1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm loét giác mạc là bệnh thường gặp trong nhãn khoa. Ở Việt Nam
bệnh viêm loét giác mạc là nguyên nhân gây mù đứng hàng thứ 3 sau mù do
đục thuỷ tinh thể và Glôcôm. Theo số liệu thống kê của Viện Mắt Trung ương
năm 1991, tỷ lệ mù loà do viêm loét giác mạc là 0,2% dân số (20(. Do đặc
điểm khí hậu nóng, ẩm tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn phát triển, điều
kiện vệ sinh môi trường thấp kém, hiểu biết về chăm sóc mắt của nhân dân
còn hạn chế, nên làm cho bệnh trở nên trầm trọng hơn. Chỉ một số loại vi
khuẩn như: Vi khuẩn bạch hầu, liên cầu tan máu, lậu cầu có khả năng xâm
nhập vào nhu mô qua hàng rào biểu mô lành lặn. Các loại vi khuẩn khác chỉ
gây viêm loét giác mạc khi biểu mô mất tính toàn vẹn do các nguyên nhân
như: Chấn thương nông nghiệp, công nghiệp hay sinh hoạt, hở mi, loạn dưỡng
giác mạc, khô mắt, liệt dây thần kinh số V gây mất cảm giác giác mạc [2].
Bệnh tiến triển rất nhanh chóng, trường hợp tối cấp do trực khuẩn mủ xanh có
thể gây hoại tử toàn bộ và thủng giác mạc trong vòng 48 giờ (2(. Vì vậy cần
tập trung những kháng sinh đặc hiệu, giúp cơ thể chống đỡ với quá trình
nhiễm khuẩn.
Để điều trị viêm loét giác mạc, lý tưởng nhất là lấy bệnh phẩm từ ổ loét
giác mạc, đem soi tươi, nhuộm Gram, nuôi cấy và làm kháng sinh đồ. Từ kết
quả thu được sẽ có sự chọn lọc kháng sinh hiệu quả nhất.
Để phát hiện viêm loét giác mạc do vi trùng, phải dựa vào một số tiêu
chuẩn lâm sàng để chẩn đoán và chẩn đoán phân biệt. Ngoài các dạng điển
hình, có một số dạng không đặc hiệu. Vì vậy đòi hỏi phải có một bộ phận xét
nghiệm về vi trùng có chuyên môn sâu đáng tin cậy, phối hợp chặt chẽ với
người làm lâm sàng trong chẩn đoán.
Trên thực tế bệnh nhân viêm loét giác mạc đến bệnh viện trong tình
trạng rất nặng, đã dùng kháng sinh và có trường hợp dùng Corticoid, xét
1.1. GIẢI PHẪU VÀ SINH LÝ GIÁC MẠC
1.1.1. Cấu tạo giải phẫu giác mạc
Giác mạc chiếm 1/5 trước vỏ ngoài cùng của nhãn cầu, là một bộ phận
điển hình của sự thống nhất giữa cấu trúc và chức năng. Giác mạc là một
màng kính trong suốt, một thấu kính nhẵn một mặt lồi, một mặt lõm. Độ cong
của giác mạc khác với độ cong của củng mạc. Giác mạc có đường kính
11mm-12mm, đường kính ngang rộng hơn đường kính dọc. Độ dày giác mạc
0,8mm. Trung tâm lõm hơn (( 0,6mm ). Công suất hội tụ 45 diopter (7(.
Giác mạc có hai chức năng chính: Bảo vệ nội nhãn và khúc xạ ánh
sáng. Để hoàn thành những nhiệm vụ chính này, giác mạc phải duy trì sức bền
và độ trong suốt của nó (22(.
Giác mạc gồm 5 lớp khác nhau, từ nông đến sâu.
