Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Xuân Lan
SVTH: Nguyễn Thị Thu Trang K33 - GDMN
1
Trờng đại học s phạm hà nội 2
Khoa giáo dục tiểu học
Nguyễn Thị thu trang
Tìm hiểu thực trạng việc sử dụng
phơng tiện trực quan trong dạy
học môn môI trờng xung quanh cho
trẻ 3 4 tuổi ở các trờng mầm non
khu vực TP vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Chuyờn ngnh: Giỏo dc hc
Ngi hng dn khoa hc
TH.S. Nguyễn Thị Xuân Lan
H Ni - 2011
Khãa luËn tèt nghiÖp GVHD: Th.S NguyÔn ThÞ Xu©n Lan
SVTH: NguyÔn ThÞ Thu Trang K33 - GDMN
2 Lời cảm ơn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến cô giáo Ths.
khác.
Hà nội, tháng 5 năm 2011
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Thu Trang Khãa luËn tèt nghiÖp GVHD: Th.S NguyÔn ThÞ Xu©n Lan
SVTH: NguyÔn ThÞ Thu Trang K33 - GDMN
4
Danh mục các chữ viết tắt
1. GDMN: Giáo dục mầm non
2. NXB: Nhà xuất bản
4. Đối tượng, khách thể nghiên cứu 3
5. Phạm vi nghiên cứu 3
6. Giả thuyết khoa học 3
7. Nhiệm vụ nghiên cứu 4
8. Phương pháp nghiên cứu 4
9. Cấu trúc khóa luận 4
Chương 1: Cơ sở lí
luận 5
1.1. Khái niệm về môi trường xung quanh 5
1.2. Một số vấn đề về phương tiện dạy học trực quan 5
Khãa luËn tèt nghiÖp GVHD: Th.S NguyÔn ThÞ Xu©n Lan
SVTH: NguyÔn ThÞ Thu Trang K33 - GDMN
6
1.2.1. Khái niệm về phương tiện dạy
học 5
1.2.2. Khái niệm về phương tiện dạy học trực
quan 5
1.2.3. Trình bày trực
quan 5
1.2.4. Các loại phương tiện trực
quan 5
1.3. Ý nghĩa của việc sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học
môn môi trường xung quanh đối với sự phát triển của
trẻ 6
1.3.1. Đặc điểm tâm lí của trẻ 3-4
tuổi 6
1.3.2. Ý nghĩa của việc sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học
môn môi trường xung quanh đối với sự phát triển của
trẻ 10
1.3.2.1. Phát triển hoạt động nhận thức của
Phúc 28
2.5. Thực trạng chuẩn bị, làm đồ dùng của giáo
viên 30
Chương 3: Nguyên nhân và giải
pháp 31
3.1. Nguyên nhân việc sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học
môn môi trường xung quanh cho trẻ 3-4 tuổi ở trường mầm
non 31
Khãa luËn tèt nghiÖp GVHD: Th.S NguyÔn ThÞ Xu©n Lan
SVTH: NguyÔn ThÞ Thu Trang K33 - GDMN
8
3.2. Giải
pháp
34 Kết luận và kiến
nghị 43
1. Kết
luận
43
2. Kiến
nghị
44
Tài liệu tham
khảo 45
MỞ ĐẦU
đang diễn ra xung quanh trẻ.
Tuy nhiên, hiện nay việc sử dụng các phương tiện trực quan nói chung
và việc sử dụng các phương tiện trực quan trong dạy học môn môi trường
xung quanh cho trẻ 3-4 tuổi ở các trường mầm non nói riêng chưa thực sự đạt
hiệu quả cao. Để góp phần nâng cao hiệu quả việc sử dụng phương tiện trực
quan trong dạy học môn môi trường xung quanh cho trẻ 3-4 tuổi ở các trường
mầm non, tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu: “ Thực trạng việc sử dụng
phương tiện trực quan trong dạy học môn môi trường xung quanh cho
Khãa luËn tèt nghiÖp GVHD: Th.S NguyÔn ThÞ Xu©n Lan
SVTH: NguyÔn ThÞ Thu Trang K33 - GDMN
10
trẻ 3-4 tuổi ở các trường mầm non khu vực thành phố Vĩnh Yên- tỉnh
Vĩnh Phúc”.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Phương tiện dạy học trực quan được sử dụng từ kiểu dạy học sơ khai
nhất của Xôcrat và Khổng Tử để con người nhận thức thế giới. Bởi lẽ họ theo
thế giới hòa tan trong ta và con người có thể nhận thức được chính bản thân
họ. Mối quan tâm của Khổng Tử đó là tri thức kinh nghiệm không có sẵn
trong mỗi con người, nó được hình thành trong mỗi con người thông qua học
tập. Ông khẳng định: “ tính người ta vốn gần nhau”. Khổng Tử rất coi trọng
nhận thức cảm tính, con người nhận thức thế giới phải dựa vào kết quả quan
sát các sự vật trực quan.
