Nghiên cứu tác dụng của chế phẩm HPmax trong điều tri loét hành tá tràng có helicobacter pylori ( Luận án thạc sĩ) - Pdf 48

ĐH Y Hà Nội
Phạm Bá Tuyến

Nghiên cứu tác dụng của chế phẩm HPmax
trong điều tri loét hành tá tràngcó
Helicobacter pylori
Chuyên ngành: Y học cổ truyền
Nơi đào tạo: Trường Đại học Y Hà Nội

2014

Mã số: 62720201


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Loét dạ dày, hành tá tràng là một bệnh khá phổ biến trong cộng đồng ở
Việt Nam cũng như trên thế giới.Theo thống kê tỷ lệ mắc bệnh loét dạ dày,
hành tá tràng chiếm khoảng 10% dân số ở nhiều quốc gia. Ở Việt Nam con số
này chiếm khoảng 6-7% [1], [2], [3]. Đặc điểm chính của bệnh là một bệnh mạn
tính, diễn biến có chu kỳ, xu hướng hay tái phát và dễ gây biến chứng nguy hiểm
như chảy máu hay thủng, ung thư dạ dày…Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi, thường kéo
dài khiến người bệnh khó chịu, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và công
việc, làm giảm sút sức lao động của toàn xã hội [4].
Về cơ chế bệnh sinh của bệnh loét dạ dày, hành tá tràng được cho là mất
cân bằng giữa yếu tố gây loét và yếu tố bảo vệ chống loét dạ dày [1], [2], [5], [6],
[7]. Do vậy nguyên tắc trong điều trị nội khoa là nhằm làm giảm yếu tố gây
loét và tăng cường yếu tố bảo vệ.
Từ năm 1983 đến nay, người ta đã xác nhận sự hiện diện của vi khuẩn
Helicobacter pylori (HP) trong bệnh viêm loét dạ dày, hành tá tràng và rất

đặc biệt tác dụng diệt HP của Chè dây đã được minh chứng rõ ràng trên thực
nghiệm và lâm sàng trong một số nghiên cứu gần đây. Với mong muốn tăng
cường tác dụng điều trị viêm loét dạ dày, hành tá tràng và khả năng diệt HP của
các dược liệu thuốc nam nêu trên, các nhà khoa học trường Đại học Dược Hà
Nội đã nghiên cứu một chế phẩm mới với sự kết hợp cả 3 dược liệu Chè dây,
Dạ cẩm, lá Khôi và đặt tên là HPmax. Chế phẩm được sản xuất dạng viên
nang cứng. Tuy nhiên, sự phối ngũ 3 vị dược lỉệu trong chế phẩm HPmax này
liệu có đem lại kết quả như mong muốn và có bảo đảm tính an toàn cao trong
điều trị hay không? Để trả lời câu hỏi này đề tài “Nghiên cứu tác dụng của chế
phẩm HPmax trong điều trị loét hành tá tràng có Helicobacter pylori” được
tiến hành với các mục tiêu:
1.

Nghiên cứu độc tính cấp và độc tính bán trường diễn của chế phẩm HPmax.

2.

Nghiên cứu tác dụng diệt HP, tác dụng chống loét tá tràng và tác dụng
chống viêm, giảm đau, trung hòa acid của HPmax trên thực nghiệm.

3.

Đánh giá tác dụng của HPmax trong điều trị bệnh nhân loét hành tá tràng
HP dương tính theo y học hiện đại và y học cổ truyền.

TRIAL MODE − a valid license will remove this message. See the keywords property of this PDF for more information.


