TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
NGUYỄN THỊ MAI
THỰC TRẠNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC
SINH LỚP 5 THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN ĐẠO
ĐỨC Ở MỘT SỐ TRƢỜNG TIỂU HỌC KHU VỰC
THÀNH PHỐ VĨNH YÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục học
HÀ NỘI - 2014
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài này, tôi đã gặp không ít những khó
khăn, nhưng nhờ vào sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy/ cô giáo và sự động
viên cổ vũ của bạn bè, người thân đã giúp tôi hoàn thành khóa luận này .
Đầu tiên, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo Thạc sĩ
TrầnThanh Tùng, người đã trực tiếp tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong
quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu và các thầy/ cô giáo trong
trường Tiểu học Đống Đa, trường Tiểu học Liên Minh, trường Tiểu học Ngô
Quyền trong khu vực thành phố Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc đã tạo điều kiện giúp
đỡ tôi trong việc tìm hiểu và cung cấp các số liệu về trường. Đây là lần đầu
tiên tôi làm quen vói công tác nghiên cứu khoa học nên không tránh khỏi
thiếu sót. Tôi mong sẽ nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy, cô và
các bạn đọc để khóa luận hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
1.3.2. Các con đường giáo dục đạo đức cho học sinh.............................. 10
1.3.2.1. Giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua việc giảng dạy các
môn học trong nhà trường..................................................................... 10
1.3.2.2. Giáo dục đạo đức thông qua các cuộc kỉ niệm lịch sử, các lễ hội
dân tộc để giáo dục truyền thống dân tộc ............................................. 11
1.3.2.3. Giáo dục đạo đức thông qua tổ chức các buổi sinh hoạt
đoàn thể ................................................................................................. 11
1.3.2.4. Giáo dục đạo đức thông qua việc đưa học sinh tham gia vào lao
động và các hoạt động xã hội đa dạng, phong phú ............................... 11
1.3.2.5. Giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua tổ chức các cuộc thi
hấp dẫn .................................................................................................. 12
1.4. Môn Đạo đức với việc giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học ......... 12
1.4.1. Vai trò của môn Đạo đức với việc giáo dục đạo đức cho học sinh
Tiểu học ..................................................................................................... 12
1.4.2. Các phương pháp giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua dạy
học môn Đạo đức ...................................................................................... 13
1.4.2.1. Phương pháp kể chuyện ........................................................... 13
1.4.2.2. Phương pháp đàm thoại ........................................................... 14
1.4.2.3. Phương pháp giảng giải ........................................................... 15
1.4.2.4. Phương pháp thảo luận nhóm .................................................. 15
1.4.2.5. Phương pháp đóng vai ............................................................. 16
1.4.3. Các hình thức tổ chức dạy học môn Đạo đức ................................ 17
1.4.3.1. Bài lên lớp ................................................................................ 17
1.4.3.2. Hoạt động ngoại khóa .............................................................. 18
1.4.3.3. Tham quan học tập ................................................................... 19
1.5. Môn Đạo đức lớp 5 với việc giáo dục đạo đức cho học sinh ............... 21
Chương 2. THỰC TRẠNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH LỚP 5
THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN ĐẠO ĐỨC ................................................ 25
3.1. Nguyên nhân ........................................................................................ 45
3.2. Giải pháp ............................................................................................... 46
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ......................................................................... 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 51
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
“Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài làm
việc gì cũng khó”,đó chính là lời dạy của Bác Hồ kính yêu - vị lãnh tụ vĩ đại
của dân tộc.Trong lời dạy của Bác, đức và tài là một sự thống nhất biện
chứng, luôn đi liền với nhau. Đạo đức là cơ sở phát triển tài năng và ngược
lại, tài năng chỉ thực sự được phát huy, cống hiến và được sử dụng hiệu quả
trong con người đạo đức mà thôi.