Nhà sư phạm J.J.Rutxo (1712-1778) cũng kiệt liệt phê phán nhà đương
thời lạm dụng lời nói. Ông đã lớn tiếng “ đồ vật, đồ vật- hãy đưa ra đồ vật”.
Tôi không ngừng nhắc đi, nhắc lại rằng, chúng ta lạm dụng quá mức lời nói: “
bằng cách giảng giải ba hoa, chúng ta chỉ tạo nên con người ba hoa”.
Trên cơ sở kế thừa công trình nghiên cứu của các bậc cha ông đi trước.
Ngày nay phương tiện dạy học trực quan cũng được rất nhiều nhà nghiên cứu
quan tâm và đi sâu vào các khía cạnh khác nhau. Nhưng chưa ai nghiên cứu
về việc sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học môn môi trường xung
7.1. Tìm hiểu cơ sở lí luận việc sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học
môn môi trường xung quanh cho trẻ 3-4 tuổi ở trường mầm non khu vực
thành phố Vĩnh Yên- tỉnh Vĩnh Phúc.
7.2. Tìm hiểu thực trạng việc sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học
môn môi trường xung quanh cho trẻ 3-4 tuổi ở trường mầm non khu vực
thành phố Vĩnh Yên- tỉnh Vĩnh Phúc.
7.3. Nguyên nhân và giải pháp
8. Phương pháp nghiên cứu
Khãa luËn tèt nghiÖp GVHD: Th.S NguyÔn ThÞ Xu©n Lan
SVTH: NguyÔn ThÞ Thu Trang K33 - GDMN
12
- Phương pháp đọc sách
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp trò chuyện
- Phương pháp thống kê toán học
9. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Kiến nghị. Khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Thực trạng việc sử dụng phương tiện trực quan trong dạy
học môn môi trường xung quanh cho trẻ 3-4 tuổi ở các trường mầm non khu
vực thành phố Vĩnh Yên- tỉnh Vĩnh Phúc.
Chương 3: Nguyên nhân và giải pháp
Khãa luËn tèt nghiÖp GVHD: Th.S NguyÔn ThÞ Xu©n Lan
SVTH: NguyÔn ThÞ Thu Trang K33 - GDMN
13
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Khái niệm về môi trường xung quanh
- Vật mẫu: là những vật có sẵn trong tự nhiên, trong đời sống xã hội
xung quanh con người.
- Băng ghi âm: là loại làm bằng vật liệu từ tính, ghi lại những âm
thanh được phát lại nội dung đó qua máy ghi âm.
- Băng ghi hình: là loại làm bằng vật liệu từ tính, ghi lại đồng thời
hình ảnh và âm thanh của các sự vật, hiện tượng trong đời sống và phát lại
qua máy thu hình.
- Phim đèn chiếu: là loại hình phim ghi lại hình ảnh các đối tượng
nghiên cứu và được chiếu lên màn hình để quan sát trực tiếp.
- Đĩa mềm vi tính: là loại đĩa dùng để hiển thị các thông tin bằng kênh
chữ, kênh hình.
- Con rối: là những vật dùng trong đời sống và dùng tay để biểu thị.
1.3. Ý nghĩa của việc sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học môn
môi trường xung quanh đối với sự phát triển của trẻ
1.3.1. Đặc điểm tâm lí của trẻ 3-4 tuổi
Ở tuổi ấu nhi, hầu hết trẻ em đều rất thích hoạt động với đồ vật, nhờ đó
trí tuệ, đặc biệt là tư duy phát triển mạnh. Những hành động định hướng bên
ngoài làm tiền đề cho sự hình thành định hướng bên trong để tư duy của trẻ
phát triển.