3


4

Hệ thống thần kinh ở tá tràng cũng rất dày đặc và tập trung. Đó là các
phân nhánh của dây thần kinh X, chúng được tập trung phân bố dọc theo bờ
cong nhỏ rồi xuống tá tràng. Hệ thần kinh này rất quan trọng vì nó chỉ huy và
điều khiển hoạt động như cảm giác, co bóp vận động và bài tiết của dạ dày.
Hệ thần kinh này bị rối loạn sẽ dẫn tới tình trạng bệnh lý như cường thần kinh
thực vật làm tăng bài tiết HCl - yếu tố chính gây viêm loét dạ dày - tá tràng
[18], [19], [20], [21], [22].
Cấu trúc mô học và tế bào học tá tràng
Đặc điểm mô học của tá tràng là lớp dưới niêm mạc có khá nhiều những
sợi cơ. Biểu mô niêm mạc tá tràng có đặc điểm là biểu mô trụ trơn, trong đó
có 3 loại tế bào, bao gồm:
Các tế bào hấp thu
Các tế bào hấp thu chiếm tỷ lệ nhiều nhất. Mặt ngọn của tế bào này có
rất nhiều vi nhung mao dài, song song với nhau và rất gần nhau, dưới kính
hiển vi điện tử thấy mật độ của chúng là dày đặc.
Tế bào hình dài
Các tế bào hình dài nằm xen giữa các tế bào hấp thu, chiếm tỷ lệ ít hơn.
Trên mặt tế bào này chỉ có một số vi nhung mao ngắn, thưa thớt, nhưng phần
cực trên của chúng phình ra chứa các giọt chất nhày, phần lớn các hạt nhày là
thuần nhất trong đó thành phần chính là bicarbonat.
Tế bào nội tiết
Tế bào nội tiết chiếm một tỷ lệ rất thấp, cực ngọn hẹp, trên mặt tự do của
chúng rất ít vi nhung mao. Đặc điểm nổi bật của loại tế bào này là các hạt chế tiết
thuần nhất, sẫm màu, có hình dáng và kích thước đa dạng, to nhỏ khác nhau.
Như vậy ở tá tràng không có hiện diện của tế bào chế tiết acid mà chỉ có
các tế bào bài tiết chất nhày, bicarbonat là những yếu tố bảo vệ chống loét.

TRIAL MODE − a valid license will remove this message. See the keywords property of this PDF for more information.


TRIAL MODE − a valid license will remove this message. See the keywords property of this PDF for more information.


6

- Tế bào chính (chief cell) tiết pepsinogen - tiền thân của pepsin có tác
dụng tiêu hoá protein. Do vậy tế bào này có tên là “tế bào tiêu”.
- Tế bào gốc (stem cell) có khả năng phân bào mạnh, biệt hoá tạo thành
các loại tế bào tuyến.
- Tế bào ECL (Entero Chromaffin Like) tiết histamin. Histamin có tác
dụng kích thích tế bào thành tiết ra acid và làm co cơ trơn dạ dày.
- Tế bào D (delta cell), có vai trò là kìm hãm tiết acid khi nồng độ acid
trong dạ dày đủ hay quá cao.
Tuyến ở hang vị
Niêm mạc vùng hang vị có diện tích hẹp hơn thân vị, nhưng về vi thể có
nếp gấp nhỏ hơn và sâu hơn so với ở thân vị làm tăng diện tích bề mặt lên
hàng chục lần.
- Tế bào nhày (mucous cell): Phủ bề mặt niêm mạc và tiết ra chất nhày cũng
như ở vùng thân vị (ngoại tiết).
Các tế bào khác vùi dưới niêm mạc hoặc chỉ tiếp xúc tối thiểu với
khoang dạ dày, gồm có:
- Tế bào G (G cell) tiết gastrin vào máu. Tác dụng của gastrin là kích
thích tế bào thành tiết ra acid.
- Tế bào D (delta cell): Như nêu ở trên là tế bào kìm hãm tiết acid khi
nồng độ acid trong dạ dày đủ hay quá cao.
-Tế bào ruột bắt màu Ec: là té bào bài tiết serotonin.
- Tế bào A: là tế bào bài tiết glucagon.
Sinh lý dạ dày:
Dạ dày gồm có 3 chức năng sinh lý như sau: Chức năng vận động, chức

