiểu số thuộc nhánh Bắc Môn-Khmer của ngữ tộc Môn-Khmer.
Lịch sử: Xưa nay vùng Nặm Ban (Dum Bai) thuộc xã Nặm Ban, huyện
5


Sìn Hồ tỉnh Lai Châu vẫn được gọi là "quê hương" của người Mảng. Nhiều
truyền thuyết, truyện kể còn lưu truyền cho đến ngày nay giúp chúng ta có thể
nhận ra người Mảng là một trong những dân cư bản địa ở vùng Tây Bắc.(1)
1.3. Đời sống văn hóa vật chất
1.3.1. Đặc điểm về sản xuất kinh tế:
Hoạt động sản xuất: Người Mảng là cư dân ăn nương chuyên sống bằng
nông nghiệp nương rẫy theo lối sống du canh du cư. Việc chọn nương, đánh dấu
sở hữu được tiến hành từ sau tết.
Tháng 3-4 phát cỏ, để cỏ khô, nỏ. Tháng 5-6 đốt rồi gieo hạt, công cụ làm
nương gồm có dao, rìu, gậy chọc lỗ.
Năng suất lúa thường thấp do đất đai cằn cỗi, rừng non, đời sống bấp

Về ẩm thực: lương thực thực phẩm trong sinh hoạt ăn uống của người
Mảng bao gồm các sản phẩm thu hoạch trên nương như ngô, lúa, các loại rau củ,
quả, rau, măng...người Mảng ăn hai bữa chính trong một ngày, bữa sáng và bữa
tối. Bữa trưa là bữa ăn phụ. Lương thực trong các bữa ăn là gạo hoặc ngô. Ngoài
ra thức ăn thường có bát canh, đĩa xào các loại rau, củ, quả do trồng tỉa trên
nương hoặc hái lượm. Người Mảng uống rượu cần và rượu tự chưng cất bằng
nguồn lương thực do họ sản xuất.
1.3.4. Phương tiện vận chuyển:
Phổ biến dùng gùi Mang gùi (dong buê) có dây quai vắt qua trán và sỏ
qua tấm ván ách tì lên gáy là đặc trưng của cách vận chuyển sản phẩm của người
Mảng. Cách đeo gùi này thấy ở nhiều dân tộc trong nước và trên thế giới., có
dây đeo trên trán sau gáy có ách.
1.4. Văn hóa tinh thần
1.4.1. Đặc điểm về tín ngưỡng, tôn giáo và lễ hội
Lễ tết: Ngoài tết Nguyên Đán ra người Mảng ăn tết cơm mới sau vụ gặt
vào tháng 10 âm lịch. Hàng năm, dân bản còn cúng ma bản và ma nhà để yêu
cầu cầu yên. Đặc biệt, ở họ tồn tại hàng loạt nghi lễ liên quan đến nông nghiệp:
lễ gieo nương; cúng hồn lúa, mẹ lúa; cúng sau vụ thu hoạch...
Thờ cúng: ma nhà được cúng vào dịp tết hoặc khi trong nhà có người ốm.
Trời là đấng tối cao. Họ quan niệm vũ trụ có 4 tầng: trên trời là giới thần linh
sáng tạo, mặt đất là thế giới người và các loại ma, dưới đất là người lùn xấu xí
và dưới nước là thế giới thuồng luồng. Người Mảng tin có nhiều ma, trong đó
7


ma nhà có vị trí đặc biệt quuan trọng. Bên cạnh đó họ thờ cúng ma Đẳm-tổ tiên,
dòng họ, lễ cúng hồn lúa...
Người Mảng hiện vẫn giữ được những lễ hội, nghi thức của cư dân làm
nông nghiệp.
Lễ cúng hồn lúa của người Mảng thường diễn ra vào dịp lúa trên nương