1.1.1.1. Biểu mô
Lớp biểu mô rất đều, có cấu trúc tiếp nối với kết mạc và dễ tách ra khỏi
màng Bowman ở dưới. Độ dày của biểu mô thay đổi từ 32?m đến 50?m. Đây
là lớp biểu mô lát tầng, không sừng hoá, không bài tiết. Toàn bộ biểu mô dựa
trên màng đáy mỏng. Màng đáy dày 40 - 60 nm, đồng dạng trong cấu trúc và
thành phần, chứa Collagen và các sợi fibrin. Biểu mô giác mạc có 3 lớp tế
bào:
- Lớp tế bào vảy (Squamous Cells): Ở ngoài cùng, gồm các tế bào dài, dẹt,
sắp xếp như lợp ngói. Tế bào này không nhân và tạo nên bình diện nhẵn bóng
của giác mạc.
- Lớp tế bào giữa (Wing Cells): Gồm 2 - 3 lớp tế bào nhiều cạnh.
- Lớp tế bào đá (Basal Cells): Là lớp tế bào dinh dưỡng của giác mạc, là
lớp nòng cốt, có khả năng sinh sản ra các tế bào biểu mô khác. Những tế bào
mới sinh sản chuyển về phía bề mặt giác mạc và ngày càng trở nên khác biệt
4
hơn. Cuối cùng tế bào bề mặt thoái hoá và bong ra khỏi bề mặt giác mạc. Quá
trình này xảy ra liên tục và mỗi chu kỳ kéo dài trong vòng 7 ngày (22(
1.1.2. Mạch máu giác mạc
Giác mạc không có mạch máu. Màng film nước mắt bảo đảm tính trong
suốt và cung cấp Ôxy cho giác mạc. Quá trình dinh dưỡng cho giác mạc được
cung cấp bởi thuỷ dịch. Các Globulin miễn dịch, các yếu tố kháng khuẩn
trong màng film nước mắt, sự chớp mắt và bóc vảy tế bào biểu mô, sự di cư
của tế bào Langerhans, các đại thực bào, các tế bào miễn dịch từ vùng rìa đi
vào đã giúp giác mạc chống lại các tác nhân gây bệnh và vi sinh vật.
1.1.3. Thần kinh giác mạc
Các dây thần kinh mi trước đi từ phía sau ra, giữa củng mạc và hắc
mạc, tiến vào vùng rìa giác mạc, mất vỏ bọc Myelin, rồi phân chia thành
nhiều dây nhỏ, tận cùng bằng các nụ thần kinh, xếp thành nhiều đám rối ở
ngay mỗi lớp tế bào giác mạc dưới màng Bowman, dưới biểu mô và trong
biểu mô.
6
1.1.4. Sinh lý học giác mạc
1.1.4.1. Sinh lý học giác mạc
Tính chất sinh lý quan trọng nhất của giác mạc là sự trong suốt. Có
được sự trong suốt là nhờ vào:Sự song song của các lớp tế bào, không có
mạch máu, đậm độ nước của các tế bào được cố định, nhờ vào vai trò của các
chất Mucopolysacarit.
Muốn bảo đảm sự trong suốt đó, các tổ chức giác mạc phải được
nguyên vẹn. Nếu màng Descemet bị tổn thương, thuỷ dịch sẽ ngấm vào giác
mạc. Nếu màng Bowman bị tổn thương sẽ làm cho nước mắt ngấm vào giác
mạc. Và các tế bào bị tổn thương sẽ bị thay thế bằng các tế bào xơ, tạo nên
sẹo đục. Các loại thuốc có thể ngấm qua giác mạc để vào tiền phòng. Ngược
lại, thuỷ dịch có thể ngấm qua giác mạc để ra ngoài được, song chỉ ở mức độ
nhất định nhờ sự thăng bằng chuyển hoá.
1.1.4.2. Chuyển hoá và dinh dưỡng của giác mạc
Qua ba nguồn khác nhau:
mạc, sự phân chia tế bào đáy và sự di cư hướng tâm của các tế bào từ vùng rìa
giác mạc.