phát hiện trong dạ dày, tá tràng có loại trực khuẩn hình cong tên là
Helicobacter pylori và đã chứng minh nó là một trong những nguyên nhân
chính gây loét dạ dày, hành tá tràng. Các thuyết này đều đưa ra để giải thích
cơ chế hình thành ổ loét, nhưng không có một cơ chế duy nhất cho bệnh loét.
Quan điểm hiện nay cho rằng có thể xem bệnh dạ dày, hành tá tràng có nhiều
cơ chế và nhiều nguyên nhân gây ra cần phải được tiếp tục nghiên cứu thêm.

TRIAL MODE − a valid license will remove this message. See the keywords property of this PDF for more information.


8

- Vai trò của acid clohydric (HCl) - pepsin:
Đối với tiêu hóa thì acid clohydric rất cần thiết cho tiêu hóa nhưng cũng
là tác nhân gây bệnh loét dạ dày tá tràng. Pepsin có chức năng tiêu protein
thức ăn, nhưng nó cũng có mặt trái là ăn mòn lớp màng nhày phủ trên bề mặt
niêm mạc. Cơ sở của việc tạo ra ổ loét ở niêm mạc dạ dày, hành tá tràng là
quá trình phá huỷ mô do dịch dạ dày có độ acid cao và hoạt tính phân giải
protein khi dinh dưỡng tại chỗ bị rối loạn, chính vì vậy trong một thời gian
dài nhiều tác giả cho rằng “Không có acid thì không loét”. Tuy nhiên, không
phải cứ tăng tiết HCl là có loét, bởi vì có khoảng 1/3 bệnh nhân bị loét dạ dày,
hành tá tràng, nhưng không thấy tăng HCl [1], [2], [22], [23], [24].
- Vai trò của Helicobacter pylori
Năm 1983 Marshall và Warren mới nuôi cấy thành công và chứng minh
vai trò gây bệnh của vi khuẩn sống trong niêm mạc dạ dày được gọi là
Helicobacter pylori. Helicobacter pylori (HP) là trực khuẩn hình cong có kích
thước từ 0,4 x 3 micron, có từ 4-6 roi mảnh ở 1 đầu. Nhờ có cấu trúc xoắn và
các roi này, Helicobacter pylori có khả năng di chuyển luồn sâu xuống dưới lớp
nhầy của bề mặt niêm mạc dạ dày. Helicobacter pylori tiết ra các enzym:
Catalase, oxydase, urease, phosphatase - kiềm, glutamin transferase, lipase,

nhau [36] như: Interleukin-I (IL-I, IL-6, IL-8, yếu tố hoại tử u (TNF-α).. cũng
góp phần tăng phản ứng viêm, làm cho quá trình viêm nhiễm nặng lên: tế bào
biểu mô phù nề, hoại tử bong tróc, tiếp đến là sự tác động của acid và pepsin
gây trợt rồi tạo thành ổ loét. Hiện nay, Helicobacter pylori được coi là
nguyên nhân quan trọng nhất gây viêm dạ dày (VDD), loét dạ dày (LDD) và

TRIAL MODE − a valid license will remove this message. See the keywords property of this PDF for more information.


