ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
BÙI THỊ KIM TUYẾN
Tên chuyên đề
ÁP DỤNG QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG, PHÒNG, TRỊ BỆNH
SINH SẢN CHO ĐÀN LỢN NÁI NUÔI TẠI TRẠI HUY TOAN,
HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành/Ngành: Chăn nuôi Thú y
Lớp: LT CNTY K47
Khoa: Chăn nuôi Thú y
Khóa học: 2015 - 2017
Thái Nguyên - năm 2017
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
BÙI THỊ KIM TUYẾN
Tên chuyên đề
ÁP DỤNG QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG, PHÒNG, TRỊ BỆNH
SINH SẢN CHO ĐÀN LỢN NÁI NUÔI TẠI TRẠI HUY TOAN,
HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
ủng hộ, động viên, giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài.
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017
Sinh viên
Bùi Thị Kim Tuyến
ii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................... i
MỤC LỤC ........................................................................................................ ii
PHẦN 1: MỞ ĐẦU.......................................................................................... 1
1.1. Mở đầu .................................................................................................... 1
1.2. Mục đích và yêu cầu ............................................................................... 2
1.2.1. Mục đích ........................................................................................... 2
1.2.2. Yêu cầu ............................................................................................. 2
PHẦN 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ...................................................... 3
2.1. Điều kiện cơ sở thực tập ......................................................................... 3
2.1.1. Vị trí địa lý ........................................................................................ 3
2.1.2. Điều kiện khí hậu .............................................................................. 3
2.1.3. Cơ cấu tổ chức của trại ..................................................................... 4
2.1.4. Cơ sở vật chất của trại....................................................................... 4
2.1.5. Thuận lợi và khó khăn của trại ......................................................... 6
2.2. Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong, ngoài nước có
liên quan đến nội dung của chuyên đề ........................................................... 6
2.2.1. Đối với lợn nái .................................................................................. 6
2.2.2. Đặc điểm sinh lý của lợn con.......................................................... 20
2.2.3. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước..................................... 27
Bảng 4.3. Kết quả thực hiện một số thao tác kỹ thuật trên đàn lợn con .......... 34
Bảng 4.4. Phòng bệnh bằng phương pháp vệ sinh, sát trùng tại trại ............... 35
Bảng 4.5. Kết quả thực hiện quy trình phòng bệnh sinh sản cho đàn lợn
nái nuôi tại trại Huy Toan, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên .......... 36
Bảng 4.6. Kết quả phòng bệnh cho đàn lợn con nuôi tại trại........................... 37
Bảng 4.7. Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn con ............................................ 39
Bảng 4.8. Kết quả điều trị bệnh sinh sản cho đàn lợn nái nuôi tại trại
Huy Toan, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên .................................... 40
1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Mở đầu
Hiên nay, trong điều kiện nền nông nghiệp và phát triển về bình ổn
lương thực cũng là cơ sở và điều kiện để phát triển ngành chăn nuôi, đặc
biệt là chăn nuôi lợn. Để thúc đẩy ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi
lợn nói riêng, đảng và nhà nước ta đã đưa ra những kế hoạch phát triển bền
vững cho ngành chăn nuôi, trong đó ngành chăn nuôi lợn ngày càng được
chú trọng hơn.
Đảng và nhà nước đã đưa ra những chính sách hỗ chợ cho các trung tâm
nghiên cứu công tác giống để kiểm tra và thử nghiệm các giống mới và các
giống lai phù hợp để cải tiến nguồn gen, tạo ra những thực phẩm có giá trị
dinh dưỡng cao, cung cấp nguyên liệu, nâng cao thu nhập cải thiện cho đời
sống của người nông dân. Do vậy, mức đầu tư của xã hội cho chăn nuôi ngày
càng cao, tăng lên cả về số lợng, chất lượng và cơ cấu sản phẩm.
Để phát triển chăn nuôi ngoài áp dụng những kỹ thuật chăn nuôi tiên
tiến thì con giống cũng là một trong những khâu quan trọng, để có được
những con giống tốt, đạt năng xuất cao thì khâu chăm sóc và phòng bệnh cho
lợn nái cũng là một trong những vấn đề được quan tâm hiện nay.
quy trình phòng, trị bệnh sinh sản cho đàn lợn nái nuôi tại trại.