Sự phát triển kinh tế - xã hội đang đặt ra những yêu cầu ngày càng cao
đối với hệ thống giáo dục, đòi hỏi nền giáo dục phải đào tạo ra những con
người “Uyên thâm về trí tuệ, cường tráng về thể lực, phong phú về tinh thần,
trong sáng về đạo đức”.
Đánh giá thực trạng đạo đức, Nghị quyết Trung ương lần thứ hai của
Đảng khóa VIII nhấn mạnh: “Đặc biệt đáng lo ngại là một bộ phận học sinh,
sinh viên có tình trạng suy thoái về đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, theo lối
sống thực dụng, thiếu hoài bão lập thân, lập nghiệp vì tương lai của bản thân
và đất nước”. Phải chăng một trong những nguyên nhân là t năm 1986 đến
nay việc đổi mới toàn ngành Giáo dục mới chỉ chú trọng đến nội dung chương
trình, phương pháp dạy học chứ không chú trọng đến việc hình thành ở học
sinh những phẩm chất đạo đức cần thiết?
Ở Việt Nam, Tiểu học là bậc học cao hơn Mầm non và thấp hơn Trung
học cơ sở. Đây chính là bậc học quan trọng đối với sự phát triển của trẻ em và
là bậc học nền tảng nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho
sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và khảo sát thực trạng giáo dục đạo đức,
chúng tôi đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao kết quả giáo dục đạo đức
cho học sinh lớp 5 thông qua dạy học môn Đạo đức.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu.
2
- Tìm hiểu thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh lớp 5 thông qua
dạy học môn Đạo đức.
- Tìm hiểu nguyên nhân và đề xuất giải pháp khắc phục thực trạng trên.
4. Khách thể, đối tƣợng nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học.
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh lớp 5 thông qua dạy học môn
Đạo đức tại một số trường Tiểu học khu vực Vĩnh. Yên
5. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứuở một số trường Tiểu học khu vực thành
phố Vĩnh Yên
6. Giả thuyết khoa học
Chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học thông qua dạy học
môn Đạo đức chưa được đảm bảo tốt. Một trong những nguyên nhân dẫn đến
thực trạng này là do giáo viên chưa thực sự chú trọng tới dạy học môn Đạo
đức, chưa sử dụng các phương pháp dạy học tích cực.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp trò chuyện
Nguyễn Thị Thanh Thủy – Giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học
thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp.
Lưu thu Thủy - Đổi mới phương pháp giáo dục đạo đức cho học sinh
Tiểu học thông qua trò chơi.
Hà Thế Ngữ - Một số vấn đề về phương pháp giáo dục đạo đức và giáo
dục đạo đức ở Tiểu học.
Khi nói đến giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học, các tác giả mới chỉ
đề cập đến việc giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua các trò chơi, qua
hoạt động ngoài giờ lên lớp và một số phương pháp dạy học đạo đức ở Tiểu
học mà chưa tìm hiểu về thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học
thông qua một môn học cụ thể nào. Ngoài ra, chưa có một đề tài nào nghiên
cứu về thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học thông qua môn Đạo
đức ở khu vực thành phố Vĩnh Yên. Vì vậy, trong đề tài này, tôi tìm hiểu về
thực trạng giáo dục đạo đức thông qua dạy học môn Đạo đức ở một số trường
Tiểu học khu vực thành phố Vĩnh Yên. Nhưng do thời gian có hạn nên tôi chỉ
nghiên cứu trong phạm vi lớp 5 và ở một số trường Tiểu học khu vực thành
phố Vĩnh Yên.
1.2. Một số vấn đề về đạo đức
1.2.1. Khái niệm đạo đức
Có thể nói đạo đức là một phạm trù rộng lớn.Với mỗi khía cạnh nhìn
nhận một vấn đề và quan điểm của t ng cá nhân thì vấn đề đạo đức được hiểu
với những khái niệm khác nhau.
5
Vậy đạo đức là gì?