Biểu mô giác mạc sẽ bị tổn thương khi mất sự cân bằng đó. Dưới tác động
của bệnh tật hoặc chấn thương giác mạc gây nên. Khi có sự tổn hại của biểu
mô giác mạc, cần có một đáp ứng liền sẹo dể bao phủ màng đáy bằng các tế
bào. Ngay sau tổn thương, quá trình phân bào ngừng lại và các tế bào tại rìa
vết thương rút lại, dày lên và mất cầu nối gian bào dính kết với màng đáy.
Các tế bào trương lên và biểu mô bắt đầu di cư để che phủ vùng tổn thương
bằng chuyển động amip. Rìa của màng tế bào xù lên và đưa ra ngoài các chân
giả, dạng như móng hướng về phía tổn thương. Vùng tổn thương sẽ được bao
phủ bằng nhiều lớp tế bào đáy và tế bào vảy. Sau khi liền sẹo vết thương, quá
trình phân chia lại tiếp tục xảy ra để phục hồi các hình thể bình thường của
biểu mô. Trên thực nghiệm, một tổn thương biểu mô có đường kính 6mm
được liền sẹo lại trong vòng 48 giờ và tốc độ di chuyển tế bào biểu mô
khoảng 60 - 80 (m/giờ (51(. Trong quá trình liền sẹo của giác mạc, tế bào có
chân từ kết mạc cùng di chuyển đến tham gia vào quá trình liền sẹo giác mạc.
8
Nối tiếp với sự liền vết thương, một quy trình chuyển đổi khác nhau của sinh
hoá và hình thái học diễn ra cùng với việc mất đi của các tế bào có chân và
thành lập biểu mô giác mạc.
- Tái tạo lớp nhu mô giác mạc: Quá trình tái tạo lớp nhu mô giác mạc liên
quan đến sự hồi phục và trao đổi chéo liên quan đến các sợi Collagen. Sự thay
đổi trong quá trình tổng hợp Glucoprotein dẫn đến sự liền vết thương xảy ra
một cách từ từ và đưa đến sự duy trì tính dai, bền của các sợi Collagen (51(. Ở
vết thương thủng giác mạc, trong vòng một giờ, các tế bào bạch cầu hạt xuất
hiện quanh các tế bào tổn thương, theo sau là các bạch cầu đơn nhân. Các tế
bào giác mạc cạnh tổn thương trải qua một quá trình trao đổi dẫn đến sự tích
tụ các tế bào sợi. Các tế bào nhu mô giác mạc tạo ra các hợp bào và đám tế
bào này bắt đầu mất đi sự liên kết bên trong và đi đến những biến đổi hình
thấm của thuốc qua hàng rào biểu mô giác mạc.
1.1.5.2. Các ảnh hưởng của chất bảo quản
Trong thành phần của thuốc nhỏ mắt có các chất bảo quản nhƣ
Benzalkonium chlorid, Chlorherxidin digluconat, Thimerosal. Chúng có tác
dụng ngăn chặn sự phát triển của vi khuẩn bằng cách phá vỡ vỏ tế bào của vi
khuẩn, nhưng nó cũng làm ảnh hưởng đến cấu trúc của biểu mô và nội mô
giác mạc khi sử dụng. Chất bảo quản gây phá vỡ liên kết các tế bào bề mặt và
làm bong ra lớp tế bào ngoài cùng, nếu kéo dài sử dụng có thể làm bong ra
lớp tiếp theo làm ảnh hưởng tới lớp tế bào trung gian của biểu mô giác mạc.
Benzalkonium Chlorid thậm chí còn gây cản trở quá trình liền sẹo của biểu
mô giác mạc ở một số bệnh nhân, đặc biệt những người bị khô mắt không nên
dùng thuốc có chất bảo quản.