“phớt lờ” hành động của bà, không thắc mắc, không hỏi han. Chờ mọi người
trong nhà đã đi ngủ, tắt hết đèn điện, bà mới bỏ nồi cơm ra và lặng lẽ ăn trong
bóng tối, không để rơi vãi một hạt. Tuy nhiên, cũng không ăn hết chỗ cơm trong
nồi, mà phải để thừa một ít. Theo quan niệm của người Mảng, kiêng rơi vãi, một
phần là tránh việc thất thoát thóc lúa, một phần nữa là tránh những vong hồn vất
vưởng có thể vào nhà mình nhặt đồ ăn mà làm cho người nhà mình ốm đau. Ăn
phải để lại một chút, với ý nghĩa là thóc lúa nhiều, vụ này ăn không hết, còn
thừa đến vụ sau.
Lễ gọi hồn lúa và lễ ăn cơm kiêng của người Mảng diễn ra trong 3 ngày.
Trong 3 ngày ấy, người phụ nữ đi mời hồn lúa về phải kiêng ăn muối, kiêng rau
xanh, phải đun nước lá thơm để tắm rửa. 3 ngày sau, gia đình, khách khứa mới
được ăn cơm gạo mới. Nếu nhà nào không kiêng, hồn lúa sẽ giận, không về nhà
đó nữa. Hồn lúa mà không về thì vụ sau sẽ mất mùa, đói kém…
1.5. Văn hóa xã hội
Quan hệ xã hội: Người đứng đầu tổ chức xã hội truyền thống là Pơ gia.
Ông ta cùng hội đồng các trưởng họ điều khiển mọi hoạt động văn hóa tôn giáo,
xã hội trong bản. Về sau tổ chức xã hội này bị phá vỡ, chịu sự chi phối của tổ
chức xã hội Thái. Tuy nhiên tổ chức bản “ Muy” vẫn duy trì theo tập quán
truyền thống. Bản có trưởng bản trông coi về thu thuế tạp dịch. Trong bản
thường có một dòng họ lớn , các trưởng họ cùng hội đồng già làng điều hành
mọi hoạt động xã hội, tôn giáo theo tập quán. Người Mảng có năm họ chính,
mỗi họ lấy một con vật làm vật tổ.
Ma chay: tang lễ của người Mảng gồm nhiều nghi thức phức tạp, từ
khâm liệm cho đến khi chôn cất. Xưa quan tài chủ yếu dùng vỏ cây hoặc tre
ghép. Sau này người ta dùng thân tre khoét rỗng hay dùng hòm ván gỗ. Trong
gia đình có người chết, khi đưa đi trôn thì phải đưa ra bằng cửa phụ, nếu nhà có
một cửa thì phải dỡ bỏ một lối đi đối diện với cửa chính để mang người chết ra.

9


người trong đoàn đón dâu để mong điều may mắn.
10


Ngày nay, quan niệm hôn nhân của người Mảng còn rất lạc hậu. Người
Mảng quan niệm rằng: “Khi con gái đi lấy chồng sinh con, những đứa con ấy
mang họ khác thì không còn là con ma của nhà mình, nên con của anh em trai và
con của chị em gái được quyền tự do tìm hiểu xây dựng gia đình”. Chính hôn
nhân cận huyết, cùng với sự thiếu hiểu biết của người Mảng nên nạn tảo hôn rất
nhiều, dẫn đến suy thoái giống nòi.
Tục xăm cằm của người Mảng:
Tục xăm cằm là một trong những nét văn hóa đặc sắc của dân tộc Mảng.
Cùng với thời gian và cuộc sống, tục này dần bị mai một. Tại Tỉnh Lai Châu,
năm 2013, đã tiến hành phục dựng tục này tại xã Bum Nưa, huyện Mường Tè.để
bảo tồn và phát huy nét văn hóa này.
Tục xăm cằmcủa người Mảng xưa đã trở thành nét văn hóa tâm linh độc
đáo và là nghi lễ không thể thiếu đối với mỗi thanh niên, nam nữ người dân tộc
Mảng khi đến tuổi trưởng thành.
Tục xăm cằm của người Mảng bắt nguồn từ truyền thuyết sau: Ngày xưa
ở bản Mảng nọ có đôi vợ chồng trẻ chịu thương, chịu khó, biết thương yêu nhau,
sống rất hạnh phúc. Họ sinh ra một bé trai kháu khỉnh. Nhưng cũng từ khi sinh
con chị vợ lại sinh thêm căn bệnh lười, tham lam và ngoa ngoắt. Mọi công việc
nặng nhẹ chị đều dồn hết lên vai người chồng, nhà có gì ngon chị ta ăn bằng no,
bằng chán mà không để ý đến chồng. Đã thế mỗi khi không hài lòng chị ta lại lu
loa, đay nghiến, ăn vạ ầm ĩ…
Từ khi vợ thay đổi tính tình, anh chồng rất buồn và tủi thân. Anh kể nỗi
khổ của mình với trời đất, và cầu xin cho người vợ thay đổi tính nết để gia đình
được sống hạnh phúc như trước đây… động lòng trước lời cầu xin của anh, thần
Chông Gô Chươi Lụa đã dạy cho anh một cách nhằm thay đổi tính tình người
vợ.