3
PHẦN 2
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1. Điều kiện cơ sở thực tập
2.1.1. Vị trí địa lý
Trang trại chăn nuôi của ông Nguyễn Hữu Huy được xây dựng năm
2016, là trang trại của doanh nghiệp tư nhân thương mại Huy Toan với quy
mô 140 lợn bố mẹ. Trang trại được xây dựng trên địa bàn xã Thanh Yên,
huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
Xã ThanhYên nằm cách trung tâm thành phố trên 7 km, là một xã nằm ở
phía tây nam của tỉnh Điện Biên. Phía bắc huyện Điện Biên giáp huyện Mường
Chà, huyện Mường Ẳng, phía đông giáp huyện Tuần Giáo, Mường Ẳng và tỉnh
Sơn La. Phía tây giáp nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. Phía nam giáp
huyện Sốp Cộp tỉnh Sơn La và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào.
Huyện có cửa khẩu Tây Trang, xã Na ư, sang giáp với nước bạn Lào,
thuận tiện cho giao lưu văn hóa, giao thương, thương mại hàng hóa với nước
bạn. Điều kiện địa lý của xã rất thuận lợi cho việc giao thông, vận chuyển
thức ăn cũng như việc buôn bán, vận chuyển hàng hóa của trại.
2.1.2. Điều kiện khí hậu
Huyện Điện Biên chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa. Do đó,
trại lợn của ông Nguyễn Hữu Huy cũng chịu ảnh hưởng chung của khí hậu
vùng, nhiệt độ thay đổi theo mùa rõ rệt.
Huyện Điện Biên có khí hậu nhiệt đới gió mùa núi cao, mùa đông tương đối
lạnh và ít mưa, mùa hạ nóng, mưa nhiều với các đặc tính diễn biến thất thường.
Khí hậu phân hóa đa dạng chịu ảnh hưởng của gió tây khô và nóng. Nhiệt
độ trung bình hàng năm từ 21oC đến 23oC, nhiệt độ trung bình thấp thường vào
tháng 12 đến tháng 2 năm sau, nhiệt độ từ 14oC đến 18oC, các tháng có nhiệt độ
được lắp đặt theo dãy.
- Có hệ thống quạt gió, dàn mát, điện sáng, vòi uống nước cho lợn tự động.
5
- Có hệ thống đèn điện sưởi ấm cho lợn con vào mùa đông.
- Ngoài ra, trại còn có một máy phát điện công suất lớn đủ cung cấp điện
cho cả trại sinh hoạt và hệ thống chuồng nuôi những khi mất điện.
- Về cơ sở hạ tầng:
+ Trại được xây dựng rất khoa học và hiện đại. Trước cổng có hố sát
trùng bằng vôi, có vòi phun sát trùng cho phương tiện ra vào trại. Trại được
xây dựng gồm các khu riêng biệt: khu nhà ở, sinh hoạt của công nhân, sinh
viên và khu chuồng nuôi.
+ Khu nhà ở rộng rãi có đầy đủ nhà tắm, nhà vệ sinh tiện nghi. Khu nhà
dành cho quản lý trại có phòng khách để đón tiếp khách. Tất cả các phòng ở
của công nhân và kỹ sư đều được xây dựng.
+ Bên trái khu chuồng nuôi là kho chứa cám, bên phải là nhà ăn trưa cho
công nhân và kỹ sư trại.
+ Trại được xây dựng trên khu dất rộng và tương đối bằng phẳng với
diện tích 7 ha với 8 dãy chuồng lớn chạy dài lợp mái tôn. Mỗi 1 dãy lớn lại
được chia làm 2 dãy chuồng nhỏ.
+ Khu chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn, dễ thoát nước và được bố
trí tách biệt với khu sinh hoạt gồm: 2 chuồng đẻ, 2 chuồng lợn có chửa, dãy
chuồng lợn đực cùng với chuồng phối. Chuồng nuôi được xây dựng theo
hướng Đông - Tây, Nam - Bắc đảm bảo thoáng mát về mùa hè và ấm áp về
mùa đông. Chuồng nuôi xây dựng theo kiểu 2 mái gồm 8 dãy chuồng chạy
dài. Trong đó có 2 dãy chuồng đẻ, mỗi dãy được tách ra làm 2 chuồng nhỏ
với 48 ô chuồng sàn. Chuồng lợn có chửa gồm 2 chuồng với kiểu chuồng cũi
sắt. Các chuồng nuôi đều được lắp đặt hệ thống điện chiếu sáng và hệ thống
vòi uống nước tự động ở mỗi ô chuồng. Phía đầu chuồng là hệ thống giàn
* Giống lợn Yorkshire
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [25], giống lợn này được hình thành
ở vùng Yorkshire của nước Anh. Lợn Yorkshire có lông trắng ánh vàng (một số
7
con có đốm đen), đầu cổ hơi nhỏ và dài, mõm thẳng và dài, mặt rộng, tai to trung
bình và hướng về phía trước, mình dài, lung hơi cong, bụng gọn chân dài chắc
chắn, có 14 vú.
