ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HÀ XUÂN MAI
NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ NÔNG THÔN TRONG PHÁT TRIỂN
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THO
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2018
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HÀ XUÂN
MAI
NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ NÔNG THÔN
TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHÙ NINH,
TỈNH PHÚ THO
Ngành: Kinh tế nông
nghiệp
Mã số: 8.62.01.15
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Người
nghiên cứu luận văn.
Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của UBND huyện Phù Ninh, các phòng,
ban ngành trong huyện và các xã đã nhiệt tình tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong
việc triển khai nghiên cứu và hoàn thành đề tài.
Xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và người thân trong gia đình đã quan tâm,
động viên, đóng góp ý kiến quý báu cho tôi trong quá trình hoàn thiện đề tài.
Xin chân thành cảm ơn!
Phú Thọ, tháng 01 năm 2018
Tác giả
Hà Xuân Mai
6
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN....................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN........................................................................................................... ii
MỤC LỤC................................................................................................................ iii
MỞ ĐẦU.................................................................................................................. 1
1. Tính cấp thiết của đề tài......................................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài.............................................................................. 2
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài............................................................... 3
3.1. Ý nghĩa khoa học................................................................................................ 3
3.2. Ý nghĩa thực tiễn................................................................................................ 3
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU..................................................................... 4
1.1. Một số vấn đề lý luận về phụ nữ và vai trò của phụ nữ nông thôn trong
phát triển kinh tế hộ........................................................................................ 4
1.1.1. Phụ nữ và vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội..................................... 4
1.1.2. Phụ nữ và vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ...............................10
3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ....................35
3.1.1. Điều kiện tự nhiên.......................................................................................... 35
3.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội................................................................................. 40
3.2. Thực trạng vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ trên
địa bàn huyện Phù Ninh................................................................................ 48
3.2.1. Phân tích số lượng và cơ cấu lao động nữ trên địa bàn huyện Phù Ninh........48
3.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc nâng cao vai trò của phụ nữ nông thôn
trong phát triển kinh tế.................................................................................. 68
3.3. Quan điểm và một số giải pháp nâng cao vai trò của phụ nữ nông thôn
trong phát triển kinh tế hộ trên địa bàn huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ........73
3.3.1. Quan điểm về việc nâng cao vai trò của phụ nữ............................................. 73
3.3.2. Giải pháp nâng cao vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh
tế hộ trên địa bàn huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.......................................... 74
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ............................................................................... 79
1. Kết luận............................................................................................................... 79
2. Kiến nghị............................................................................................................. 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................................... 83
PHỤ LỤC............................................................................................................... 80
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1.
Tình hình sử dụng đất đai của huyện Phù Ninh năm 2016.................38
Bảng 3.2.
Tình hình dân số và lao động huyện Phù Ninh...................................41
Bảng 3.4.
Bảng 3.13.
Phân công lao động trong hoạt động lâm nghiệp trong các hộ ở
các điểm nghiên cứu...........................................................................58
Bảng 3.14.
Phân công lao động trong việc đưa ra quyết định lớn trong gia đình.....60
Bảng 3.15.
Nguồn tiếp cận thông tin của phụ nữ ở điểm nghiên cứu...................61
Bảng 3.16.
Tỷ lệ tham gia các lớp tập huấn..........................................................62
Bảng 3.17.
Đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất..........................63
Bảng 3.18.
Tình hình quản lý tài chính của hộ tại vùng nghiên cứu.....................64
Bảng 3.19.
Thực hiện các biện pháp kế hoạch hóa gia đình.................................66
những đóng góp to lớn vào sự phát triển kinh tế - xã hội của toàn huyện. Tuy nhiên,
sự đóng góp đó lại chưa được ghi nhận một cách xứng đáng, chưa tương xứng với
vị trí, vai trò của họ trong nên kinh tế, trong các quan hệ xã hội và trong đời sống
gia đình. Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường phụ nữ phải “nặng gánh hai vai”, vừa
phải làm tốt công việc xã hội, vừa đảm nhiệm vai trò làm vợ, làm mẹ trong khi sức
khỏe lại hạn chế,… để cố gắng làm tốt, họ phải nỗ lực và hy sinh.