Theo cuốn “T điển Tiếng Việt” – Nhà xuất bản T điển Bách khoa
giải thích thì “Đạo đức là đạo lý và đức hạnh, lẽ tốt nên theo”.
Đạo đức là một bộ phận quan trọng trong các hình thái ý thức xã
xuất hiện.Đó là nền đạo đức cộng sản chủ nghĩa kế th a và phát huy các
chuẩn mực nhân đạo của loài người. Đồng thời khẳng định và đề cao những
phẩm chất mới của loài người đang đấu tranh xóa bỏ áp bức bóc lột, giải
phóng con người và lao động, đem lại hạnh phúc cho mọi người.
1.2.2.2. Đạo đức có tính dân tộc
Mỗi một đất nước – một dân tộc lại mang những nét văn hóa đặc trưng
riêng. Những nét văn hóa riêng này ảnh hưởng đến những nguyên tắc, quy tắc
chuẩn mực xã hội của t ng dân tộc ấy. T đó tạo nên tính dân tộc cho đạo đức.
1.2.3.Chức năng của đạo đức
Đạo đức là tổng hợp các nguyên tắc, quy tắc chuẩn mực xã hội mà con
người thực hiện. Đạo đức tồn tại trong xã hội với ba chức năng là chức năng
nhận thức, chức năng định hướng và điều chỉnh hành vi, chức năng đánh giá.
Cả ba chức năng này có mối quan hệ mật thiết với nhau.
1.2.3.1. Chức năng nhận thức
Đạo đức giúp con người nhận thức về thế giới xung quanh liên quan đến
cách ứng xử của mình với người khác và với cộng đồng xã hội. Mỗi người
phải nhận thức được rằng: Mình là một thành viên trong xã hội nên phải cư
xử theo những quy tắc chuẩn mực đạo đức mà xã hội yêu cầu, những việc
mình làm không được gây tổn hại đến người khác, cho cộng đồng xã hội. Với
nhận thức đúng đắn, con người biết được sự cần thiết của việc thực hiện
những hành vi đạo đức phù hợp, những hành vi nhận được sự đồng tình ủng
hộ của những người xung quanh, của cộng đồng xã hội…
Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là bất kì một cá nhân nào trong xã hội
cũng đều có nhận thức như nhau. Điều đó còn phụ thuộc vào khả năng nhận
7
thức của mỗi người, sự tác động của xã hội, kinh nghiệm của đạo đức, điều
kiện cuộc sống… Hay nói cách khác, chức năng nhận thức của đạo đức được
tình (nếu hành vi đó phù hợp với chuẩn mực, mang lại những kết quả tốt đẹp)
hay sẽ bị lên án, phê phán (nếu hành vi đó đi ngược lại chuẩn mực). Đánh giá
t phía bản thân chính là “tòa án lương tâm”.
1.2.3.3. Chức năng kiểm tra đánh giá
Chủ thể đạo đức căn cứ vào quy tắc, chuẩn mực đạo đức, đối chiếu việc
thực hiện của bản thân với quy tắc, chuẩn mực đó, tự đánh giá mức độ thực
hiện của mình, qua đó tự điều chỉnh hành vi. T đó biết cổ vũ, tôn vinh những
hành vi hợp đạo đức, lên án loại tr những hành vi trái đạo đức.
Đạo đức còn giúp con người đánh giá hành vi của những con người
xung quanh. Sự đánh giá này phụ thuộc không chỉ những quy tắc, chuẩn mực
đạo đức xã hội, mà còn là ý thức đạo đức, lương tâm trách nhiệm,…của người
đánh giá.
Những đánh giá trên dẫn đến sự điều chỉnh hành vi đạo đức của người
được đánh giá.
