TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
LÊ VĂN LÊ ANH
KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG NƯỚC VỀ MẶT VI
SINH CỦA MỘT SỐ SÔNG, RẠCH QUANH
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Luận văn tốt nghiệp
Ngành: THÚ Y
Cần Thơ, 2009
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
Luận văn tốt nghiệp
Ngành: THÚ Y
Tên đề tài:
KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG NƯỚC VỀ MẶT VI
SINH CỦA MỘT SỐ SÔNG, RẠCH QUANH
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Giáo viên hướng dẫn:
Lý Thị Liên Khai
Cần Thơ, 2009
Cần thơ, ngày
tháng
năm
Duyệt giáo viên hướng dẫn
LÝ THỊ LIÊN KHAI
tháng
năm 2009
Duyệt khoa Nông Nghiệp và Sinh học Ứng dụng
4
LỜI CẢM ƠN
Mãi mãi biết ơn Cha, Mẹ người đã không ngại gian khó nuôi con khôn lớn
và cho con cả tương lai.
Với tất cả sự kính trọng em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến quý thầy cô
Bộ môn Thú Y, các thầy cô của trường Đại Học Cần Thơ đã dạy dỗ trong suốt
thời gian học tập tại trường.
Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô Lý Thị Liên Khai đã hết lòng hướng
dẫn, quan tâm, lo lắng động viên tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Xin chân thành cám ơn cô Trần Thị Minh Châu đã tận tình hướng dẫn,
quan tâm đến lớp Thú Y K30 trong suốt khóa học.
Xin được nói lời cám ơn đến các Chị và các Bạn trong phòng thí nghiệm
2.6.4. Enterobacter............................................................................................. 9
2.7. Salmonella...................................................................................................... 10
2.7.1. Nghiên cứu vi khuẩn Salmonella ........................................................... 10
2.7.2. Đặc điểm chung của vi khuẩn Salmonella .............................................. 11
2.7.3. Sức đề kháng của vi khuẩn Salmonella................................................... 11
2.7.4. Tính gây bệnh......................................................................................... 12
2.7.5. Bệnh thương hàn ở người ...................................................................... 13
2.7.6. Đường lây lan của vi khuẩn Salmonella trong tự nhiên........................... 14
6
2.8. Tổng quan về nước trên hệ thống sông, rạch quanh thành phố Cần Thơ.......... 15
2.8.1. Hệ thống sông rạch tại thành phố Cần Thơ ............................................. 15
2.8.2 Chế độ thủy triều..................................................................................... 16
2.9. Sơ lược về các điểm khảo sát ......................................................................... 16
Chương 3. PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM ....................... 21
3.1. Phương tiện ................................................................................................... 21
3.1.1. Thời gian và vị trí lấy mẫu..................................................................... 21
3.1.2. Thiết bị dụng cụ..................................................................................... 21
3.1.3. Hóa chất và môi trường ......................................................................... 21
3.2. Phương pháp tiến hành thí nghiệm................................................................. 22
3.2.1. Phương pháp lấy mẫu ............................................................................ 22
3.2.2. Phương pháp tính tổng số vi khuẩn hiếu khí của mẫu nước thí nghiệm.. 22
3.2.3. Phương pháp định lượng Coliforms, E. coli trong mẫu nước ................ 24
3.2.4. Phương pháp định lượng Salmonella trong nước bằng phương pháp
MPN...................................................................................................................... 25
Chương 4. KẾT QUẢ THẢO LUẬN ................................................................... 27
4.1. Kết quả khảo sát các chỉ tiêu nhiệt độ, pH, vi sinh của nguồn nước sông và