Chất bảo quản làm thoái hóa tế bào nội mô và phù giác mạc, nên không dùng đưa
trực tiếp vào tiền phòng của mắt
1.2. LÂM SÀNG BỆNH VIÊM LOÉT GIÁC MẠC DO VI KHUẨN
Viêm loét giác mạc do vi khuẩn là một bệnh mắt cấp tính, mang tính
chất trầm trọng gây tổn thương nặng. Vi khuẩn xâm nhập vào giác mạc gây
10
viêm nhu mô tiến triển, nếu không được điều trị kịp thời sẽ dẫn đến huỷ hoại
giác mạc toàn bộ. Để lại hậu quả nghiêm trọng là giảm sút thị lực và có thể
thủng giác mạc phải khoét bỏ nhãn cầu (2(. Chỉ một số loại vi khuẩn như bạch
hầu, liên cầu tan máu, lậu cầu có khả năng xâm nhập vào nhu mô qua hàng
rào biểu mô lành lặn. Các loại vi khuẩn khác chỉ có thể gây viêm loét giác
mạc khi biểu mô giác mạc mất tính toàn vẹn.
1.2.1. Yếu tố nguy cơ và điều kiện thuận lợi của viêm loét giác mạc do vi
khuẩn
- Chấn thương do lao động nông nghiệp, công nghiệp hay sinh hoạt, do dị
vật giác mạc, các phương pháp điều trị phản khoa học (11(, (23( .
- Thường gặp ở người đeo kính tiếp xúc (0,4%) và tăng 10 lần nếu đeo
+ Vị trí : Vùng rìa, cạnh trung tâm, trung tâm hoặc toàn bộ giác mạc.
+ Kích thước : Nhỏ hoặc toàn bộ giác mạc, ranh giới rõ.
- Tính chất : Bắt màu Fluorescein, Rosebengan. Đáy ổ loét thường bẩn
và hoại tử. Ổ loét có thể nông hoặc sâu. Nếu có thủng giác mạc thì dấu hiệu
Seidel (+). Thẩm lậu giác mạc ăn sâu thành màng viêm nhu mô, bên dưới ổ
loét ranh giới không rõ ràng. Phù giác mạc có bọng biểu mô giác mạc hoặc
nếp gấp màng Descemet.
- Abces giác mạc: Có khi một hay nhiều ổ mủ nằm sâu trong nhu mô
giác mạc.
- Vòng giác mạ: Vòng trắng này bao quanh một loét trung tâm và
thường còn một khoảng giác mạc trong từ bờ ổ loét đến vòng này gọi là vòng
Wesley.
Đây là biểu hiện của đáp ứng miễn dịch do phản ứng của ký chủ đối
với thành phần kháng nguyên của tác nhân gây bệnh. Vòng này gặp trong
viêm loét giác mạc do vi khuẩn, nhưng gặp ở viêm loét giác mạc do nấm
nhiều hơn.
- Tủa mặt sau giác mạc, dấu hiệu Tyndall (+)
- Mủ tiền phòng : Gặp trong viêm loét giác mạc nặng, mủ tiền phòng là
phản ứng vô trùng với vi khuẩn và độc tố của vi khuẩn.
- Quá trình viêm có thể ăn sâu vào tiền phòng gây nên mủ nội nhãn
12
1.3. VI KHUẨN GÂY BỆNH
Theo Nguyễn Hiền (1957 - 1977) [5] các loại vi khuẩn tìm thấy trong bệnh loét
giác mạc là tụ cầu, liên cầu, trực khuẩn mủ xạnh, Moraxella. Gần đây, khi
phân lập các nguyên nhân gây loét giác mạc (1991 - 1996) trong tổng số 5771
bệnh nhân. Lê Hồng Nga và cộng sự [16] đã cho biết các loại vi khuẩn gây
bệnh thường gặp trong kết quả nuôi cấy (+), ở bảng 1 :
Mycobacteria
Trực khuẩn mủ xanh
Nocardia
Enterobacteriaceac
(Proteus, Enterometer, Serratia)
Vi khuẩn yếm khí không sinh bào tử
Các loại vi khuẩn này khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ gây nên bệnh loét
giác mạc với đặc điểm làm sàng của mỗi loại.