10

ung thư dạ dày (UTDD) [37]. Bằng chứng là tỷ lệ nhiễm Helicobacter pylori
rất cao, khoảng 90% - 100% trong loét hành tá tràng (LHTT) [38], [39].
khoảng 70% - 90% trong LDD [40], 80% - 90% trong VDD và 60% - 70%
trong UTDD [41], [42].
Mối liên quan giữa nhiễm Helicobacter pylori và loét hành tá tràng dựa
trên cơ sở của viêm dạ dày. Viêm hang vị do Helicobacter pylori có vai trò
quan trọng trong loét hành tá tràng [43]. Theo Malfertheiner [44], bệnh nhân
viêm dạ dày mạn tính hoạt động do nhiễm Helicobacter pylori có nguy cơ
loét tá tràng cao gấp 15 lần so với người không bị nhiễm và cao gấp 50 lần
trong trường hợp nhiễm Helicobacter pylori ở tá tràng. Helicobacter pylori
gây nên viêm hang vị, viêm dạ dày mạn tính hoạt động dẫn đến những thay
đổi trong chế tiết acid, hậu quả của sự lệch lạc do mất tính cân bằng hằng
định nội môi giữa somatostatin, gastrin và acid, tạo điều kiện thuận lợi gây
ra loét hành tá tràng [32], [39], [43]. Trong điều trị loét dạ dày, hành tá
tràng, nếu diệt được Helicobacter pylori thì tỷ lệ liền sẹo rất cao, thời gian
liền sẹo nhanh, ít tái phát và ngược lại [37], [39], [45], [46].
Nguyên nhân mất cân bằng sinh lý của dạ dày tá tràng liên quan đến loét:
Bệnh loét dạ dày, hành tá tràng là kết quả của sự mất cân bằng giữa một
bên là hệ thống sinh loét acid-pepsin (yếu tố gây loét) và một bên là hệ thống

- Sự toàn vẹn và tái tạo của tế bào biểu mô và bề mặt niêm mạc dạ dày tá tràng.
Sự phá vỡ cân bằng giữa 2 nhóm yếu tố xảy ra khi nhóm yếu tố gây loét
tăng cường hoạt động mà không củng cố đúng mức hệ thống bảo vệ, ngược
lại hệ thống bảo vệ suy kém nhưng yếu tố tấn công gây loét lại không giảm
tương ứng. Và hậu quả của sự phá vỡ cân bằng này đưa đến hình thành loét dạ
dày, hành tá tràng.
Tuy cơ chế gây ổ loét kể trên đã được nhìn nhận một cách toàn diện hơn
nhưng chưa giải thích được tại sao ổ loét có tính chất khu trú và mang tính

TRIAL MODE − a valid license will remove this message. See the keywords property of this PDF for more information.


12

chất mạn tính có từng đợt tiến triển. Bên cạnh đó người ta nhận thấy có những
yếu tố thúc đẩy bệnh loét tiến triển như sau:
- Quá căng thẳng về thần kinh, tâm lý, chấn thương về tình cảm, tinh thần.
- Rối loạn chức năng nội tiết.
- Rối loạn nhịp điệu và tính chất thức ăn: bữa ăn không đúng giờ, ăn
nhiều vị chua cay, lạm dụng rượu, thuốc lá.
- Những đặc điểm về thể trạng, di truyền, trong đó có sự gia tăng số
lượng tế bào bìa mang tính chất gia đình.
- Ảnh hưởng của môi trường sống: độ ẩm, nhiệt độ, thay đổi thời tiết.
- Bệnh lý của một số cơ quan khác kèm theo: xơ gan, u tụy (hội chứng
Zollinger Ellison).
- Một số bệnh nội tiết: Basedow, cường vỏ thượng thận.
Tất cả các yếu tố trên thúc đẩy sự tiến triển của bệnh đã giải thích được
một phần bệnh loét dạ dày tá tràng là bệnh mạn tính có từng đợt tiến triển.
1.1.3. Phương pháp điều trị loét dạ dày, hành tá tràng (điều trị nội khoa)
1.1.3.1. Nguyên tắc điều trị