nước thải chăn nuôi có xử lý........................................................................ . ........ 27
và thải chăn nuôi chưa xử lý .................................................................................. 30
Bảng 4.3. Kết quả khảo sát các chỉ tiêu nhiệt độ, pH, vi sinh của nguồn nước thải
sinh hoạt và nước sông .......................................................................................... 32
Bảng 4.4. Kết quả xếp loại các chỉ tiêu vi sinh của một số dòng sông thuộc thành
phố Cần Thơ so với tiêu chuẩn chất lượng nước mặt TCVN 5942 - 1995 .............. 34
Hình
Hình 1. Ao nước đầu ra của hầm biogas trại heo số 1..................................... ..... 16
Hình 2. Ao nước thải ra sông Rạch Ngỗng của lò mổ thành phố Cần Thơ....... .... 17
Hình 3. Sông Rạch Ngỗng gần lò mổ thành phố Cần Thơ .................................... 17
Hình 4. Ao chứa chất thải trực tiếp của trại heo số 2 ............................................ 18
Hình 5. Sông Rạch Ngỗng nơi tiếp nhận nước thải của trại heo số 2 ................... 18
Hình 6. Hồ chứa nước thải sinh hoạt hẻm Tỉnh Đoàn........................................... 19
Hình 7. Sông Cái Khế ........................................................................................... 19
Hình 8. Sông Cái Răng ......................................................................................... 20
Hình 9. Sông Hậu ................................................................................................ 20
8
TÓM LƯỢC
Nước là nhu cầu thiết yếu cho mọi sinh vật cũng như mọi hoạt động của con
người, cùng với sự phát triển của dân số và đô thị hóa làm cho nguồn nước bị ô
nhiễm nghiêm trọng gây thiệt hại lớn về kinh tế và đe dọa sức khỏe cộng đồng. Để
khảo sát hiện trạng và mức độ ô nhiễm vi sinh của nguồn nước song, rạch quanh
thành phố Cần Thơ, chúng tôi sử dụng phương pháp tráng trên mặt thạch tính tổng
số vi khuẩn hiếu khí, phương pháp MPN (Most Probable Number) để định lượng
tổng số Coliforms, E. Coli và Salmonella trong mẫu nước thí nghiệm. Trong 36
mẫu khảo sát cho thấy chỉ số Coliforms, E. coli gây ô nhiễm nguồn nước thấp hơn ở
nước sông chứa chất thải chăn nuôi có xử lý so với nguồn nước sông chứa chất thải
chăn nuôi chưa xử lý, mức độ ô nhiễm vi sinh của nguồn nước thải chăn nuôi và
hoạt động của thành phố chủ yếu là nước mặt. Nhưng cho đến nay, thành phố chưa
có một hệ thống xử lý chất thải sinh hoạt và chất thải chăn nuôi hoàn chỉnh. Nên sự
ô nhiễm nguồn nước mặt ở các sông, rạch quanh thành phố Cần Thơ là không tránh
khỏi.
Xuất phát từ thực tế trên, được sự phân công của Bộ môn Thú y, khoa Nông
Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại Học Cần Thơ, chúng tôi tiến hành thực
hiện đề tài: “Khảo sát chất lượng nước về mặt vi sinh của một số sông rạch
quanh thành phố Cần Thơ”.
Mục tiêu của đề tài:
Khảo sát hiện trạng nguồn nước sông, rạch quanh thành phố Cần Thơ.
Đánh giá mức độ ô nhiễm về mặt vi sinh của nguồn nước sông, rạch quanh
thành phố Cần Thơ.
10
CHƯƠNG 2
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Tổng quan về tài nguyên nước
Trên trái đất nước biển chiếm tới 97%, nước ở dạng băng đá ở hai cực trái
đất chiếm 2% và chỉ có 1% nước trên trái đất mà con người sử dụng được bao gồm
nước sông, suối, ao, hồ, nước ngầm… trong đó có tới 30% nước dùng cho tưới tiêu,
50% nước dùng cho công nghiệp và 7% nước dùng cho sinh hoạt (Đặng Kim Chi,
2001).
Việt Nam có 16 lưu vực sông rộng hơn 2.000 km2 trong đó có 10 lưu vực
sông có diện tích lớn hơn 10.000 km2. Mười lưu vực sông này chiếm 80% diện tích
cả nước, 70% nguồn nước và 80% tổng số dân. Toàn bộ nguồn nước mặt của hệ
thống các thủy vực nước ngọt của Việt Nam khoảng 880 tỷ, trong đó sông Cửu
Long và Sông Hồng chiếm tới 75% lượng nước trên (Đặng Ngọc Thanh, 2002).
ô nhiễm nước sông, hồ. Nước đồng ruộng kéo theo thuốc bảo vệ thực vật, phân bón
hữa cơ và phân hóa học. Nước mưa, lũ lụt cùng nước ngầm chảy tràn cuốn kéo các
chất màu mỡ của đất như mùn, phù sa, các vi sinh vật vào nguồn nước.