1.3. Một số vấn đề về giáo dục đạo đức
1.3.1. Khái niệm giáo dục đạo đức
Giáo dục đạo đức là quá trình chuyển văn hóa đạo đức xã hội thành văn
hóa đạo đức cá nhân. Đó là quá trình chuyển những tri thức, những chuẩn
mực và lý tưởng đạo đức xã hội thành những phẩm chất đạo đức cá nhân, làm
phát triển ý thức cũng như năng lực đánh giá và thực hiện hành vi đạo đức cá
nhân, làm phát triển ý thức cũng như năng lực đánh giá và thực hiện hành vi
đạo đức, năng lực tham gia vào các quan hệ đạo đức xã hội.
Đạo đức xã hội là sự phản ánh tồn tại xã hội của cộng đồng người xác
định. Đạo đức cá nhân là đạo đức của t ng cá nhân riêng lẻ trong cộng đồng.
Như vậy, mỗi người sống trong một cộng đồng cần phải hòa nhập được đạo
đức cá nhân với đạo đức xã hội. Nhưng t khi sinh ra mỗi người không thể tự
9
1.3.2.2. Giáo dục đạo đức thông qua các cuộc kỉ niệm lịch sử, các lễ hội
dân tộc để giáo dục truyền thống dân tộc
Truyền thống lịch sử chống ngoại xâm và đấu tranh cách mạng của
nhân dân ta cũng đậm đà bản sắc dân tộc, cần tiến hành giáo dục truyền thống
dân tộc cho học sinh để các em hiểu biết, kế th a và phát huy truyền thống
văn hóa và lịch sử dân tộc Việt Nam.
Thông qua các cuộc kỉ niệm lịch sử, các ngày lễ hội truyền thống mà
giáo dục lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc. Các cuộc sinh hoạt chính trị,
văn hóa độc đáo này rất phù hợp với đặc điểm tâm lí thanh, thiếu niên cho nên
dễ dàng thu hút các em vào những hoạt động chung có ý nghĩa giáo dục ấy.
1.3.2.3. Giáo dục đạo đức thông qua tổ chức các buổi sinh hoạt đoàn thể
Trường học để giáo dục chính trị, đạo đức, văn hóa và pháp luật cho
học sinh chính là các Đoàn thanh niên, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí
Minh. Đây chính là các tổ chức chính trị của tuổi trẻ, là một môi trường giáo
dục rất tốt cho học sinh.
Các tổ chức, hoạt động sinh hoạt đoàn thể với nội dung phong phú, hấp
dẫn theo lứa tuổi, tính kỷ luật nghiêm, dư luận lành mạnh, truyền thống đẹp
có tác dụng giáo dục về nhiều mặt.
Giao tiếp thảo luận tranh luận tập thể, thi đua, hợp tác đều có tác dụng
tích cực với việc hình thành ý thức công dân.
1.3.2.4. Giáo dục đạo đức thông qua việc đưa học sinh tham gia vào lao
động và các hoạt động xã hội đa dạng, phong phú
Một trường học lớn để rèn luyện con người đó chính là lao động và các
hoạt động xã hội bản thân. Tư tưởng chính trị, đạo đức, ý thức, pháp luật được
hình thành t chính cuộc sống thực tiễn.
Nhà trường cần đưa học sinh vào các hoạt động đa dạng ngoài xã hội,
trong các phong trào hoạt động văn hóa xã hội như “Xây dựng gia đình văn
12
Môn Đạo đức cung cấp cho các em những tri thức sơ đẳng dưới dạng
những mẫu hành vi về các chuẩn mực đạo đức gắn liền với kinh nghiệm đạo
đức t đó giúp các em bắt đầu hình thành năng lực nhận thức định hướng giá
trị đạo đức, biết phân biệt cái đúng, cái sai, làm theo cái đúng, ủng hộ cái
đúng, tránh cái sai, đấu tranh với những biểu hiện sai trái, xấu xa, tội ác. Bồi
dưỡng cho các em những cảm xúc đạo đức, biến những chuẩn mực đạo đức
sơ giản thành động cơ bên trong, thôi thúc các em hành động theo những
chuẩn mực đã quy định t đó giúp các em rèn luyện hành vi và thói quen hành
vi phù hợp với chuẩn mực đạo đức đã học.