việc không khẳng định được sự trưởng thành của mình, khi chết sẽ không qua
được cổng trời.
Với những quan niệm tâm linh đó, thanh niên dân tộc Mảng khi đến tuổi
trưởng thành (từ 12 – 18 tuổi) đều được các cao niên có uy tín hay bố mẹ nhắc
nhở và tổ chức xăm cằm theo một nghi lễ chứa đựng những bí ẩn không thể lý
giải.
Tuy tập tục xăm mặt của người Mảng đã thất truyền từ mấy chục năm
12


trước nhưng dù sao nó cũng là một tục lệ độc đáo được lưu truyền trong dân
gian còn ẩn chứa nhiều điều bí ẩn( ảnh 2).
Xăm cầm một tục lệ độc đáo của người Mảng được lưu truyền trong dân
gian.
Một số quan niệm của người Mảng
Bên cạnh đó người Mảng có những điều kiêng kị và tục lệ rất phong phú
như:
Trong cuộc sống thường nhật, người Mảng có nhiều thứ kiêng kị mang
màu sắc tâm linh, chẳng hạn, trong gia đình có người chết, khi đưa đi chôn thì
phải đưa ra cửa phụ vì bà con quan niệm, đầu của người ngủ luôn hướng dọc ra
cửa chính, chân thì hướng ra cửa phụ, nên khi chết cũng đưa ra theo chiều của
chân. Con dâu không được vào nơi ngủ của bố mẹ chồng. Ngược lại, bố chồng
cũng không được vào nơi ngủ của con dâu, nếu vào thì tổ tiên sẽ bắt phạt người
trong gia đình ốm đau. Điều này cũng phản ánh rõ tục lệ của người Mảng là em
trai có thể lấy được chị dâu nếu anh trai chết. Còn anh trai tuyệt đối không được
lấy em dâu khi em trai chết…
Người Mảng từ xưa đến nay đều kiêng kị đưa lá xanh và thịt tươi vào nhà.
Nếu đưa vào thì phải đưa cửa phụ, nhà một cửa thì phải che giấu kín mới đem
vào được. Vì theo lý của dân tộc Mảng, nếu đưa lá xanh vào nhà mà để tổ tiên
biết thì sẽ trách phạt mọi thành viên trong gia đình như bị ốm đau, bệnh tật, đi

đất không còn tồn tại con người...
Về sau để duy trì con người trên mặt đất, Mon Ten ( trời) mới cho người
ngồi vào quả bầu và thả theo đường ống tre không đốt xuống... khi tới mặt đất,
từ trong quả bầu con người chui ra theo lỗ mà trời đã dùi sẵn, Những người chui
ra trước bị cọ vào thành lỗ nên da đen, những người càng chui ra sau da càng
trắng. Sau khi thả con người xuống Mon Tem đã thả những quả bầu tiếp theo
đựng đầy những loại hạt giống để con người gieo trồng kiếm kế sinh nhai.
Qua truyện quả bầu thấy được rằng người Mảng từ xa xưa đã ý thức được
việc tránh cùng huyết thống trong hôn nhân.
Và một trong những câu chuyện mang tính lịch sử và huyền thoại của dân
tộc Mảng là truyện Pơ Gia đánh giặc. Thủa xưa, cuộc sống của người Mảng
thường xuyên bị các tốc người ở nơi khác đến đe dọa, cướp bóc. Để bảo vệ bản
mường, Pơ Gia đã lập nên một đội quân rất đông để đánh giặc. So với các dân
14