Nước sông bị ô nhiễm do các yếu tố tự nhiên: nước vùng cửa sông thường bị
nhiễm mặn và có thể ô nhiễm vào sâu trong đất liền. Nước ở các vùng bị nhiễm
phèn có thể làm các kênh rạch chuyển ô nhiễm sang các vùng khác. Các yếu tố tự
nhiên còn bị ảnh hưởng bởi thành phần cấu tạo đất hoặc vị trí địa lý của từng khu
vực (Lương Đức Phẩm, 2002).
Ô nhiễm do nước thải: nước thải là nước đã qua sử dụng vào các mục đích như
sinh hoạt, dịch vụ, tưới tiêu thủy lợi, chế biến công nghiệp, chăn nuôi... Đặc điểm
của nước thải sinh hoạt có hàm lượng lớn các chất hữu cơ dễ bị phân hủy, chất vô
cơ sinh dưỡng cùng với vi khuẩn, trứng giun sán... (Lương Đức Phẩm, 2002).
2.3 Tình hình nghiên cứu sự ô nhiễm nguồn nước mặt ở Việt Nam
Ở Hà Nội, các con sông như sông Hồng, Tô Lịch, Kim Ngưu và nước ở Hồ
Tây bị ô nhiễm nặng. Ở Hải Phòng các thông số quan trắc nguồn nước sông không
thỏa yêu cầu cho nguồn nước dùng cho sinh hoạt nhưng có thể sử dụng nguồn nước
mặt cho hoạt động nông nghiệp. Ở Huế nước sông Hương bị ô nhiễm nặng, chỉ số
BOD, nitơ, photpho rất cao, tổng số Coliforms cao gấp 4 – 8 lần tiêu chuẩn cho
phép đối với nước mặt loại B theo TCVN 5942 – 1995. Ở Đà Nẵng, kết quả quan
trắc cho thấy hiện trạng chất lượng nước mặt ở khu vực này bị ô nhiễm ở mức nhẹ,
còn trong giới hạn tiêu chuẩn cho phép đối với nguồn phục vụ sinh hoạt và sản xuất
(Bùi Thị Nga, 2002).
Kết quả quan trắc và phân tích chất lượng nước của sông, rạch ở Long An và
thành phố Cần Thơ cho thấy nước mặt ở các khu vực này chỉ bị ô nhiễm nhẹ. Tại
thị xã Tân An thuộc Long An nước mặt bị nhiễm phèn nhẹ (pH = 5 – 5,5), ô nhiễm
hữu cơ khá cao, BOD dao động từ 8 – 20. Nguồn nước sông Hậu thuộc thành phố
Cần Thơ hàm lượng BOD tương đối ổn định và đạt giá trị từ 2-3 mg/lít. Độ pH ổn
12
điều kiện vệ sinh môi trường và ý thức cộng đồng kém. Có ba nhóm vi sinh vật chỉ
thị cho ô nhiễm phân:
Coliforms
Streptococcus faecalis
13
Clostridium perfringens
Thực tế khi phân tích về vi sinh vật thì nhóm Coliforms được chú ý nhiều vì
sự có mặt của nhóm vi sinh vật này trong nước. Điều này nói lên rằng nước bị ô
nhiễm phân và nước tiểu có thể có các loài vi trùng gây bệnh.
2.6 Coliforms
Coliforms là những trực khuẩn gram âm không sinh bào tử, hiếu khí hoặc kỵ
khí tùy tiện, có khả năng lên men lactose, sinh acid, sinh hơi ở 370C trong 24 – 48
giờ. Trong thực tế phân tích, Coliforms còn được định nghĩa là các vi khuẩn có khả
năng lên men sinh hơi trong khoảng 48 giờ khi được ủ ở 370C trong môi trường
lỏng Lauryl Sulphate và Brilliant Green Lactose Bile Salt. Nhóm Coliforms hiện
diện rộng rãi trong tự nhiên, trong ruột người, động vật. Coliforms được xem là
nhóm vi sinh vật chỉ thị: số lượng hiện diện của chúng trong thực phẩm, nước hay
các mẫu môi trường được dùng để chỉ thị khả năng hiện diện của các vi sinh vật
khác. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng khi số Coliforms của thực phẩm cao thì khả
năng hiện diện của các vi sinh vật gây bệnh khác cũng cao. Tuy nhiên, mối liên hệ
giữa vi sinh vật gây bệnh và vi sinh vật chỉ thị này vẫn còn nhiều tranh cãi. Nhóm
Coliforms gồm 4 giống là: Escherichia coli, Citrobacter, Klebsiella và
Enterobacter. Tính chất sinh hóa đặc trưng của nhóm này được thể hiện qua các
thử nghiệm Indole (I), Methyl Red (MR), Voges-Proskauer (VP) và Citrate (iC)
thường được gọi tóm tắt chung là IMViC (Trần Linh Thước, 2006).