Đặc điểm của 5 loại vi khuẩn thường gây bệnh loét giác mạc ở Việt
Nam
13
1.3.1. Trực khuẩn mủ xanh (Pseudomonas aeruginosa)
Thuộc họ Pseudomonadccae đƣợc Schroeter mô tả đầu tiên năm
1872 [19]. Trực khuẩn mủ xanh sống trong thiên nhiên và thường có mặt ở
môi trường ẩm ướt trong bệnh viện. Chúng có thể sống ở người bình thường
như một vi hệ (flora ) [40].
Trực khuẩn mủ xanh có thể sống và phát triển tự do trong các thuốc
nhỏ mắt như Corticoid và Fluorescein hoặc các thuốc khác như Physostigmin,
xà phòng, thậm chí trong Penicilin, chúng có thể có ở các dụng cụ y tế hoặc
kính tiếp xúc không được tẩy trùng kỹ.
thủng giác mạc và mất nhãn cầu trong vòng 48 giờ [62].
Nhiễm khuẩn gây ra do trực khuẩn mủ xanh là một vấn đề nghiêm
trọng do trực khuẩn mủ xanh bền vững hầu hết với các loại kháng sinh, gây
nên nhiều biến chứng cho nhãn cầu, gây mất thị lực một cách nhanh chóng
chỉ trong vài giờ [55]. Vì vậy việc phòng bệnh là một vấn đề quan trọng được
quan tâm và khi đã bị nhiễm trực khuẩn mủ xanh cần phải điều trị kháng sinh
kịp thời có hiệu quả.
1.3.2. Tụ cầu (Staphylococcus)
Tụ cầu là vi khuẩn đứng hàng đầu gây nên các nhiễm khuẩn ở mắt. Tụ
cầu có nhiều loại, loại gây bệnh thường gặp nhất là tụ cầu vàng (
Staphylococcus aureus) và có loại bình thường sống trên da, niêm mạc, không
gây bệnh, gọi là tụ cầu da (Staphylococcus epidermidis) [4]. Tuy nhiên trong
một số điều kiện nhất định như ở người suy giảm miễn dịch, loại không gây
bệnh có thể trở nên gây bệnh. Tụ cầu là những cầu khuẩn gr (+) đường kính
1(m thường sắp xếp thành từng đám như chùm nho, chúng không di động,
15
không sinh nha bào và thường không có vỏ [40]. Khuẩn lạc của chúng thường
có màu vàng da cam, vàng sẫm hay màu trắng. Tụ cầu phát triển tốt trong các
môi trường nuôi cấy thông thường, chúng thuộc loại vi khuẩn ái khí hoặc yếm
khí. Tụ cầu thường gây tan huyết, đông huyết tương thông qua các Enzym và
ngoại độc tố. Các loại độc tố của tụ cầu là Extoxin gây họat tử tổ chức và chết
súc vật, Leucoeidin gây phá hủy bạch cầu, Exfoliative toxin làm khô bỏng
vảy da [40]. Các Enzym của tụ cầu gồm : Catalase gây phân hủy nước Oxy
già thành nước và Oxy, Coagulase gây lạnh đông huyết tương và các Enzym
khác như Lipasa, Proteinase, (- lactamase. Đặc điểm tổn thương gây ra do tụ
cầu là tạo các ổ áp xe. Ở mắt tụ cầu thường sống trong túi kết mạc, bình
thường chúng có thể gây nên bệnh cho từng bộ phận của nhãn cầu hoặc các
bộ phận phụ thuộc. Sự nhiễm khuẩn có thể xảy ra sớm từ thời niên thiếu và
thường kéo dài suốt cả cuộc đời. Tụ cầu gây viêm bờ mi, viêm kết mạc và các
Liên cầu nuôi cấy trong môi trường giàu chất dinh dưỡng. Liên cầu cầu tạo ra
hơn hai mươi sản phẩm ngoài tế bào có tính kháng nguyên. Chúng có thể tấn
công vào cơ thể con người gây nên một vài hội chứng bao gồm : Viêm họng,
chốc lở, viêm phổi, nhiễm khuẩn huyết, viêm khớp, viêm nội tâm mạc. Biểu
hiện lâm sàng của nó tùy thuộc vào vị trí tổn thương và loại vi khuẩn.