1.4.2. Các phương pháp giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua dạy
học môn Đạo đức
Để giáo dục đạo đức cho học sinh có rất nhiều phương pháp được sử
dụng nhưng trong dạy học môn Đạo đức nhưng sử dụng chủ yếu là các
phương pháp như:Phương pháp kể chuyện, phương pháp đàm thoại, phương
pháp giảng giải, phương pháp tranh luận, phương pháp đóng vai,…
1.4.2.1. Phương pháp kể chuyện
Phương pháp kể chuyện là phương pháp dùng lời để thuật lại truyện kể
đạo đức nhằm giúp học sinh nắm được nội dung và t đó rút ra bài học cần
thiết [tr 102 – 10]
Trong những truyện kể này, một hay một số nhân vật cần giải quyết
tình huống đạo đức gặp phải. Cách ứng xử của nhân vật sẽ dẫn đến những kết
quả hay hậu quả nhất định theo luật nhân quả. Nếu đây là kết quả tích cực
(xảy ra những điều tốt đẹp, có lợi) thì học sinh rút ra bài học là cần noi theo
hành vi, việc làm tương tự. Nếu đó là hậu quả tiêu cực (dẫn đến những điều
ác, xấu, có hại) thì bài học được rút ra là cần tránh những hành vi, việc làm
đó.
Truyện kể này có thể được lấy t vở bài tập, sách giáo khoa, sách giáo viên
Ở tiết 2, trong quá trình thực hành thì đàm thoại được vận dụng như là
biện pháp của các phương pháp khi liên hệ thực tế, nhận xét hành vi và xử lí
tình huống…
14
1.4.2.3. Phương pháp giảng giải
Phương pháp giảng giải là phương pháp giáo viên dùng lời của mình để
trình bày, giải thích, làm rõ những vấn đề liên quan đến bài học đạo đức (Đạo
đức và Phương pháp giáo dục đạo đức ở Tiểu học).
Trong dạy học môn Đạo đức, giảng giải giúp học sinh hiểu được nội
dung bài học một cách cặn kẽ, sâu sắc nắm được bản chất của chuẩn mực
hành vi. Nhờ đó các em sẽ hình thành được niềm tin đạo đức tự giác và tránh
được niềm tin “máy móc”, “mù quáng”.
Hạn chế của phương pháp này là dễ làm cho bài học trở thành lý thuyết
khô khan, tr u tượng, kém hấp dẫn, dễ làm giảm hững thú, tính tích cực độc
lập của học sinh, bởi lẽ khi giảng giải giáo viên là người chủ yếu làm việc,
còn học sinh là người nghe giảng. Do đó, vai trò của học sinh khá thụ động.
Ngoài ra, lời giảng của giáo viên diễn ra tương đối nhanh, nội dung giảng giải
nhiều khi mang tính khái quát cao, trong lúc đó, khả năng tư duy tr u tượng
và kinh nghiệm sống của học sinh tiểu học còn hạn chế. Cho nên, chất lượng
dạy học không cao. Vì vậy, phương pháp này chỉ nên áp dụng với những bài
tập khó, với những chuẩn mực hành vi mà đối tượng liên quan khá xa lạ với
học sinh tiểu học.
Trong thực tế dạy học môn Đạo đức, phương pháp này chủ yếu được dạy
ở tiết 1 nhằm giúp học sinh hiểu được bản chất chuẩn mực hành vi đạo đức.
1.4.2.4. Phương pháp thảo luận nhóm
Phương pháp thảo luận nhóm là phương pháp tổ cức cho học sinh trao
đổi với nhau theo nhóm nhỏ về những vấn đề liên quan đến bài học đạo đức
giảng dạy sẽ giúp học sinh thể hiện cách ứng xử của mình với tình huống đạo
đức đưa ra t đó các em sẽ ghi nhớ sâu sắc hơn những chuẩn mực hành vi
này.