tộc khác cùng nhóm ngữ hệ như: Khơ Mú, Kháng, La Ha, Xinh Mun thì dân tộc
Mảng trình độ xã hội kém phát triển hơn, nhưng thần thoại Mảng lại phát triển
đa dạng hơn, mang màu sắc tôn giáo rõ rệt hơn.
Trong văn học dân gian của người Mảng nhiều truyện thần thoại, truyện
kể, truyện cổ tích, các câu truyện thần thoại được gắn với những địa danh có
thực trong tự nhiên như con sông, con suối, cánh rừng, ngọn núi...
Trong những câu chuyện của họ con người là trung tâm được miêu tả theo
bút pháp thần thoại. Trong các câu chuyện của người Mảng yếu tố siêu nhiên kỳ
ảo luôn xuất hiện nhưng ở những mức độ khác nhau, tùy thuộc vào nội dung của
từng câu chuyện. Và thường đậm nét hơn trong các câu chuyện thần thoại.
Văn học dân gian của người Mảng có nhều câu chuyện không phải là
những mẩu thần thoại riêng rời rạc, yếu tố thần thoại được dùng và thể hiện với
kết cấu khá lô gic, chặt chẽ theo chiều phát triển của lịch sử, phù hợp với trình
độ hiểu biết của người xưa, các tình tiết trong truyện được sắp xếp theo trình tự

Song với tính chất truyền miệng là chính nên các tác phẩm của họ đã có phần bị
quyên lãng cũng có phần được thêm bớt do những người kể chuyện. Các truyện
cổ của dân tộc Mảng luôn toát lên tinh thần lạc quan, giàu tính chiến đấu, tính
nhân đạo, ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp, thần thánh hóa các nhân vật.
Văn học nghệ thuật dân gian của người Mảng đã góp phần làm phong phú
thêm kho tàng văn học dân gian Việt Nam.
2.2.Nghệ thuật dân gian
2.2.1. Nhạc cụ
Nhạc cụ của người Mảng khá nghèo và đơn giản, các nhạc cụ đều được
làmbằng tre nứa và bằng các vật liệu thông thường. Ngoài trống, chiêng, cồng
( pai làng) người Mảng còn có sáo pí ( lờ lằm) được làm bằng ống trúc hoặc nứa,
phần đầu thổi có gắn lưỡi gà, trên pí có khoét các lỗ theo ngón tay để thổi âm
thanh. Pí của người Mảng khi thổi cũng có âm thanh giống pí của người Thái,
người Khơ Mú. Đàn của người Mảng cũng được làm bằng quả bầu có hai dây
giống như tính tẩu của người Thái. Người Mảng gọi là “ tứng”.
Trong những cuộc vui để tạo không khí vui nhộn, người Mảng còn tạo ra
các âm thanh mới bằng cách dùng các ống tre nứa để gõ. Cây sáo hay còn gọi là
“ luôm” được coi là biểu tượng của sự tự do, bình đẳng dành cho người con gái
Mảng. Chỉ có con gái Mảng mới được mẹ dạy cho làm và thổi sáo “ luôm”. Con
16


trai Mảng thì học đàn bầu. Khi đã có tình ý với nhau, tìm hiểu nhau bên suối
hoặc bên đống lửa, người con gái sẽ thổi “ luôm” và người con tải sẽ gẩy đàn
bầu, không tị hay phân biệt ai tấu trước. Khi hòa tấu theo cảm hứng bằng luôm
và đàn bầu đó đến độ ưng nhau sẽ dẫn đến cưới. Tuy nhiên sau khi thành gia
thất, phụ nữ Mảng sẽ bẻ “luôm” không thổi nữa và chỉ khi có con gái mới truyền
dạy lại.
Người Mảng chế tác sáo và bộ gõ ống rất đơn giản nhưng cái khó là âm
thanh phát ra làm sao cho thần linh tận hưởng, lòng người xúc động và buộc con