Hình 1.3. Streptococcus [71]
17
Tổn thương ở mắt có thể do tác động trực tiếp của vi khuẩn hoặc do
phản ứng với ngoại độc tố [41]. Các tổn thương thường gặp là :
- Tại mi: Viêm bờ mi, phù mi, loét bờ mi, sần da mi, viêm da mi có
quầng tím.
- Kết mạc: Gây phù kết mạc, xuất huyết, tiết tố kết mạc, giả mạc hoặc
viêm kết mạc có mủ.
- Giác mạc: Giảm cảm giác giác mạc, thẩm lậu lúc đầu nông, sau lan
rộng và sâu, loét giác mạc.
Ngoài ra còn tổn thương khác có thể có như : Viêm thị thần kinh, viêm
tuyến lệ, viêm mi túi lệ, nặng hơn có thể viêm toàn nhãn.
Liên cầu là một tác nhân gây bệnh vi khuẩn quan trọng đối với con
người. Bệnh do liên cầu thường xuất hiện như là một bệnh dịch vào các tháng
Nhiễm Moraxella thường diễn biến nhẹ, lành tính nhưng nếu không
điều trị bệnh sẽ diễn biến kéo dài, khả năng tái phát bệnh hiếm xảy ra và
không bao giờ phát sinh bệnh tự nhiên [32].
1.3.5. Lậu cầu (Neisseria gonorrhoeae)
Lậu cầu là loại vi khuẩn hình hạt cà phê xếp thành đôi không di
động, có đường kính 0,8(m , gr (-) [4]. Môi trường nuôi cấy lậu cần nhiều
chất dinh dưỡng như máu, huyết thanh, khuẩn lạc có màu xám, nuôi cấy lâu
khuẩn lạc tự phân giải. Lậu cầu thuộc loại vi khuẩn yếm khí, không lên men
Glucose, Xylose, Maltose, Saccharose, không sinh hơi và có phản ứng
Oxydase (+) [40]. Lậu cầu không có ngoại độc tố. Ở người lậu cầu gây bệnh
viêm tiền liệt tuyến, viêm mào tinh hoàn ở nam, viêm tử cung, cổ tử cung, vòi
trứng ở nữ. Bệnh chủ yếu lây qua đường tình dục.
Hình 1.5. Neisseria gonorrhoeae [73]
19
Tại mắt, viêm kết mạc do lậu cầu ở người lớn thường do tự nhiễm
bệnh. Ở trẻ nhỏ viêm kết mạc do lậu cầu thường do lây truyền gián tiếp. Ở trẻ
sơ sinh mắt bị nhiễm bệnh do lây từ bộ phận sinh dục của người mẹ mang
bệnh trong giai đoạn chu sinh. Viêm kết mạc do lậu cầu xảy ra cấp tính có
nhiều mủ chảy ra. Bệnh có thể xảy ra ở một mắt hoặc hai mắt, có thể có sốt và
nhiễm khuẩn huyết, mi phù nề khó mở [59]. Bệnh nếu không được điều trị sẽ
dẫn đến loét giác mạc hoặc thủng và viêm nội nhãn. Ngoài ra bệnh có thể biểu
hiện mủ tiền phòng, viêm mống mắt thể mi, viêm thị thần kinh, Chẩn đoán
xác định dựa vào soi tươi, nhuộm soi và nuôi cấy vi khuẩn.