Lợn Yorkshire có tốc độ sinh trưởng, phát dục nhanh, khối lượng khi
trưởng thành lên tới 300 kg (con đực), 250 kg (con cái).
Lợn Yorkshire có mức tăng khối lượng bình quân 700 g/con/ngày, tiêu
tốn thức ăn trung bình khoảng 3,0 kg/kg tăng khối lượng, tỷ lệ nạc 56%.
Lợn có khả năng sinh sản cao, trung bình 10 - 12 con/lứa, khối lượng sơ
sinh trung bình 1,2 kg/con.
* Giống lợn Landrace
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [25], giống lợn này được tạo ra ở
Đan Mạch năm 1895.
Lợn có năng suất cao, sinh trưởng nhanh, tiêu tốn thức ăn 3,0 kg/kg tăng
khối lượng, tăng khối lượng bình quân 750 g/con/ngày. Tỷ lệ nạc 59%. Khối
lượng lợn trưởng thành có thể lên tới 320 kg (con đực), 250 kg (con cái).
Lợn Landrace có khả năng sinh sản khá cao và nuôi con khéo.
Đây là giống lợn chuyên hướng nạc và dùng để lai kinh tế.
Nguyễn Văn Thắng và Nguyễn Thị Xuân (2016) [32] cho biết, một trong
những giải pháp nâng cao năng suất lợn nái là sử dụng nhiều giống lợn lai tạo
với nhau. Trong đó, phương pháp lai giữa hai giống lợn ngoại Landrace và
Yorkshire và ngược lại, tạo ra con lai có ưu thế lai cao về nhiều tiêu chí sinh
sản, trở thành một tiến bộ trong thực tế sản xuất.
2.2.1.2. Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái
* Đặc điểm cấu tạo bộ máy sinh dục của lợn nái:
thành thục sớm hơn những con nuôi nhốt trong chuồng 14 ngày (mùa xuân)
và 17 ngày (mùa thu). Mùa đông, thời gian chiếu sáng trong ngày thấp hơn so
với các mùa khác trong năm, bóng tối cũng làm chậm tuổi thành thục về tính
so với những biến động ánh sáng tự nhiên hoặc ánh sáng nhân tạo 112 giờ
mỗi ngày.
9
+ Mật độ nuôi nhốt: Mật độ nuôi nhốt đông trên 1 đơn vị diện tích trong
suốt thời gian phát triển sẽ làm chậm tuổi động dục. Nhưng cần tránh nuôi lợn
hậu bị tách biệt đàn trong thời kỳ phát triển. Kết quả nghiên cứu của Hughes
và James (1996) [39] cho thấy, việc nuôi nhốt lợn cái hậu bị riêng từng cá thể
sẽ làm chậm lại thành thục tính so với lợn được nuôi nhốt theo nhóm. Bên
cạnh những yếu tố trên thì đực giống cũng là một trong những yếu tố ảnh
hưởng đến tuổi động dục của lợn cái hậu bị. Nếu lợn hậu bị thường xuyên tiếp
xúc với đực giống sẽ nhanh động dục hơn lợn hậu bị không tiếp xúc với lợn
đực giống. Ở 165 ngày tuổi cho lợn hậu bị tiếp xúc 2 lần/ngày với lợn đực,
mỗi lần tiếp xúc 15 - 20 phút thì tới 83% lợn động dục lần đầu (Muirhead M.,
Alexander T., 2010) [46].
+ Giống: Các giống khác nhau thì tuổi thành thục về tính cũng khác
nhau. Theo Phạm Hữu Doanh và cs (2003) [6], tuổi thành thục tính ở lợn nái
nội thuần chủng (Ỉ, Móng Cái) thường ở tháng thứ 4, thứ 5 (120 - 150 ngày
tuổi), lợn Landrace, Yorkshire tuổi thành thục về tính là từ 6 - 7 tháng.