Ngoài những phương pháp trên, trong dạy học môn Đạo đức ở Tiểu học
còn sử dụng những phương pháp dạy học riêng như: Phương pháp điều tra,
phương pháp rèn luyện, phương pháp trò chơi, phương pháp tập luyện theo
16
mẫu hành vi, phương pháp báo cáo, phương pháp tổ chức cho học sinh làm
việc cá nhân,… Những phương pháp này đều nhằm mục đích thông qua các
hoạt động khác ngoài giờ học trên lớp để các em tự rèn luyện bản thân trong
việc thực hiện các hành vi đạo đức.
1.4.3. Các hình thức tổ chức dạy học môn Đạo đức
Hình thức tổ chức dạy học là biểu hiện bên ngoài của hoạt động phối
hợp giữa giáo viên và học sinh thực hiện theo trình tự và chế độ xác định.
Hình thức tổ chức dạy học môn Đạo đức được vận dụng cụ thể t những hình
thức tổ chức dạy học nói chung nhưng có những nét riêng do tính chất của
quá trình dạy học môn Đạo đức quy định [tr 157 – 10]
Cũng như các môn học khác, bài lên lớp được coi là hình thức tổ chức dạy
học cơ bản, bên cạnh đó còn có hình thức tham quan, hình thức tổ chức hoạt
động ngoại khóa….cũng được vận dụng vào quá tình dạy học môn Đạo đức.
1.4.3.1. Bài lên lớp
Bài lên lớp môn Đạo đức giữ một vai trò quan trọng với giáo dục đạo
đức cho học sinh Tiểu học. Đó là do đặc điểm tâm, sinh lý của học sinh Tiểu
học v a chuyển t mẫu giáo sang tuổi nhi đồng với hoạt động chủ đạo là học
tập. Một trong những nhiệm vụ chủ yếu của bậc Tiểu học là dạy cho học sinh
cách học.Vì vậy, bài lên lớp chính là nơi tập trung diễn ra quá trình dạy cách
học cho các em.
thích hợp.
Trước khi tham gia hoạt động ngoại khóa, học sinh được biết kế hoạch
một cách chi tiết – cần làm những công việc gì? Ở đâu? Khi nào? Kết quả cần
đạt được là gì?
Khi tham gia hoạt động ngoại khóa học sinh có các nhiệm vụ:
- Thực hiện những công việc, hành vi đạo đức cụ thể theo chuẩn mực
quy định.
18
- Ghi chép lại quá trình, công việc mình làm, kết quả, những ý kiến đề
nghị vào phiếu báo cáo…
Sau khi thực hiện xong những công việc theo yêu cầu, học sinh báo cáo
thảo luận về quá trình tham gia hoạt động ngoại khóa trước lớp nhằm rút ra
được những điều bổ ích.
Một số yêu cầu sư phạm cần tuân theo khi tổ chức hoạt động ngoại
khóa cho học sinh là:
- Nội dung hoạt động phải phù hợp với tính chất và mục tiêu bài đạo
đức, khả năng của học sinh, điều kiện thực tế khách quan.
- Hoạt động ngoại khóa phải được tổ chức chặt chẽ.
- Tạo điều kiện cho học sinh thể hiện rõ vai trò chủ thể tích cực trong
suốt quá trình tham gia, thực hiện hoạt động ngoại khóa.
- Cần có biện pháp kiểm tra, đánh giá khách quan, kịp thời quá trình tham
gia hoạt động ngoại khóa của học sinh.
- Phối hợp và tận dụng sự hỗ trợ của gia đình và các tổ chức xã hội để
nâng cao hiệu quả giáo dục của hoạt động ngoại khóa.
- Tránh hiện tượng ngại khó, ngại vất vả nên không tổ chức hoạt động ngoại
khóa cho học sinh.
1.4.3.3. Tham quan học tập