* Cắt dẫn truyền kích thích qua sinap thần kinh phế vị:
- Atropin (0,25mg), có thể dùng 0,25mg - 1,5mg/24 giờ.
- Pirenzepin (gastrozepin):100-150mg/ngày. Liều duy trì: 50mg/ngày. Dùng
1 đợt 10 ngày [1], [2], [3].
- Thuốc kháng acid (Antacid).
Các thuốc loại này có khả năng trung hòa acid clohydric đã được bài tiết
vào dạ dày. Hay dùng là các muối và hydroxyd của nhôm và magnesi với các
biệt dược như alusi, phosphalugel, almagel, maalox, gastropulgit..
Các thuốc loại này có tác dụng nhanh nhưng ngắn, vì vậy hiện nay thường
được dùng để cắt các cơn đau và giảm nhanh các triệu chứng [1], [2], [3], [50].
- Các chất chống bài tiết (antisecretory agents)
+ Thuốc ức chế thụ thể H2 của Histamin ở tế bào bìa:
Bao gồm các thuốc: cimetidin (Thế hệ 1), ranitidin (Thế hệ 2), famotidin
(Thế hệ 3), nizatidin (Thế hệ 4). Cơ chế chủ yếu của các thuốc này là cản trở
sự gắn của histamin lên thụ thể H2, do đó kìm hãm sự tạo HCl. Các thuốc thế

TRIAL MODE − a valid license will remove this message. See the keywords property of this PDF for more information.


14

hệ sau ưu việt hơn thế hệ trước vì: Liều lượng dùng ít hơn,thời gian lành ổ
loét nhanh hơn và sau thời gian ngừng thuốc, tỷ lệ tái phát ít hơn [1], [2], [52],
[53].
+ Thuốc ức chế bơm proton

H+
K+

ATPase của tế bào bìa (PPI: Proton

+ Sau điều trị ung thư bằng cắt đoạn hoặc cắt bớt

TRIAL MODE − a valid license will remove this message. See the keywords property of this PDF for more information.


15

+ Quan hệ huyết thống trực tiếp với người bị ung thư dạ dày (cha, mẹ,
con, anh chị em ruột).
+ Sau phẫu thuật ung thư dạ dày
+ Bệnh nhân mong muốn điều trị sau khi được tư vấn
+ Rối loạn tiêu hóa (Dyspepsia) không do loét
+ Nhằm giảm nguy cơ loét và xuất huyết tiêu hóa ở bệnh nhân bắt đàu
dùng với nhóm thuốc NSAIDs
+ Bệnh nhân cần điều trị với aspirin dài ngày nhưng có nguy cơ loét và
biến chứng loét cao
+ U lympho (U MALT)
Diệt HP là quan trọng đối với bệnh loét dạ dày, hành tá tràng có nhiễm
HP. Kháng sinh có tác dụng ức chế tổng hợp protein hoặc làm rối loạn quá trình
tổng hợp acid nucleic của vi khuẩn. Kháng sinh được dùng phổ biến là:
amoxycilin, tetracyclin, metronidazol, clarithromycin….[1], [50], [56], [59], [61].
Các phác đồ điều trị:
Phác đồ chuẩn đầu tiên được đề nghị là:
- PPI-amoxicilin-clarithromycin hoặc metronidazol (Phác đồ kinh điển)
[1], [2], [3], [62]
(Nếu tỷ lệ kháng tiên phát đối với clarithromycin ở vùng đó
+ Điều trị hàng 2 (10 - 14 ngày): PPI liều tiêu chuẩn uống ngày 2 lần +
metronidazol 500mg uống ngày 3 lần hoặc amoxicilin 1g uống ngày 2 lần +
tetrcyclin 500mg uống ngày 4 lần + bismutcitrat 120mg uống 4 lần.
+ Phác đồ cứu nguy: PPI liều tiêu chuẩn uống ngày 2 lần + rifabutin
300mg uống ngày 1 lần + amoxicilin 1g uống ngày 2 lần + levofloxacin 1g
uống ngày 1 lần trong 7 ngày hoặc PPI liều tiêu chuẩn uống ngày 2 lần +
amoxicilin 1g uống ngày 2 lần trong 5 ngày sau đó là PPI liều tiêu chuẩn ngày

TRIAL MODE − a valid license will remove this message. See the keywords property of this PDF for more information.