Qua quá trình công tác và nghiên cứu liên quan đến phụ nữ, chúng tôi nhận
thấy việc nghiên cứu về vai trò của phụ nữ nông thôn miền núi huyện Phù Ninh tỉnh
Phú Thọ trong việc phát triển kinh tế được đặt ra như một yêu cầu cấp bách. Nhiều
câu hỏi đặt ra cho bản thân, cho các cấp: Thực trạng vai trò của phụ nữ nông thôn
trong phát triển kinh tế hộ gia đình hiện nay ra sao? Những yếu tố nào tác động đến
việc nâng cao vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ? Giải pháp
nào nhằm tháo gỡ những khó khăn trong quá trình nâng cao năng lực cho phụ nữ
nông thôn?
Vì vậy, nghiên cứu về vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ
gia đình tại huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ được đặt ra như một yêu cầu cấp bách đối
với tổ chức Hội phụ nữ.
Để nhận thức sâu sắc về những tiềm năng to lớn của phụ nữ, những cản trở sự
tiến bộ của phụ nữ trong quá trình đổi mới và phát triển kinh tế nông thôn, tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài “Nâng cao vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển
kinh tế hộ trên địa bàn huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ”.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1. Mục tiêu chung
Đề tài đi sâu nghiên cứu thực trạng vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát
triển kinh tế hộ gia đình, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của
phụ nữ nông thôn, góp phần nâng cao đời sống của các hộ gia đình, xây dựng nông
thôn mới và phát triển kinh tế xã hội bền vững, qua đó thúc đẩy sự phát triển nông
nghiệp nông thôn theo xu hướng đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm góp
Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Một số vấn đề lý luận về phụ nữ và vai trò của phụ nữ nông thôn trong
phát triển kinh tế hộ
1.1.1. Phụ nữ và vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội
1.1.1.1. Giới tính và giới
* Khái niệm Giới tính và Giới
Giới tính: là một khái niệm xuất phát từ môn sinh vật học, chỉ sự khác biệt
giữa nam và nữ về mặt sinh học. Con người sinh ra đã có những đặc điểm về giới
(bẩm sinh). Mọi người đàn ông hay đàn bà trên thế giới đều có những đặc điểm giới
tính giống nhau (tính đồng nhất), ví dụ mang thai là đặc điểm giới tính của phụ nữ
[Trần thị Quế, 2006].
Giới: Là một thuật ngữ xã hội học, nói đến vai trò, trách nhiệm và quan hệ xã
hội giữa nam và nữ. Giới đề cập đến việc phân công lao động, phân chia nguồn lực
và lợi ích giữa nam và nữ trong một bối cảnh xã hội cụ thể. Giới được hình thành do
học và giáo dục, không đồng nhất, khác nhau ở mỗi nước, mỗi địa phương, thay đổi
theo thời gian, theo quá trình phát triển kinh tế xã hội [Trần thị Quế, 2006].
Khái niệm về “Giới” được xuất hiện ban đầu là các nước nói tiếng anh, vào
khoảng những năm 60 của thế kỷ XX… Ở Việt Nam, khái niệm này mới xuất hiện
vào khoảng thập kỷ 80.
Giới là một thuật nữ xã hội học bắt nguồn từ nhân học, nói đến vai trò, trách
nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ. Giới đề cập đến vấn đề phân
công lao động, các kiểu phân chia nguồn lực và lợi ích giữa nam và nữ trong một
bối cảnh cụ thể [Bùi Thị Kim, 2008].
Giới là yếu tố luôn biến đổi cũng như tương quan về dịa vị trong xã hội của
nữ giới và nam giới, không phải là hiện tượng bất biến và liên tục thay đổi. Nó phụ
không giống nhau để tiếp cận cái mới, họ có những thuận lợi, khó khăn với tính
chất và mức độ khác nhau để tham gia vào các chương trình kinh tế, từ góc độ nhận
thức, nắm bắt thông tin xã hội. Trong nền kinh tế hội nhập quốc tế, từ điều kiện và
cơ hội được học tập, tiếp cận việc làm và làm việc, từ vị trí trong gia đình, ngoài xã
hội khác nhau, từ tác động của định kiến xã hội, các hệ tư tưởng, phong tục tập quán
đối với mỗi giới cũng khác nhau. [Trần Thị Vân Anh, 2001]
* Nhu cầu lợi ích giới và bình đẳng giới
- Nhu cầu giới: là những nhu cầu xuất phát từ công việc và hoạt động hiện tại của
phụ nữ và nam giới. Nếu những nhu cầu này được đáp ứng thì sẽ giúp cho họ làm
tốt vai trò sẵn có của mình [Trần thị Quế,2006].