+ Chu kỳ tính: Từ khi thành thục về tính, những biểu hiện tính dục của
lợn được diễn ra liên tục và có chu kỳ. Do trứng rụng có tính chu kỳ nên động
dục cũng theo chu kỳ (Khuất Văn Dũng, 2005) [8].
- Hiện tượng rụng trứng:
Noãn bào dần dần lớn lên. Nổi rõ trên bề mặt của buồng trứng. Dưới tác
dụng của thần kinh, hormone, áp suất. Noãn bào vỡ giải phóng ra tế bào
trứng, đồng thời thải ra dịch folliculin. Hiện tượng giải phóng tế bào trứng ra
sữa giảm, chăm chú tới xung quanh, gặp con đực không kháng cự, biểu hiện
này tăng lên về cường độ cho đến khi tế bào trứng rụng.
- Tính hưng phấn:
Thường kết hợp song song với tính dục, con vật có một loạt biến đổi về
bên ngoài, thường không yên, chủ động đi tìm con đực, kêu rống, kém ăn,
đuôi cong và chịu đực, hai chân sau thường ở tư thế giao phối. Cao độ nhất
là lúc tế bào trứng rụng. Khi đã rụng tế bào trứng thì tính hưng phấn giảm đi
rõ rệt.
11
* Chu kỳ động dục:
Theo Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn (2006) [31] cho biết, chu kỳ động
dục của gia súc chia làm 4 giai đoạn sau:
- Giai đoạn trước động dục:
Đây là giai đoạn đầu của chu kỳ sinh dục lúc này buồng trứng to hơn
bình thường. Các tế bào của vách ống dẫn trứng tăng cường sinh trưởng, số
lượng lông nhung tăng lên. Đường sinh dục xung huyết, nhu động sừng tử
cung tăng lên, dịch nhầy ở âm đạo tăng nhiều. Giai đoạn này tính hưng phấn
chưa cao.
Khi noãn bào chín, tế bào trứng được tách ra, sừng tử cung co bóp mạnh,
cổ tử cung mở hoàn toàn. Niêm dịch ở đường sinh dục chảy ra nhiều lúc này
con vật bắt đầu xuất hiện tính dục.
- Giai đoạn động dục:
Theo Phạm Khánh Từ và cs (2014) [36], thời gian của giai đoạn này
được tính từ khi tế bào trứng tách khỏi noăn bao các biến đổi của cơ quan sinh
dục lúc này rõ rệt nhất, niêm mạc âm hộ xung huyết, phù thũng rõ rệt, niêm
dịch trong suốt chảy ra ngoài nhiều, con vật biểu hiện tính hưng phấn cao độ:
Con cái đứng nằm không yên, phá chuồng, ăn uống giảm hẳn, kêu rít, đứng
trong trạng thái ngẩn ngơ, ngơ ngác, đái rắt, luôn nhảy lên lưng con khác hoặc
phân, tra cám cho lợn, rửa máng, phun thuốc sát trùng hàng ngày, xịt gầm,
chở phân ra khu xử lý phân. Lợn nái chửa được ăn các loại thức ăn cargill với
khẩu phần ăn lợn tuần chửa, thể trạng, lứa đẻ như sau:
- Đối với nái chửa từ tuần 1 đến tuần chửa 12 ăn thức ăn 1042 với tiêu
chuẩn 1,8 - 2 kg/con/ngày, cho ăn 2 lần trong ngày.
- Đối với nái chửa từ tuần 13 đến tuần chửa 14 ăn thức ăn 1042 với tiêu
chuẩn 2 - 3, 2,5 kg/con/ngày, cho ăn 2 lần trong ngày.
- Đối với nái chửa từ tuần 15 trở đi ăn thức ăn 1042 với tiêu chuẩn 2,2 3,5 kg/con/ngày, cho ăn 2 lần trong ngày.
13
* Quy trình chăm sóc lợn nái đẻ:
Lợn nái chửa được chuyển lên chuồng đẻ trước ngày đẻ dự kiến 7 - 10
ngày. Trước khi chuyển lợn lên chuồng đẻ, chuồng phải được dọn dẹp và rửa
sạch sẽ. Lợn chuyển lên phải được ghi đầy đủ thông tin lên bảng ở đầu mỗi ô
chuồng. Thức ăn của lợn chờ đẻ được cho ăn với tiêu chuẩn như sau:
- Đối với nái hậu bị, ăn thức ăn với tiêu chuẩn 2,2 kg/ngày/con, cho ăn 2
lần trong ngày.