“Ta cùng xòe chúc mừng nhà mới
Ta cùng hát chúc mừng nhà mới
Ta cùng múa xòe vui vẻ
Ta cùng vui vẻ cây lúa mới mọc lên...”
( Ăm xoỏng- Hát lên nhà mới)
Có thể thấy dân ca của dân tộc Mảng rất đồ sộ, phong phú và đa dạng cả
về nội dung lẫn hình thức. Tuy nhiên dân ca của dân tộc Mảng đang dần bị mai
một do đan xen, giao thoa văn hóa với cộng đồng các dân tộc khác gần gũi xung
quanh. Vấn đề cấp bách hiện nay là bảo tồn, tiến tới khôi phục các bài hát dân ca
Mảng trước khi các nghệ nhân cao tuổi của dân tộc này mất dần. Việc làm này
không chỉ ngăn chặn sự suy thoái về văn hóa của một tộc người mà còn là một
việc làm tri ân đối với họ.
“Năm mới, anh em hãy tập trung về như cá về nước
Anh em hãy tập trung chung vui năm mới
Như tất cả đàn chim tập trung vào ăn quả”
( O xoỏng chi gò mó no mể - Hát chúc mừng năm mới)
Người Mảng có một câu chuyện kể về nguồn gốc của những lời hát dân ca
của dân tộc Mảng rằng: thủa xa xưa khi các dân tộc còn chưa có lời ca tiếng hát
của riêng dân tộc mình như ngày nay. Mọi việc đàn ca múa hát đều được ông
Mon Ten giao cho ông Mon Xay đứng ra chăm lo tổ chức trong các dịp lễ hội
vui mừng của các dân tộc. Năm ấy thấy sức khỏe không còn đảm đương được
công việc, ông Mon Xay xin với Mon Ten được phép truyền dạy lại lời ca tiếng
hát để các dân tộc tự giữ gìn và lưu truyền lại cho các đời sau. Được Mon Ten
cho phép, ông Mon Xay báo cho các dân tộc biết để cử người đến học hát, học
múa. Người Kinh đến sớm nhất, được ông Mon Xay truyền dạy cho nhiều loại
18


đàn, nhạc, nhiều bài hát, điệu múa... người Kinh ghi chép đầy đủ, hỏi thầy mọi
điều cặn kẽ chính vì thế chính vì thế mà ngày nay họ biết nhiều bài ca, điệu múa


Múa xòe của người Mảng gọi là Xi Xẹ và thường được múa khi nhà có
những cuộc vui. Và tiếng trống giữa vùng đất tổ Nậm Ban mở đầu cho điệu múa
“ Tà Lơm”, những động tác trỉa hạt trên nương được cách điệu hóa trong điệu
múa “ Tà Lơm” dùng trong lễ cầu mùa.
2.3. Giá trị của văn nghệ dân gian đối với người Mảng và đối với kho
tàng văn hóa dân gian Việt Nam.
2.3.1. Giá trị của văn nghệ dân gian đối với người Mảng
Văn nghệ dân gian của dân tộc Mảng là những sáng tác được diễn xướng,
lưu truyền bằng tiếng hát, lời ca và những câu nói có vần điệu, là những câu
chuyện được kể lại trong các câu chuyện truyền thuyết, thần thoại...
Thơ ca của dân tộc Mảng được sử dụng mọi lúc ngay cả khi lao động,
nghỉ ngơi, vui chơi, hội hè, lễ tết. Nội dung của văn nghệ dân gian gắn lền với
cuộc sống sinh hoạt của người dân, phản ánh tư duy tính cách của con người đối
với con người, với thiên nhiên, vạn vật. Thể hiện khát vọng sống mãnh liệt của
con người.
Dân tộc Mảng sử dụng ngôn ngữ gắn liền với âm nhạc hoặc có tính nhạc
để truyền tải những nội dưng tư tưởng mang tính triết lý, giáo dục hoặc tự sự.
Tục xăm cằm, lễ thành đinh… cũng là đặc trưng văn hóa lâu đời của dân tộc
Mảng. Vì vậy nghệ thuật dân gian của dân tộc Mảng còn góp phần phản ánh tâm
tư tình cảm, tính cách tộc người, bảo tồn và phát huy giá trị ngôn ngữ...
2.3.2. Đối với kho tàng văn hóa dân gian Việt Nam
Kho tàng văn hóa, văn nghệ dân gian của dân tộc Mảng ở Lai Châu rất
phong phú, đặc sắc, góp phần tạo nên bức tranh sắc thái văn hóa đa dạng, muôn
màu rực rỡ cho kho tàng văn hóa dân gian Việt Nam
3. Đánh giá, đề xuất giải pháp, hướng bảo tồn và phát huy các giá trị
văn nghệ dân gian của dân tộc Mảng
3.1. Đánh giá
Văn hoá Việt Nam là sự kết hợp hài hoà những tinh hoa trong truyền
thống của các dân tộc, là sự kết hơp giữa cái chung và cái riêng, tạo nên tính