- Lợi ích giới (còn gọi là nhu cầu chiến lược): là những nhu cầu của phụ nữ và nam
giới xuất phát từ sự chênh lệch về địa vị xã hội của họ. Những lợi ích này khi được
đáp ứng sẽ thay đổi vị thế của phụ nữ theo hướng bình đẳng [Trần thị Quế, 2006].
- Bình đẳng giới: nam giới và nữ giới được coi trọng như nhau, cùng được công
nhận và có vị thế bình đẳng [Trần thị Quế, 2006].
Nam giới và phụ nữ được bình đẳng về:
+ Các điều kiện để phát huy đầy đủ tiềm năng
+ Các cơ hội để tham gia vào đóng góp, hưởng lợi trong quá trình phát triển.
+ Quyền tự do và chất lượng cuộc sống
* Vai trò của giới:
- Vai trò sản xuất: là những hoạt động do phụ nữ và nam giới thực hiện để làm ra
của cải vật chất hoặc tinh thần đem lại thu nhập hoặc để tự tiêu dùng. Ví dụ: trồng
lúa, nuôi gà, dạy học,…
- Vai trò tái sản xuất (còn gọi là công việc gia đình): Bao gồm các hoạt động nhằm
duy trì nói giống, tái tạo sức lao động. Vai trò này không chỉ đơn thuần là tái sản
xuất sinh học, mà còn cả việc chăm lo, duy trì, phát triển lực lượng lao động cho
hiện tại và tương lai như: nuôi dạy con cái, nuôi dưỡng các thành viên trong gia
đình, làm công việc nội trợ,… vài trò này hầu như của người phụ nữ.
gán cho một địa vị cụ thể mà địa vị là một sự xác định vị trí xã hội trong một cơ cấu
xã hội.
+ Xã hội: xã hội là một tập thể hay một nhóm những người được phân biệt
với các nhóm người khác bằng các lợi ích, mối quan hệ đặc trưng, chia sẻ cùng một
thể chế và có cùng văn hóa.
+ Phát triển xã hội: Phát triển xã hội có nội hàm rộng nhất bao gồm phát triển
tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội nhằm chuyển xã hội từ trạng thái này sang
trạng thái khác theo hướng xây dựng xã hội phát triển dân chủ, văn minh, tiến bộ,
đảm bảo cuộc sống văn minh vật chất và tinh thần của con người, tất cả vì hạnh
phúc của con người. Theo đó, tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội từ chính trị,
kinh tế, văn hóa, xã hội đều phải được tôn trọng, quản lý phát triển nhằm bảo đảm
quyền con người, bảo đảm tự do và công bằng, thoả mãn nhu cầu nâng cao đời sống
vật chất, tinh thần của mọi thành viên trong xã hội.
+ Vai trò giới là những quan niệm văn hóa xã hội được thống nhất tại địa
phương về chức năng tác dụng của phụ nữ và nam giới, mà tại địa phương đó được
coi là thông thường và phù hợp.
Vai trò giới có thể thay đổi được theo thời gian, cùng với sự phát triển của xã
hội, nhanh hay chậm tùy và sự tác động tích cực của mỗi giới, mỗi cá nhân.
Vai trò các thành viên trong gia đình phụ thuộc lẫn nhau. Vai trò sản xuất
của nam giới thường đưa vào vai trò tái sản xuất của phụ nữ. Thường nam giới có
thì giờ rảnh rang để làm công tác chuyên môn hoặc hoạt động chính trị là vì vợ
ông ta lo công việc nội trợ trong gia đình và chăm sóc các con. Hơn nữa, do phụ nữ
là người thực hiện chính các vai trò sinh sản và nuôi dưỡng, nên giá trị công việc
của phụ nữ thường không được xã hội và các nhà lập chính sách đánh giá đầy đủ
[Đỗ Thị Bình, 2003].
* Vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội:
Gia đình là một tế bào của xã hội và tồn tại cùng với sự tồn tại của xã hội.
Người phụ nữ là người thiết tha nhất với hạnh phúc gia đình, đóng vai trò rất quan
tỉnh là 25,2%, cấp huyện là 24,6%, cấp xã là 21,7% [18].