- Đối với lợn nái từ lứa 2 đến lứa 4, ăn thức ăn 1042 với tiêu chuẩn 3,5
kg/ngày/con, cho ăn 2 lần trong ngày.
- Đối với lợn nái từ lứa 5 trở đi, ăn thức ăn 1042 với tiêu chuẩn 5
kg/ngày/con, cho ăn 2 lần trong ngày.
- Lợn nái chửa trước ngày đẻ dự kiến 4 ngày, giảm tiêu chuẩn ăn xuống
0,5 kg/con/bữa.
- Khi lợn nái đẻ được 2 ngày tăng dần lượng thức ăn từ 0,5 - 6
kg/con/ngày, chia làm ba bữa sáng lúc 7 giờ, 10 giờ, chiều lúc 17 giờ, mỗi
bữa tăng lên 0,5kg.
Trong quá trình chăm sóc lợn nái đẻ, công việc cần thiết và rất quan
trọng đó là việc chuẩn bị lồng úm cho lợn con. Ô úm rất quan trọng đối với
lợn con, nó có tác dụng phòng ngừa lợn mẹ đè chết lợn con, đặc biệt những
nhiễm một số bệnh truyền nhiễm như: bệnh xoắn khuẩn (Leptospirosis), bệnh
sảy thai truyền nhiễm (Brucellosis) và một số bệnh truyền nhiễm khác làm cơ
thể lợn nái yếu dần dẫn đến lợn sảy thai, đẻ non, thai chết lưu từ đó dẫn đến
viêm tử cung (Nguyễn Đức Lưu và cs, 2004) [18].
Theo Nguyễn Văn Thanh (2014) [30], tỷ lệ lợn nái mắc viêm tử cung tương
đối cao, bệnh thường tập trung ở lợn nái đẻ lứa đầu hoặc đã đẻ nhiều lứa.
Khảo sát tình hình viêm nhiễm đường sinh dục lợn nái sau khi sinh và
hiệu quả điều trị của một số loại kháng sinh trên 143 lợn nái sau khi sinh đã
15
phát hiện 106 con tiết dịch nghi viêm đường sinh dục, chiếm tỷ lệ 74,13%
(Trần Ngọc Bích và cs, 2016) [2].
Bệnh viêm đường sinh dục ở lợn chiếm tỷ lệ cao từ 30 - 50%, trong đó
viêm cơ quan bên ngoài ít, chiếm tỷ lệ 20%, còn lại 80% là viêm tử cung
(Trần Tiến Dũng và cs, 2002) [10].
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [16], Nguyễn Xuân Bình (2000) [3],
Lê Minh và cs (2017) [20], bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường do các
nguyên nhân sau:
- Cơ quan sinh dục lợn nái phát triển không bình thường gây khó đẻ hoặc lợn
nái khó đẻ do thai quá to, thai ra ngược, thai phát triển không bình thường...
- Phối giống quá sớm đối với lợn đẻ lứa đầu hoặc lợn nái già mang nhiều
thai. Khi đẻ tử cung co bóp yếu, do lứa đẻ trước đã bị viêm tử cung làm cho
niêm mạc tử cung biến đổi nên nhau thai không ra gây sát nhau, thối rữa tạo
điều kiện cho sự phát triển của vi khuẩn.
- Trong quá trình có thai, lợn nái ăn uống nhiều chất dinh dưỡng, tinh
bột, protein và ít vận động cơ thể nên cơ thể béo dẫn đến khó đẻ. Hoặc do
thiếu dinh dưỡng lợn nái sẽ ốm yếu, sức đề kháng giảm nên không chống lại
vi trùng xâm nhập cũng gây viêm.
- Do dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng, gây xây sát sẽ tạo ra các ổ viêm
phôi ở trong môi trường dại con bất lợi cũng dễ bị chết non (Lê Văn Năm,
1999) [22].
Triệu chứng:
Theo Đặng Đình Tín (1986) [34], Trần Tiến Dũng và cs (2002) [10],
triệu chứng viêm tử cung thể hiện qua 3 thể viêm:
- Viêm nội mạc: lợn có biểu hiện sốt nhẹ, dịch viêm có mầu trắng hoặc
xám và có mùi tanh. Con vật có phản ứng đau nhẹ, phản ứng co bóp tử cung
giảm nhẹ.