Xuming MT (1974) [43], Liesegang TJ (1988) [53] sử dụng nhóm kháng
sinh Aminoglycosid để loại trừ tác nhân gây bệnh là vi khuẩn gram (-). Các
tác giả cùng với Sawusch MR (1988) [64] đã sử dụng nhóm Cephalosporin
trong điều trị các loét giác mạc do vi khuẩn gram (+). Theo Peter Laibson
[55] tỷ lệ thành công của Gentamycin trong điều trị 25 bệnh nhân viêm phần
trước nhãn cầu do vi khuẩn là 82% và tác dụng không mong muốn gây khó
chịu ở mắt tỷ lệ tác dụng không mong muốn gây khó chịu ở mắt là 7,9% (n =
43). Việc sử dụng kháng sinh tại chỗ có nồng độ tập trung cao đạt hiệu quả tốt
trong điều trị nhưng nó đòi hỏi một sự pha trộn đặc biệt của các nhà dược lý
học và việc tạo ra các loại thuốc đó đưa đến sự thay đổi về nồng độ, độ pH,
dẫn đến việc làm giảm thời gian sử dụng của thuốc [57]. Hầu hết các tác giả
khuyên dùng kết hợp hai loại kháng sinh nồng độ cao trong biện pháp điều trị
đầu tiên các loét giác mạc do vi khuẩn [32], [45], [46]. Theo Laibowitz [51]
khi dùng kết hợp 2 kháng sinh mạnh có nồng độ cao là Cefazolin và
Gentamycin để điều trị 103 bệnh nhân loét giác mạc do vi khuẩn đạt tỷ lệ
thành công là 88,2%. Theo Leibowitz tỷ lệ thành công này đối với trực khuẩn
mủ xanh là 75% và đối với tụ cầu là 89%.
Theo Hyndiuk khi dùng kết hợp 2 kháng sinh nồng độ cao là Cefazolin
và Tobramycin để điều trị 164 bệnh nhân loét giác mạc do vi khuẩn đạt tỷ lệ
thành công là 86,2% và tác dụng không mong muốn gây khó chịu ở mắt xảy
ra ở tỷ lệ 13,4%. Theo Hyndiuk thì tỷ lệ thành công khi điều trị loét giác mạc
do trực khuẩn mủ xanh bằng 2 kháng sinh nồng độ cao là 87,5% và điều trị
loét giác mạc do tụ cầu đạt tỷ lệ thành công là 86,1%. Các biện pháp điều trị
21
mà tác giả đưa ra đã mang lại hiểu quả tích cực trong điều trị các viêm loét
giác mạc do vi khuẩn. Tuy nhiên các biện pháp trên vẫn có nhiều mặt hạn chế.
Các loại kháng sinh thuộc nhóm Aminoglycosid và Cephasporin khi dùng
riêng rẽ không có phổ tác dụng rộng đủ để ức chế cả vi khuẩn Gram (+) và
Gram (-). Việc kết hợp hai loại kháng sinh với nồng độ cao, tạo ra phổ tác
Acid -1, 4 dihydro -4 oxo -3 quinolein carboxylic [21]. Khi thay thế Fluorine
tại vị trí số 6 và dị vòng Piperazine tại vị trí số 7 ta có được các
Fluoroquinolon.
1.4.2.3. Cơ chế tác dụng
Theo 2 cơ chế.
- Cơ chế 1 :
Nhóm kháng sinh Fluoroquinolon tác dụng diệt khuẩn bằng cách ức
chế sự sao chép và nhân đôi DNA của vi khuẩn thông qua đích phân tử trung
gian là DNA gyrase, Nồng độ thuốc cần thiết để ức chế men DNA gyrase ở vi
khuẩn là 0,1 - 10(g/ml. Sự đột biến của gen mã hóa Polypeptid của một đoạn
DNA có thể đem đến sự kháng thuốc của vi khuẩn. Các tế bào Eukaryotic
không chứa DNA gyrase nhưng chứa Enzym DNA toipoisamerase có cơ chế
tác dụng tương tự. Do cấu trúc (-cetonic nên các kháng sinh Quinolon có tác
dụng ức chế DNA Toipoisamerase, tuy nhiên cần với nồng độ cao hơn
khoảng 100 - 1000g/ml.