- Đến tuổi mẫu giáo, tư duy của trẻ có một bước ngoặt rất cơ bản. Đó
là sự chuyển tư duy từ bình diện bên ngoài vào bình diện bên trong mà thực
chất đó là việc chuyển những hành động định hướng bên ngoài thành những
hành động định hướng bên trong theo cơ chế nhập tâm. Quá trình tư duy của
trẻ đã bắt đầu dựa vào những hình ảnh của sự vật và hiện tượng đã có trong
Khãa luËn tèt nghiÖp GVHD: Th.S NguyÔn ThÞ Xu©n Lan
SVTH: NguyÔn ThÞ Thu Trang K33 - GDMN
15
đầu, cũng có nghĩa là chuyển từ kiểu tư duy trực quan hành động sang kiểu tư
duy trực quan hình tượng.
- Việc chuyển tư duy trực quan hành động sang tư duy trực quan hình
thể lấy đồ chơi một cách dễ dàng và ngẫu nhiên.
- Tư duy của trẻ mẫu giáo bé còn gắn liền với xúc cảm và ý muốn chủ
quan. Tư duy là một quá trình phát hiện những thuộc tính bên trong và những
quy luật khách quan của sự vật để tìm hiểu một vấn đề gì đó,người ta cần có
thái độ khách quan, càng khách quan bao nhiêu càng dễ tiến gần đến chân lý
bấy nhiêu. Trẻ mẫu giáo bé mới bước tới ngưỡng cửa của tư duy trong khi thế
giới nội tâm của trẻ còn chưa phân hóa thành những chức năng rõ ràng như
người lớn.
- Trẻ em ở tuổi mẫu giáo bé do chưa biết phân tích tổng hợp, chưa biết
một sự vật bao gồm nhiều bộ phận kết hợp lại thành một tổng thể, chưa xác
định được vị trí, quan hệ giữa bộ phận này với bộ phận kia trong một sự vật.
Do đó, cách nhìn nhận sự vật của bé là theo lối trực giác toàn bộ có nghĩa là
trước một sự vật nào đó trẻ nhận ra ngay, chộp lấy rất nhanh một hình ảnh
tổng thể chưa phân chia ra thành các bộ phận. Đó là cách nhìn nhận đặc trưng
của trẻ 3 tuổi. Ví dụ: nhiều chiếc xe đạp nhưng em bé vẫn nhận ra đâu là
chiếc xe của bố.
- Sự xuất hiện động cơ hành vi của trẻ: trong suốt thời kỳ mẫu giáo, ở
trẻ em có một sự biến đổi căn bản trong hành vi: chuyển từ hành vi bột phát
sang hành vi mang tính xã hội, hay là hành vi mang tính nhân cách. Đó cũng
chính là quá trình hình thành động cơ của hành vi. Tuy nhiên ở lứa tuổi mẫu
giáo bé thì bước chuyển này cũng mới ở vào điểm khởi đầu. Thông thường trẻ
không hiểu được tại sao mình hành động như thế này hoặc hành động như thế
kia. Trẻ hành động thường là do nguyên nhân trực tiếp như theo ý muốn chủ
quan của mình hoặc do tình huống ở thời điểm đó thúc đẩy và không ý thức
Khãa luËn tèt nghiÖp GVHD: Th.S NguyÔn ThÞ Xu©n Lan
SVTH: NguyÔn ThÞ Thu Trang K33 - GDMN
17
được nguyên cơ nào khiến mình hành động như vậy. Dần dần trong hành vi
của trẻ có một sự biến đổi quan trọng. Đó là sự nảy sinh động cơ. Lúc đầu,
động cơ đơn giản và mờ nhạt. Thường khi hành động, trẻ thường bị kích thích
xung quanh cho trẻ 3-4 tuổi đạt hiệu quả tốt, trước hết phải hiểu được đặc
điểm nhận thức và sự phát triển nhận thức của trẻ về môi trường xung quanh
một cách chính xác nhất.
* Đặc điểm nhận thức của trẻ về môi trường xung quanh
Hoạt động học tập của trẻ mầm non mới ở dạng sơ khai, chưa phải học
theo hình thức chính quy như ở trường phổ thông , nhưng chúng tiếp thu kiến
thức về môi trường xung quanh và hình thành cho mình những kĩ năng nhận
thức và kĩ năng xã hội theo nhiều cách khác nhau.