17

2 lần + clarithromycin 500mg uống ngày 2 lần + tinidazol 500mg uống ngày
2 lần trong 5 ngày.
- Đồng thuận của hội tiêu hóa Việt Nam 2012 về phác đồ điều trị
diệt HP [12]
+ Phác đồ điều trị diệt HP lần đầu:
. Ở miền Bắc và miền Trung có thể sử dụng phác đồ PPI + amoxicilin +
clarithromycin 7- 14 ngày.
. Ở miền Nam: PPI + amoxicilin + clarithromycin tỏ ra kém hiệu quả nên
sử dụng phác đồ nối tiếp hoặc phác đồ 4 thuốc (có hoặc không có bismuth) sử
dụng đồng thời.
+ Phác đồ điều trị lần 2: (sau thất bại lần 1)
. Sử dụng phác đồ 4 thuốc có bísmuth nếu trước đó chưa dùng phác đồ
điều trị này.
. Sử dụng phác đồ PPI + amoxicilin + levofloxacin nếu trước đó đã dùng
phác đồ 4 thuốc có bismuth.
+ Không dùng lại kháng sinh đã sử dụng trong phác đồ điều trị thất bại
trước đó, đặc biệt là clarithromycin (ngoại trừ amoxicilin) vì tỷ lệ kháng thuốc

Hải Thượng Lãn Ông trong “Khôn hóa thái chân” [71] đã miêu tả về
hình thái, vị trí của tỳ vị: Vị lớn một thước năm tấc, bề ngang năm tấc, dài
một thước sáu tấc, nằm ngang và cong, chứa được thủy cốc ba đấu năm thăng.
Dung lượng của vị thường chứa 2 đấu cốc, 1 đấu thủy thì đầy. Tinh khí của đồ
ăn từ vị vận sang tỳ, lên phế rồi phân bố đi các mạch.
Tỳ hình cong như lưỡi liềm, với vị chung một da màng, khi hoạt động
thường bóp lên vị. Tỳ nặng hai cân ba lạng, rộng ngang hai tấc, dài năm
tấc, có mỡ giải ra nửa cân. Tỳ chủ về công việc tiêu hóa thủy cốc, để nuôi
ra khắp xung quanh.
Tỳ hợp với vị, 5 tạng đều nhờ sự thu nạp của vị, tỳ giúp vị vận hóa tinh
vi của thủy cốc (thức ăn đồ uống) thông qua mạch thái âm tỳ lên phế để đi
nuôi dưỡng cơ thể. Vì vậy người xưa cho rằng tỳ vị là gốc của hậu thiên, tức
là tất cả quá trình sinh bệnh lý của con người sau sinh ra đều do tỳ quyết định.
Theo Linh Khu: Vị là cái bể của thủy cốc (Vị giả thủy cốc chi hải dã), đồ
ăn thức uống đều vào vị, tạng phủ đều lấy khí của vị, ngũ vị đều chạy tới

TRIAL MODE − a valid license will remove this message. See the keywords property of this PDF for more information.


19

nơi nào cần: Vị chua thì tới can, vị đắng tới tâm, vị ngọt tới tỳ, vị cay tới
phế, vị mặn tới thận. Vị chứa và làm nhừ nát thức ăn, tỳ là cái máy vận hóa
tinh vi của thức ăn. Theo Lý Đông Viên vị là bộ phận cương (cứng) của tỳ,
tỳ là bộ phận nhu (mềm) của vị, ăn uống không điều độ thì vị mắc bệnh
trước, tỳ không bẩm thụ được tinh vi của thức ăn nên cũng mắc bệnh sau,
làm lụng vất vả mệt nhọc thì tỳ mắc bệnh trước, không hành khí cho vị
được nên vị cũng mắc bệnh sau.
Vị liên quan chặt chẽ với tỳ qua quan hệ biểu lý với tỳ, tỳ chủ vận hóa, vị
chủ thu nạp, tỳ ưa táo ghét thấp, vị ưa thấp ghét táo, tỳ khí lấy thăng làm thuận,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status