Về dân số, lao động và kinh tế, nữ giới cũng chiếm tỷ lệ cao và có vai trò rất
quan trọng về kinh tế. Trong tổng lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên, nữ giới
chiếm 48,5%. Trong tổng số lao động làm việc ở các doanh nghiệp của cả nước, nữ
giới chiếm 42,1%. Tỷ lệ nữ làm việc trong một số ngành chiếm tỷ trọng lớn, như
dệt may trên 70%, nông lâm thủy sản 53,7%, thương mại… Tỷ lệ nữ tham gia quản
lý, điều hành doanh nghiệp là hơn 20%, khá cao so với khu vực và trên thế giới;
những doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ thường có sự phát triển toàn diện, bền vững
hơn và tham gia tốt hơn trong công tác xã hội. Thu nhập bình quân đầu người một
tháng của hộ gia đình do nữ làm chủ hộ cao hơn 22,4% so với con số tương ứng của
hộ do nam giới làm chủ hộ [18].
Về giáo dục đào tạo, nữ giới có nhiều đóng góp to lớn. Giáo viên, một chủ
thể quan trọng của lĩnh vực này thì nữ giới chiếm tỷ lệ khá cao: chiếm tỷ lệ gần như
tuyệt đối ở hệ mẫu giáo; chiếm 70,9% bậc phổ thông; chiếm 48,9% giảng viên đại
học, cao đẳng; 41,2% giảng viên trung cấp chuyên nghiệp. Tỷ lệ nữ học sinh phổ
thong đạt 49,4%; nữ sinh viên đại học, cao đẳng đạt 49.4%, trung cấp chuyên
nghiệp đạt 53,7% [18].
Đạt được kết quả trên do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân từ
đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước sớm xác định nam nữ
bình quyền từ khi Đảng ra đời, từ Hiến pháp 1946, từ năm 1982 khi Việt Nam phê
chuẩn Công ước xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, từ năm 2006
thông qua luật Bình đẳng giới, năm 2007 thông qua Luậh nhân và gia đình, Nghị
quyết 11 - NQ/TW của Bộ Chính trị, Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới 2011 2020… có nguyên nhân từ sự cố gắng của các ngành, các cấp, các đoàn thể xã hội
và của người dân.[20]
Bên cạnh những kết quả tích cực, về bình đẳng giới vẫn còn những hạn chế,
bất cập và đứng trước những thách thức không nhỏ. Bao trùm nhất là tư tưởng định
kiến trọng nam kinh nữ. Việc thực hiện trong thực tế còn có khoảng cách với quy
định pháp luật. Định kiến giới còn khá phổ biến trong mọi đối tượng, trên nhiều
hội, điều kiện sống khác biệt với thành thị và dân cư chủ yếu làm nông nghiệp
[Quyền Đình Hà (2004)].
1.1.2.2. Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ
Có thể nói người phụ nữ trong giai đoạn hiện nay trở thành một chủ thể quan
trọng trong đời sống các gia đình. Họ cũng là người lao động trong lĩnh vực buôn
bán dịch vụ góp phần tạo nên nguồn thu tiền mặt cho gia đình. Cùng với chồng,
người vợ cũng trở thành người tạo ra nguồn thu nhập chính. Ở nông thôn khi mà
người chồng đi làm thuê xa kiếm tiền cho gia đình thì người vợ trở thành người lao
động chính, họ là chủ thể chính phát triển kinh tế hộ nông dân ở nông thôn. Ở thành
phố, phụ nữ là lực lượng chính phát triển buôn bán - dịch vụ. Và khi là người làm
trong các công sở thì lương tháng của họ cũng như lương của đồng nghiệp nam.
Hiện nay thật khó khẳng định một cách chung chung rằng người đóng vai trò quan
trọng nhất trong gia đình là người chồng hay người vợ.
Hiện nay có nhiều chương trình hành động thiết thực, vận động phụ nữ cả
nước tham gia tích cực vào công cuộc xóa đói giảm nghèo. Qua các phong trào thi
đua với sự tham gia chủ động tích cực của chính bản thân các chị em phụ nữ như
phong trào “phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế gia đình”, “Ngày tiết kiệm vì phụ
nữ nghèo”, … với nội dung chủ yếu là vận động phụ nữ tương trợ giúp đỡ lẫn nhau
trên tinh thần “ai có gì giúp nấy, người khó ít giúp người khó nhiều”, với nội dung,
thình thức phù hợp đã thu hút đông đảo các chị em phụ nữ tham gia, trở thành
phong trào quần chúng rộng lớn trong cả nước.