- Trẻ học qua việc sử dụng các giác quan: trẻ nhận thức thế giới chủ
yếu thông qua những tiếp xúc trực tiếp với các sự vật, hiện tượng xung quanh
trẻ bằng cảm giác, tri giác. Sử dụng thị giác, trẻ có hiểu biết về hình dáng,
màu sắc, cấu tạo bên ngoài của sự vật, hiện tượng. Sử dụng xúc giác trẻ có
hiểu biết về độ cứng mềm, độ trơn nhẵn, thính giác giúp trẻ hiểu biết về
tiếng kêu của các con vật, tiếng nước chảy, tiếng gió thổi, tiếng mưa rơi, tiếng
động cơ và tiếng còi của các phương tiện giao thông, khứu giác và thị giác
giúp trẻ phân biệt mùi, vị của các sự vật, hiện tượng. Học theo cách này trẻ
thu được hiểu biết về các đặc điểm bên ngoài rõ nét của sự vật, hiện tượng.
Theo sự phát triển của cơ thể và theo lứa tuổi, các giác quan của trẻ ngày càng
trở nên tinh nhạy hơn, vì vậy hệ thống biểu tượng về thiên nhiên và xã hội mà
trẻ có được nhờ sử dụng các giác quan cũng ngày càng chính xác hơn.
- Trẻ học bằng thí nghiệm thực hành: trong thế giới khách quan có
những lĩnh vực kiến thức mà không thể nhận biết được bằng quan sát thông
thường. Để có thể nhận biết các dấu hiệu đặc trưng nhưng không biểu hiện rõ
Khãa luËn tèt nghiÖp GVHD: Th.S NguyÔn ThÞ Xu©n Lan
SVTH: NguyÔn ThÞ Thu Trang K33 - GDMN
19
nét các mối quan hệ và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng,
cách nhanh nhất và chính xác nhất đối với trẻ là thử nghiệm, thí nghiệm. Như
gieo hạt vào bông ẩm trẻ biết hạt đó có nảy mầm được không và nảy mầm
như thế nào, gieo hạt vào các môi trường khác nhau trẻ biết mối quan hệ giữa
Thông qua việc sử dụng các phương tiện trực quan trong dạy học môn
môi trường xung quanh, giúp trẻ phát triển các kĩ năng:
- Quan sát: trẻ biết sử dụng phối hợp các giác quan một cách phù hợp
để tìm hiểu các sự vật, hiện tượng một cách không quen thuộc.
- So sánh: trẻ xác định nhanh chóng các đặc điểm giống nhau và khác
nhau, sự thay đổi và phát triển của các sự vật và hiện tượng.
- Phân nhóm: trẻ biết phân loại sự vật, sự kiện, hiện tượng thành các
nhóm và giải thích lí do.
- Sử dụng: Trẻ biết sử dụng và bảo quản một cách thích hợp các dụng
cụ khoa học như cân, thước các loại, kính lúp, hiểm vi trong quá trình quan
sát và trong hoạt động thực tiễn để nhận biết về khối lượng, kích thước, thời
gian, nhiệt độ, Ví dụ: trẻ xếp các con vật theo kích thước tăng dần thì cần
phải có vật thật cho trẻ.
- Suy luận: trẻ phải có một vốn kiến thức nhất định, trẻ phải suy luận
ra một điều mà trẻ chưa nhìn thấy, bởi nó chưa xảy ra hoặc là nó không thể
quan sát trực tiếp được.
- Phán đoán: đưa ra những dự báo hợp lí hoặc ước lượng dựa trên kết
quả quan sát và kinh nghiệm cũng như kiến thức của mình. Ví dụ: nếu không
được tưới nước thì cây sẽ bị héo khô. Dự đoán có ý nghĩa rất quan trọng trong
quá trình phát triển hiểu biết về nguyên nhân và kết quả, từ đó có thể phát
triển thành khả năng nhận biết quy luật và dựa trên quy luật để dự đoán chính
xác điều sẽ xảy ra.
Khãa luËn tèt nghiÖp GVHD: Th.S NguyÔn ThÞ Xu©n Lan
SVTH: NguyÔn ThÞ Thu Trang K33 - GDMN
21
- Sử dụng các phương pháp khoa học theo trình tự: dự đoán, thu thập
số liệu, vẽ, lập biểu đồ các kết luận và khái quát hóa.
- Nhận xét, chia sẻ thông tin với mọi người bằng ngôn ngữ nói hoặc
dùng hình ảnh, sơ đồ, kí hiệu sao cho người khác hiểu được ý tưởng và kết
quả khám phá của mình.
thức hoạt động, khám phá khoa học.