2.6.1 E. coli
Đặc điểm của vi khuẩn
Vi khuẩn E. coli không sinh H2S, thường sinh Indole khi thử với thuốc thử
Kovac thì xuất hiện vòng màu đỏ trên bề mặt môi trường thử Indole.
Phản ứng MR (Methyl red) dương tính nếu môi trường trở nên màu hồng
trên mặt sau khi thử với thuốc thử Methyl Red.
Phản ứng VP (Voges - Proskauer) âm tính, hoàn nguyên nitrate thành nitrite
và không sử dụng urea (Nguyễn Vĩnh Phước, 1977).
Sức đề kháng
E. coli không chịu được nhiệt độ cao, vi khuẩn bị diệt ở 550C trong một giờ,
600C trong 30 phút, đun sôi 1000C chết ngay. Các chất sát trùng thông thường như
acid phenic, formol, hydroperoxid 10/00 diệt vi khuẩn sau 5 phút. Tuy nhiên, ở môi
trường ngoài vi khuẩn có thể tồn tại đến 4 tháng (Nguyễn Như Thanh và ctv, 1997).
Theo Ngô Cao Lẫm (2006), vi khuẩn E. coli gây bệnh tiêu chảy ở trẻ em có
thể tồn tại trong nước sông 150 ngày, trong nước giếng là 7 – 75 ngày.
E. coli có thể sống sót ở pH = 2.5 ít nhất là hai giờ (Batzing, 2001).
E. coli có khả năng tồn tại trong đất khô khoảng 14 ngày và có khả năng phát
triển trở lại khi đất được làm ẩm (Chandler and Craven, 1980).
Theo Wang and et al (1996), trong phân có độ ẩm thấp (10%) E. coli có thể
sống từ 42 – 49 ngày ở 370C, từ 49 – 56 ngày ở 220C. Phân có độ ẩm cao (74%) E.
coli có thể sống 63 – 70 ngày ở 50C. Các vi khuẩn phân lập được từ các mẫu ở các
15
nhiệt độ trên đều có khả năng sinh độc tố verotoxin 1 và verotoxin 2. Các kết quả
chỉ ra rằng E. coli có khả năng sống sót trong phân một thời gian dài và giữ khả
năng sinh độc tố.
E. coli O157 có thể tồn tại trong cặn lắng của máng uống gia súc ít nhất 245
ngày. Hơn nữa, E. coli O157 có thể sống hơn 6 tháng ở máng ăn và có khả năng
gây bệnh cho nhóm bê 10 tuần tuổi. Vi khuẩn E. coli O157 có thể tồn tại trong
phân của những con bê bị bệnh này khoảng 87 ngày (Jeffrey and et al., 2001).
hại và có khả năng nhân lên ở tế bào biểu bì ruột, nên về biểu hiện bệnh trên lâm
sàng rất giống với Shigella. Bệnh nhân bắt đầu đau bụng dữ dội, chuột rút cơ bụng,
phân toàn nước, mót rặn, sốt, rồi nhanh chóng chuyển sang trạng thái tiêu chảy
nhiều lần, mỗi lần tiêu ra một ít, phân lỏng chứa máu và dịch nhày. Soi phân trong
tiêu bản chất nhầy có dày đặc bạch cầu (Dương Đình Thiện, 2001).
EPEC (enteropathogenic E. coli) thường gây tiêu chảy cho trẻ em dưới 1
tuổi. Theo Levine (1987) EPEC không có khả năng sinh độc tố hay khả năng thâm
nhập như ETEC hay EIEC. EPEC thường gây các đợt dịch vào mùa hè trong các
nhà trẻ và cả cộng đồng. Trẻ nhỏ bị tiêu chảy do EPEC đi phân lỏng như nước, có
nhiều chất nhày, có sốt và mất nước nhanh chóng, tỷ lệ tử vong cao và có khả năng
kéo dài. EPEC gây nên hiện tượng phá hủy hệ nhung mao của tế bào niêm mạc
ruột.