Cùng với hoạt động giúp đỡ nhau trong sản xuất, phong trào “nhà tình
thương” đã được cấp các Hội triển khai ở tất cả các tỉnh, thành dưới nhiều hình
thức: góp tiền, công lao động, vật liệu xây dựng… Với sự chung tay của cộng đồng
và phụ nữ cả nước.
Trong thực tế phụ nữ Việt Nam đang có mặt ở hầu hết các cơ quan quản lý
hành chính, sự nghiệp và doanh nghiệp. Phụ nữ chiếm 50,3% số người làm công ăn
lương và 32,4% các chủ doanh nghiệp.
hành động lẫn tinh thần, gia đình và xã hội cũng cần có những trợ giúp để họ thực
hiện tốt hơn vai trò của mình
1.1.3.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế
nông thôn
* Quan niệm về giới, những phong tục tập quán ở Việt Nam và một số nước Á Đông:
Phụ nữ trước hết phải lo việc gia đình, con cái. Dù làm bất kỳ công việc gì, thì việc
nội trợ vẫn là trách nhiệm của họ, đây là một quan niệm ngự trị ở nước ta từ nhiều
năm nay. Sự tồn tại những hủ tục lạc hậu, trong nam kinh nữ đã kìm hãm tài năng
sáng tạo của phụ nữ, hạn chế sự cống hiến của họ cho xã hội và cho gia đình. Việc
mang thai, sinh đẻ, nuôi dưỡng con nhỏ và làm nội trợ gia đình đè nặng lên đôi vai
người phụ nữ. Đây là trở ngại lớn cho họ tập trung sức lực, thời gian, trí tuệ vào sản
xuất và các hoạt động chính trị, xã hội. Vì vậy nhiều chị em trở nên không mạnh
bạo, không năng động sáng tạo bằng nam giới và gặp nhiều khó khăn trong giao
tiếp xã hội. Phong tục tập quán là một nguyên nhân cơ bản cản trở phụ nữ tham gia
vào quá trình phát triển kinh tế [Trần Thị Vân Anh, (2001)].
* Trình độ học vấn, chuyên môn, khoa học kỹ thuật của lao động nữ còn nhiều
hạn chế:
Ở nông thôn, đặc biệt là miền núi phương tiện thông tin nghe nhìn và sách
báo đến với người dân còn rất nhiều hạn chế, do vậy việc lao động nữ tiếp cận và
nắm bắt các thông tin kỹ thuật về chăn nuôi, trồng trọt còn gặp nhiều khó khăn.
Ngoài thời gian lao động sản xuất, người phụ nữ dường như ít có thời gian dành cho
nghỉ ngơi hoặc hưởng thụ văn hóa tình thần, học hỏi nâng cao hiểu biết kiến thức xã
hội mà họ phải giành phần lớn thời gian còn lại cho công việc gia đình. Do vậy, phụ
nữ bị hạn chế về kỹ thuật chuyên môn và sự hiểu biết xã hội. Phụ nữ ở độ tuổi lao
động có trình độ chuyên môn kỹ thuật là 6%, còn ở nam giới tỷ lệ này là 10% .
Theo thông báo của Liên hiệp quốc thì hiện nay thế giới còn hơn 840 triệu người bị
mù chữ, trong đó nữ giới chiếm 2/3; trong số hơn 180 triệu trẻ em không được đi
học thì có tới 70% là trẻ em gái.
biệt quan trọng trong phát triển của nhân loại. Song có nhiều nguyên nhân gây cản
trở sự tiến bộ của họ trong cuộc sống.
1.1.4. Một số vấn đề đặt ra với phụ nữ nông thôn
1.1.4.1. Về chuyên môn kỹ thuật
Quá trình chuyển đổi nền kinh tế theo hướng thị trường trong những năm gần
đây đã thực sự giải phóng lao động và đặc biệt là lao động nữ ở nông thôn thoát ra
khỏi những ràng buộc của cơ chế kế hoạch hóa tập trung, nhưng chưa thực sự giải
phóng họ khỏi những ràng buộc của thể chế và tập quán của nền kinh tế truyền
thống, cùng với những thiếu hụt cả về năng lực và điều kiện của lao động nữ trong
sản xuất, kinh doanh. Sự nghiệp công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn không thể
thành công nếu người dân ở nông thôn chỉ có kinh nghiệm được tích lũy theo năm
tháng mà thiểu hiểu biết về khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới. Với phụ nữ nông
thôn hiện nay, trong quá trình sản xuất kinh doanh, họ có một quan điểm nổi bật là
sự khéo léo, sự tính toán giỏi giang và thành đạt chủ yếu dựa vào kinh nghiệm cá
nhân của mỗi người, số thành công đó được học hành, đào tạo chưa nhiều. Nhược
điểm này sẽ là một hạn chế không nhỏ trong việc phát huy nguồn nhân lực nữ để
phát triển nông thôn.