- Trong các hoạt động khám phá khoa học về môi trường xung
quanh, trẻ phải là người thực hiện tích cực các hoạt động khám phá, khảo sát
đối tượng: sờ, nắn, ngửi, nếm, nghe hành động thử nghiệm, hành động thực
hành. Trẻ cần được sử dụng các phương tiện khám phá như kính lúp, kính
hiểm vi, gương cân, thước các loại, bình Trẻ cũng phải là người nêu ra giả
thuyết, nêu các hành động và tự kiểm soát hành động của mình, thảo luận,
chia sẻ với mọi người về quan điểm, kết luận hoặc lời giải thích về một hiện
tượng nào đó. Chính trong các hoạt động khám phá khoa học tích cực, các kĩ
năng của trẻ sẽ có cơ hội được luyện tập và theo lứa tuổi ngày càng hoàn
thiện.
- Qua phương tiện trực quan trẻ sẽ có khả năng sử dụng phối hợp và
phát triển các giác quan như thị giác, thính giác, xúc giác, vị giác, khứu giác
để quan sát, nhận biết các sự vật, hiện tượng. Trẻ có khả năng phân biệt, so
sánh một số đặc điểm khác nhau, giống nhau rõ nét của các sự vật đơn giản.
Trẻ còn có khả năng chú ý trong một thời gian nhất định.
1.3.2.3. Kích thích hứng thú nhận thức của trẻ
- Giúp trẻ đến với thiên nhên phong phú, đến với xã hội, đến với con
người một cách gần gũi. Từ đó giúp trẻ yêu quý thiên nhiên, con người trong
xã hội.
- Trẻ được tiếp xúc, va chạm, nhìn, ngửi, nếm, cảm nhận sự vật, hiện
tượng một cách đa dạng, phong phú.
Khãa luËn tèt nghiÖp GVHD: Th.S NguyÔn ThÞ Xu©n Lan
SVTH: NguyÔn ThÞ Thu Trang K33 - GDMN
23
- Giúp trẻ có cơ hội lựa chọn theo hứng thú và nhu cầu, kích thích sự
tò mò, tính ham hiểu biết của trẻ.
- Phương tiện trực quan còn kích thích trẻ tìm tòi, khám phá, phát
hiện, nhận xét những đặc điểm tiêu biểu rõ nét của đối tượng.
1.3.2.4. Giáo dục nhân cách cho trẻ
- Giáo viên cần có đầy đủ đồ dùng trực quan và sử dụng đồ dùng trực
quan phù hợp với trẻ. Cần tạo điều kiện cho trẻ tiếp xúc trực tiếp với đồ dùng
trực quan gần gũi nhất.
- Giáo viên cần có những kiến thức cơ bản, khoa học về môi trường tự
nhiên và môi trường xã hội, nắm vững nội dung, chương trình, phương pháp,
hình thức tổ chức cho trẻ khám phá khoa học.
- Giáo viên có kĩ năng sử dụng linh hoạt các phương pháp, kĩ năng tổ
chức các hình thức cho trẻ khám phá các sự vật, hiện tượng xung quanh.
- Giáo viên luôn ý thức trong việc tổ chức các phương pháp, hình thức
cho trẻ khám phá khoa học theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của
trẻ.
Khãa luËn tèt nghiÖp GVHD: Th.S NguyÔn ThÞ Xu©n Lan
SVTH: NguyÔn ThÞ Thu Trang K33 - GDMN
25
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG VIỆC SỬ DỤNG PHƯƠNG TIỆN TRỰC QUAN
TRONG DẠY HỌC MÔN MÔI TRƯỜNG XUNG QUANH CHO TRẺ
3-4 TUỔI Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON KHU VỰC THÀNH PHỐ
VĨNH YÊN - TỈNH VĨNH PHÚC
Để tìm hiểu thực trạng việc sử dụng phương tiện trực quan trong dạy
học môn môi trường xung quanh cho trẻ 3- 4 tuổi ở các trường mầm non khu
vực thành phố Vĩnh Yên- tỉnh Vĩnh Phúc, tôi đã sử dụng phương pháp điều
tra bằng phiếu hỏi có kết hợp với phương pháp trò chuyện và phương pháp
quan sát các tiết dạy của giáo viên ở trường mầm non Ngô Quyền, mầm non
Hoa Sen, mầm non Sao Mai và mầm non Hoa Hồng.
Đối tượng điều tra: Ban giám hiệu và giáo viên.
Tổng số phiếu phát ra: 24 phiếu ( trong đó trường mầm non Ngô Quyền
là 6 phiếu, trường mầm non Hoa Sen là 6 phiếu, trường mầm non Sao Mai là