EHEC (enterohaemorrhagic E. coli) là các E. coli đều tiết ra một loại độc tố
độc cho tế bào gọi là độc tố stx1 và stx2 (hay còn gọi là Vero toxins I và II). Sự bài
tiết ra độc tố này phụ thuộc vào vi khuẩn có mang hoặc không mang một vài thực
khuẩn thể đặc thù (Dương Đình Thiện, 2001).
EAEC (enteroaggregative E. coli) là loại E. coli gây tiêu chảy chưa được
địng nghĩa một cách hoàn hảo. Đó là loại E. coli gây tiêu chảy phổ biến ở các nước
đang phát triển và thường gây tiêu chảy kéo dài ở trẻ con với thời kỳ ủ bệnh 1 -2
ngày (Dương Đình Thiện, 2001).
2.6.2 Klebsiella
Theo Nguyễn Như Thanh (1997), Klebsiella gồm những trực khuẩn không di
động, không hình thành nha bào, thường sinh giáp mô và sản sinh niêm dịch, không
hình thành indole, phân giải urease, phản ứng VP dương tính, MR âm tính.
Vi khuẩn thuộc giống Klebsiella chứa ba kháng nguyên, kháng nguyên giáp
mô K, kháng nguyên thân dạng bóng láng O, kháng nguyên thân dạng nhám R
Giống Klebsiella phát triển ba loại khuẩn lạc: khuẩn lạc nhày, dạng nhám R
và dạng bóng láng S.
Klebsiella có hai chủng điển hình là: K. pneumoniae, K. aerogenes.
Nhóm phụ B gồm hai chủng: C. amalonaticus và C. farmeri.
Nhóm phụ C gồm hai loài được công nhận là C. diversus và C. koseri.
2.6.4 Enterobacter
Trong phòng thí nghiệm, khuẩn lạc của Enterobacter mọc to, xám mờ, khô
hoặc nhầy trên môi trường thạch máu cừu. Tất cả Enterobacteriaceae đều lên men
đường glucose và có khả năng phát triển trong điều kiện hiếu khí và kỵ khí.
Loài Klebsiella và Enterobacter có khuẩn lạc nhày nhưng có thể phân biệt
với một vài phản ứng cụ thể. Trái với loài Klebsiella, Enterobacter thường dương
tính với ornithine decarboxylase và âm tính với urease
18
Có nhiều chủng khác trong giống Enterobacter. Một vài chủng trong số này
không bao giờ liên quan đến sự nhiễm trùng ở người. Các chủng được phân lập phổ
biến bao gồm E. cloacae và E. aerogenes, kế tiếp là E. sakazakii, chủng này có sắc
tố vàng đặc trưng. Những chủng khác hiếm khi thấy trong lâm sàng bao gồm: E.
asburiae, E. gergoviae, E. taylorae, E. hormaechei và E. cancerogenus. E.
agglomerans được tách khỏi giống Enterobacter và đặc tên lại là Pantoea
agglomerans.
Các chủng Enterobacter, đặc biệt là E. cloacae và E. aerogenes là những
mầm bệnh quan trọng trong bệnh viện, là nguyên nhân của nhiều loại nhiễm trùng
khác nhau, bao gồm nhiễm trùng máu, nhiễm trùng đường hô hấp dưới, nhiễm trùng
da và các mô mềm, nhiễm trùng bộ phận tiết niệu, viêm xương, nhiễm trùng mắt.
Các chủng Enterobacter cũng gây ra các chứng nhiễm trùng mắc của cộng đồng bao
gồm viêm đường tiết niệu, viêm da, mô mềm và nhiễm trùng vết thương.
Chúng sống rải rác trong tự nhiên (không khí, nước), bình thường ở trong đại
tràng. Gây bệnh hầu hết là do E. cloacae. Chúng di động có hình dạng giống với
các vi khuẩn đường ruột khác, chỉ phân biệt được bằng tính chất sinh hóa vì cấu
trúc kháng nguyên phức tạp (Hoàng Thúy Nguyên, 1974).
Vi khuẩn Salmonella vừa hiếu khí vừa kỵ khí, dễ nuôi cấy trong điều kiện
nhiệt độ tối hảo 37oC. Theo Nagaraja, Pomeroy và William (1991), vi khuẩn
Salmonella có thể phát triển ở nhiệt độ 5 - 47oC, pH thích hợp là 7,6 phát triển được
ở pH từ 5- 9. Vi khuẩn Salmonella gây bệnh ở gia súc, sinh trưởng tốt trong điều
kiện hiếu khí và kém hơn trong điều kiện kỵ khí.