Thông tin huyện lưu giữ những làn điệu dân ca, dân vũ, các trò chơi dân gian,
trang phục truyền thống để bảo tồn”.
Phòng Văn hóa và Thông tin huyện cử các cán bộ đến từng bản của các
xã: Nậm Pì, Trung Chải, Nậm Ban vận động bà con lưu giữ văn hóa truyền
21


thống, phụ nữ mặc trang phục truyền thống của dân tộc. Đối với những phong
tục tập quán có từ lâu đời cần phải lưu giữ không để mai một theo thời gian, khó
có thể khôi phục lại được. Bên cạnh đó, huyện hỗ trợ kinh phí cho người dân tự
may trang phục truyền thống, tự làm các dụng cụ dân tộc, thành lập 13 Đội văn
nghệ dân tộc Mảng chuyên tập các làn điệu dân ca truyền thống.
Để khơi dậy nền văn hóa đang dần mai một, huyện Nậm Nhùn đã tổ chức
Ngày hội văn hóa dân tộc Mảng lần thứ Nhất ở xã Trung Chải với nhiều tiết mục
văn hóa, văn nghệ lâu đời đã được bà con người Mảng trình diễn. Chứng kiến
các phong tục như: tục xăm cằm, lễ hội mừng nhà mới, lễ ăn hỏi, lễ thành đinh,
chúng tôi hiểu thêm văn hóa của dân tộc Mảng. Điển hình như tục xăm cằm cho
thanh niên trưởng thành là phong tục lâu đời nhất của dân tộc Mảng, thể hiện sự
trưởng thành trong suy nghĩ, trách nhiệm của mỗi cá nhân trong cộng đồng.
Theo một số người dân tộc Mảng ở bản Pá Bon (xã Nậm Pì) cho biết,
Nhiều phong tục tập quán của dân tộc Mảng ở Pá Bon đã không được duy trì
như xưa. Để thế hệ trẻ hiểu biết về văn hóa dân tộc, ngoài truyền đạt qua các câu
truyện dân gian, mỗi khi đến lễ hội, gia đình họ thường dẫn các cháu đi xem để
tăng thêm sự hiểu biết. và một số Gia đình khác họ thường cho con cháu tham
gia các đội văn nghệ của xã để tập, múa những bài hát, những làn điệu dân gian.
Ngoài ra, các gia đình của người Mảng thường giáo dục con cái nên giữ gìn bản
sắc văn hóa của dân tộc của mình.
Để lưu truyền bản sắc dân tộc Mảng được tốt hơn, theo ông Hà Văn
Sơn Phó Chủ tịch UBND huyện Nậm Nhùn, Tỉnh Lại Châu cho biết thêm.
Phòng Văn hóa và Thông tin huyện sẽ tổ chức Ngày hội văn hóa người Mảng

phát điểm nền kinh tế thấp, phát triển còn chậm và thiếu bền vững; các chương
trình, dự án đầu tư của nhà nước tuy được tăng cường nhưng hiệu quả chưa cao,
chưa đáp ứng được thực tế ở cơ sở; còn tồn tại tư tưởng trông chờ ỷ lại sự đầu tư
của nhà nước; trình độ học vấn, nhận thức của đồng bào nhìn chung thấp; một số
cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương chưa nhận thức đầy đủ vai trò của công
tác bảo tồn văn hóa dân tộc, chưa chú trọng và có biện pháp chỉ đạo tích cực,
hữu hiệu cho việc bảo tồn, phát huy nền văn hóa truyền thống; trình độ đội ngũ
cán bộ dân tộc thiểu số ở cơ sở còn yếu; công tác quy hoạch, đào tạo, sử dụng
cán bộ người dân tộc thiểu số chưa được quan tâm đúng mức; việc tuyên truyền,
giáo dục và vận động quần chúng tham gia giữ gìn văn hóa dân tộc chưa được
23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status