17
- Viêm cơ: lợn có biểu hiện sốt cao, dịch viêm có mầu hồng hoặc nâu đỏ
và có mùi tanh thối. Con vật có phản ứng đau rõ rệt, phản ứng co bóp tử cung
yếu ớt. Viêm cơ tử cung thường kế phát từ viêm nội mạc tử cung, niêm mạc
tử cung bị thấm dịch thẩm xuất, vi khuẩn xâm nhập và phát triển sâu vào tổ
chức làm niêm mạc bị phân giải, thối rữa gây tổn thương cho mạch quản và
lâm ba quản, từ đó làm lớp cơ và một ít lớp tương mạc của tử cung bị hoại tử
(Nguyễn Hữu Ninh và cs, 2000) [24].
- Viêm tương mạc: lợn có biểu hiện sốt rất cao, dịch viêm có mầu nâu rỉ
sắt và có mùi thối khắm. Con vật rất đau kèm theo triệu chứng viêm phúc
mạc, phản ứng co bóp tử cung mất hẳn.
Điều trị bệnh:
Theo Smith và cs (1995) [42], Popkov (1999) [26], sử dụng phương
pháp tiêm kháng sinh vào màng treo cổ tử cung của lợn nái, điều trị viêm tử
cung đạt hiệu quả cao: streptomycin 0,25 g, penicillin 500.000 UI, dung dịch
KMnO4 1% 40 ml + VTM C.
Khi lợn bị viêm âm đạo, âm hộ, thụt rửa âm đạo bằng dung dịch nước
etacridin 1/1.000 và 1/5.000, furazolidon 1/1.000.
Theo Nguyễn Văn Điền (2015) [11], đối với lợn nái viêm nhẹ, điều trị
bằng cách đặt viên thuốc kháng sinh oxytetracyclin vào âm đạo từ 5 - 7 ngày.
+ Chỉ cho lợn con bú một hàng vú, hàng còn lại căng quá nên viêm.
+ Do thời tiết thay đổi đột ngột, lạnh quá hoặc nóng quá hay thức ăn khó
tiêu cũng ảnh hưởng đến cảm nhiễm vi trùng.
Theo White B. R. và cs (2013) [43], biểu hiện rõ tại vú viêm với các đặc
điểm: vú căng cứng, nóng đỏ, có biểu hiện đau khi sờ nắn, không xuống sữa,
nếu vắt mạnh sữa chảy ra có nhiều lợn con lẫn máu; sau 1 - 2 ngày thấy có
mủ, lợn mẹ giảm ăn hay bỏ ăn, sốt cao 40 - 41,5oC. Tùy số lượng vú bị viêm
mà lợn nái có biểu hiện khác nhau. Nếu do nhiễm trùng trực tiếp vào bầu vú,
thì đa số trường hợp chỉ một vài bầu vú bị viêm. Tuy vậy, lợn nái cũng lười
19
cho con bú, lợn con thiếu sữa nên liên tục đòi bú, kêu rít, đồng thời do bú sữa
bị viêm, gây nhiễm trùng đường ruột, lợn con bị tiêu chảy.
Hội chăn nuôi Việt Nam (2002) [14], trước khi đẻ cần lau vú, xoa vú,
tắm cho nái. Cho con bú mẹ sau 1 giờ đẻ, cắt răng nanh lợn con. Tiêm kháng
sinh 1,5 - 2 triệu đơn vị với 100 ml nước cất tiêm quanh vú, tiêm liên tục
trong 3 ngày.
Dùng Novocain tiêm tĩnh mạch tai, tiêm chỗ giáp nhau giữa hai bầu vú
và phần sườn của lợn, tiêm nhắc lại sau một ngày.
Dùng kháng sinh streptomycin, penicillin, ampicillin, lincomycin…
liều đạt trên 200.000 - 500.000 UI, mỗi loại trên một lần tiêm cho 1 - 2
lần/ngày trong 3 - 5 ngày.
Thực hiện phòng bệnh: Vệ sinh bầu vú, hai chân sau cho lợn hằng ngày
bằng dung dịch sát trùng. Bấm răng sữa cho lợn con mới sinh, nên cho lợn
con bú sữa đầu và phân đều vú cho từng con trong đàn. Tăng cường ăn uống
đủ chất cho lợn mẹ trước và sau khi đẻ, nên giảm bớt chất đạm để hạn chế
nguy cơ thừa sữa. Khi lợn mẹ bị viêm vú, không nên cho lợn con bú ở những
vùng bị viêm. Dùng các phương pháp nhân tạo như chườm nóng, xoa bóp nhẹ
lên vùng vú bị sưng.