Môi trường thạch: có thể dùng các môi trường để phân lập vi khuẩn
Salmonell, phổ biến là môi trường Brilliant Green Agar (BGA) và Manitol Lysine
Crystal Violet Brilliant Agar (MLCB). Khuẩn lạc tròn, nhẵn bóng, hơi lồi, khuẩn
lạc có màu đỏ nhạt trên BGA, và màu xám trên MLCB. Đường kính khuẩn lạc 14mm.
Chuyển hoá đường: mỗi chủng Salmonella có khả năng lên men một số loại
đường nhất định và không đổi. Theo Nagaraja, Pomeroy và William (1991), phần
lớn các loài Salmonella lên men có sinh hơi glucose, lên men dextrose, manitol,
mantose, galactose, arabinose. Một số loài lên men nhưng không sinh hơi như S.
abortus bovis, S. typhi, S. gallinarum, S. enteritidis… Theo Minor (1984) tất cả
Salmonella đều không lên men đường lactose, saccharose trừ S. Arizona..
Đa số Salmonella không sản sinh indole nhưng sinh H2S (Minor, 1984).
2.7.3 Sức đề kháng của vi khuẩn Salmonella
Vi khuẩn Salmonella có sức đề kháng khá lớn với các tác động của môi
trường ngoài. Chúng giữ được khả năng sống rất lâu khi bị phơi khô. Trong bụi
bậm chúng sống được 80 ngày, trong phân rác chúng sống trong vòng 4 năm.
Chúng chết trong canh trùng ở nhiệt độ 600C trong 30 phút, ở 700C trong 25 phút,
20
750C trong 5 phút. Vô hoạt chúng trong vòng 10 phút ở 800C và 1 – 2 giờ ở 60 –
650C. Đặc biệt vi khuẩn Salmonella chịu được nhiệt độ thấp. Ở 100C chúng sống
được trong vòng 15 ngày, ở nhiệt độ đông lạnh trong 7 tháng.
Trên mặt đất, dưới tác dụng của mặt trời chiếu thẳng, S. Abortus equi giữ
được khả năng sống trong 10 ngày, trong đất sâu 15 ngày đến 2 tháng, trong những
một số vi khuẩn chết đi, phóng thích nội độc tố, một số khác theo hệ bạch huyết vào
máu gây nhiễm trùng huyết. Từ máu vi khuẩn có thể đi đến tất cả các cơ quan trong
cơ thể và gây nên các ổ áp xe. Tuy nhiên, vi khuẩn thường trú ở bàng quang, hoặc
nhân lên trong túi mật rồi tiết vào đường tiêu hoá. Trong thời kỳ đầu của bệnh có
thể không tìm thấy vi khuẩn nhưng sau tuần lễ thứ 3 hoặc thứ 4 thì tỷ lệ vi khuẩn
Salmonella lên đỉnh cao trong túi mật và thải ra đường tiêu hoá.
Một trong những yếu tố quyết định tính gây bệnh của vi khuẩn là số lượng vi
khuẩn xâm nhập vào cơ thể vật chủ. Trong những nghiên cứu gần đây cho thấy,
khi uống với liều ít nhất 105 vi khuẩn S. typhi thì mới gây ra bệnh thương hàn ở
50% người tình nguyện và uống ít nhất 109 vi khuẩn S. typhimurium mới gây ra các
triệu chứng ngộ độc cho người (Kenneth, 2005).
Nếu mật độ nuôi gia súc cao, stress do vận chuyển, thay đổi chế độ dinh
dưỡng hoặc bị các bệnh truyền nhiễm khác đều làm tăng khả năng xuất hiện bệnh từ
vật mang trùng và tăng khả năng cảm nhiễm của con vật (Phan Thanh Phượng và
ctv, 2002).
2.7.5 Bệnh thương hàn ở người
Nước giữ một vai trò quan trọng hơn trong việc truyền bệnh thương hàn, còn
thức ăn trong việc truyền bệnh phó thương hàn. Nhưng rất ít khi tìm thấy vi khuẩn
thương hàn và phó thương hàn trong nước, khi có dịch thương hàn do vi khuẩn có
trong nước gây ra. Phân người có bệnh hoặc người khỏi bệnh mang vi khuẩn mạn
tính có thể làm bẩn nguồn nước. Nước sông có thể bị ô nhiễm bởi nước cống rãnh
và nước giặt giũ quần áo. Nước giếng cũng có thể bị bẩn do ở gần hố xí hoặc nơi ủ
phân. Nước máy cũng có thể bị nhiễm bẩn nếu ống dẫn bị hở, bể. Đôi khi tắm sông
cũng có thể mắc bệnh thương hàn, nếu uống phải nước bẩn (Hoàng Tích Mịch,
1981).