1.1.4.2. Sự bất bình đẳng giới trong tiếp cận nguồn lực và ra quyết định
Cho dù đã có những thành tựu đáng kể trong lĩnh vực bình đẳng giới nhưng
vẫn phải thừa nhận rằng bất bình đẳng giới vẫn đang tồn tại ở Việt Nam - đây là lực
cản cơ bản của sự phát triển tự nhiên. Cũng như nhiều nước trên thế giới, ở Việt
Nam, những trở lực của bất bình đẳng giới là: sự hạn chế của phụ nữ trong tiếp cận
các nguồn lực sản xuất đất đai, các dịch vụ khuyến nông và tín dụng. Phụ nữ ít được
tham gia trong các lĩnh vực, các cấp, ít có tiếng nói quyết định trong nhiều lĩnh vực
của đời sống gia đình, xã hội, ít nhiều còn bị phân biệt trong tiếp cận các phúc lợi
về y tế, giáo dục [Trần Thị Vân Anh, (2001)].
* Vấn đề tiếp cận đất đai
Đối với người dân Việt Nam, nhà cửa, đất đai bao giờ cũng có giá trị lớn và
về cư trú bên bố mẹ chồng và khi ra ở riêng có thể được gia đình bố mẹ chồng chia
sẽ một phần đất canh tác. Song, nếu như cuộc sống hôn nhân này bị đổ vỡ thì hầu
như khó đảm bảo quyền sử dụng đất đai của người phụ nữ sau khi li dị. Người phụ
nữ góa cũng gặp không ít rắc rối về việc được đứng tên trong giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, vì nếu trong gia đình có người con trai lớn thì nhiều khả năng
tên của người con trai sẽ được ghi vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chứ
không phải tên người phụ nữ.
* Tiếp cận về vốn
Cung cấp tín dụng không chỉ là một phương tiện quan trọng để xóa đói giảm
nghèo mà là phương tiện để tăng thu nhập và phát triển kinh tế nông thôn lâu dài.
Tuy vậy, phần lớn tín dụng hiện nay là do khu vực phi chính thức, và phụ nữ ít có
cơ hội tiếp cận với các khoản vay chính thức hơn so với nam giới, 2/3 số người vay
vốn là nam giới. Đối với phụ nữ chỉ có 18% số vốn vay được cung cấp thông qua
khu vực chính thức, còn lại nguồn tín dụng phổ biến nhất là từ họ hàng và các cá
nhân khác. Việc vay vốn từ nguồn cá nhân dẫn tới việc chịu lãi suất cao và đối với
phụ nữ điều cùng cũng phản ánh họ thiếu khả năng tiếp cận với khoản vay thế chấp.
Trong khi 41% số khoản vay của nam giới dựa trên thế chấp tài sản, thì khoản vay
của phụ nữ chỉ chiếm 27% [Trần Thị Vân Anh, (2001)].
* Vấn đề tiếp cận giáo dục, đào tạo
Hơn 90% phụ nữ biết đọc, biết viết. Tỷ lệ nữ tốt nghiệp đại học là 36,24%;
thạc sĩ 33,95%; tiến sĩ 25,69%. Ngay trong giới báo chí, tỷ lệ các nhà báo nữ cũng
ước tính gần 30%. Phụ nữ chiếm ưu thế trong một số ngành như giáo dục, y tế,
và dịch vụ. Trong công tác chuyên môn, phụ nữ chiếm số đông trong các bộ môn
văn học, ngôn ngữ, y dược, khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và kinh tế. Nếu tính
tổng số giờ làm việc của nữ giới (kể cả ở nhà và bên ngoài) cao hơn nhiều so với
nam giới [Trần Thị Vân Anh, (2001)].
* Vấn đề việc làm và thu nhập của phụ nữ
Có tới 71% phụ nữ từ 13 tuổi trở lên là những người có thu nhập. Số hộ
nghèo do phụ nữ làm chủ đã giảm từ 37% năm 1999 xuống còn 8% năm 2010 …