Liều nhiễm trùng, ngộ độc và nhiễm bệnh:
Liều nhiễm trùng rất khác nhau đối với các loại vi khuẩn, khác nhau giữa
người này với người khác và khác nhau về bản chất của thực phẩm. Đối với người
Phó thương hàn: thời gian ủ bệnh 1 – 15 ngày. Bệnh nhân bị nhiễm trùng
máu, nhức đầu, sốt liên tục đổ nhiều mồ hôi, nôn mữa, đau bụng, lách to, tiêu chảy,
khi điều trị người bệnh hồi phục sau 1 - 3 tuần.
Điều trị: đưa người bệnh đến cơ sở y tế gần nhất, dùng các thuốc điều trị đặc
hiệu cho vi khuẩn Salmonella và cung cấp điện giải
2.7.6 Đường lây lan của vi khuẩn Salmonella trong tự nhiên
Sự lây nhiễm và trú ẩn của Salmonella xảy ra mọi nơi và trên mọi đối tượng.
Sự xâm nhiễm của Salmonella vào cơ thể người và động vật và sự bài thải của
chúng từ những đối tượng trên tạo thành một vòng khép kín. Theo Walton (1972)
thì người hay động vật bị viêm dạ dày, ruột do nhiễm Salmonella có thể bài thải 108
vi khuẩn trong 1g phân, con vật hay người mang trùng bài thải 104 vi khuẩn trong
23
1g phân. Do đó, sự không cẩn thận trong vệ sinh ăn uống là con đường thích hợp
cho Salmonella xâm nhập vào mọi cơ thể sống.
Theo Bettye, Hobbs (1978) trong tự nhiên Salmonella lây nhiễm theo sơ đồ
sau:
Thức ăn gia
súc, gia cầm
Phân hữu cơ
Nông trại
Gia cầm
Trứng
Heo, trâu, bò
2.8.2 Chế độ thủy triều
Sông rạch tại thành phố Cần Thơ chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều
không đều, do vị trí xa biển làn sóng triều bị chiết giảm dần nên thời gian triều lên
(4,39 – 5,08 giờ) ngắn hơn thời gian triều xuống (6,36-8,35 giờ). Đỉnh triều trung
bình cao nhất vào tháng 10 đến tháng 12 (165-170 cm) thấp nhất vào tháng 5, tháng
6 (116-118 cm). Chân triều thấp nhất từ tháng 3 đến tháng 6 nên biên độ triều trong
tháng này xấp xỉ 2000 cm, thuận tiện cho việc tiêu thoát nước kể từ đầu mùa lũ
(tháng 7), biên độ triều trung bình giảm xuống còn khoảng 122-125 cm cho đến
tháng 11, gây khó khăn cho việc tiêu thoát nước mưa và kéo dài thời gian ngập tại
các vùng sâu (Trần Thị Diễm My, 2001).
2.9 Sơ lược về các điểm khảo sát
Điểm A : ao nước đầu ra của hầm biogas trại heo số 1
Trại heo số 1 nằm gần bên bờ sông Rạch Ngỗng gần lò mổ thành phố Cần
Thơ, trại có 5 ô chuồng , mỗi ô có diện tích khoảng 10 m2, số lượng heo trong trại là
16 con gồm: 3 nái và 13 heo thịt, nuôi ở 4 ô chuồng. Trại được xây dựng bằng bê
tông, mái lợp tole. Chất thải của trại cho vào túi ủ biogas kích thước khổ 1,4 m và
chiều dài 5 m, túi được đặt trong hố được xây bằng gạch, sau đó chất thải dẫn ra ao
và ra sông Rạch Ngỗng qua một mương hẹp.
Hình 1. Ao nước đầu ra của hầm Biogas trại heo số 1
Điểm B: ao nước thải trước khi chảy ra sông của lò mổ thành phố Cần Thơ
Chất thải của lò mổ theo hệ thống cống vào một bể tập trung, ở đây chất rắn
như lông, da… được tách ra đem đi nơi khác, nước thải cho vào hệ thống xử lí. Hệ
25