- Cơ chế 2: Tạo Chelat
Nhóm kháng sinh Fluoroquinolon có thể tạo phức hợp kiểu Chelat với
các ion kim loại hóa trị II như Mg ++, Cu++, Fe++. Vì vậy những Protin có
chứa kim loại trở thành đích thu hút của Quinolon. Sự kết hợp giữa các
Quinolon với các ion kim loại tạo ra các phức đẳng phân tử điện dương có
tính diệt khuẩn [8].
23
1.4.2.4. Phổ tác dụng
Nhóm Fluoroquinolon có tác dụng diệt khuẩn nhanh chóng. Trên thực
nghiệm, thuốc có hiệu quả cao chống lại E. Colli và vài vi khuẩn đặc hiệu như
Salmonella, Shigella, Enterobacter, Campylobacter, Neisseria [37].
Nồng độ ức chế tối thiểu của Fluoroquinolon với 90% của các loại vi
khuẩn (MIC90) thường ít hơn 0,2 (g/ml. Ciprofloxacin có tác dụng hơn
Norfloxacin chống lại Pseudomonas aeruginosa, Enterococci, Pneumococci
gần bằng với nồng độ của thuốc trong huyết tương.
Khi sử dụng các thuốc tra mắt tại chỗ của kháng sinh Fluoroquinolon,
sau thời gian từ 30 - 90 phút thấy đạt nồng độ cao trong thủy dịch. Nồng độ
đạt được từ 0,02 - 0,153(g/ml với Ciprofloxacin, từ 0,046 - 0,1(g/ml với
Norfloxacin và từ 0,078 - 0,626(g/ml với Ofloxacin [34]. Uống Pefloxacin
liều 800mg sau 6 giờ đạt nồng độ là 4,2(g/ml, sau 9 giờ là 5,8(g/ml là sau 12
giờ là 7,2(g/ml trong thủy dịch [32]. Ciprofloxacin uống sau 2 giờ đạt nồng
độ 0,36(g/ml, sau 4 giờ là 0,46(g/ml và sau 6 giờ là 0,18(g/ml[51].
Các con đường thải trừ thuốc tùy thuộc từng loại trong nhóm. Độ thanh
thải thận cao nhất đối với Ofloxacin, Lomefloxacin và Cinocaxin. Pefloxacin
không thanh thải cao nhất bởi thận. Đối với Norfloxacin khoảng 30% không
được hấp thụ và thải trừ không thay đổi qua phân. Khoảng 30 - 40% lượng thuốc
còn hoạt tính có thể được tìm thấy trong nước tiểu [66]. Nhóm Fluoroquinolon
có ít nhất là 4 cách chuyển hóa trong cơ thể. Việc sử dụng liều nhắc lại thường
đưa đến sự giảm chuyển hóa của thuốc và tăng sự thanh thải thận.
1.4.2.6. Tác dụng không mong muốn
Kháng sinh nhóm Fluoroquinolon ít có tai biến khi sử dụng. Tác dụng
không mong muốn thường xảy ra nhất là gây buồn nôn, đau vùng thượng vị,
đau đầu, chóng mặt, hiếm khi có ảo giác, mê sảng và đau vùng tim. Chứng
nổi ban ở da, bao gồm cả các phản ứng nhạy cảm cũng có thể xảy ra khi dùng
thuốc. Nhóm thuốc này có thể gây bệnh khớp và ảnh hưởng đến phát triển đầu
sụn của động vật và trẻ em nên không dùng cho trẻ em dưới 15 tuổi và phụ nữ
có thai. Một ít trường hợp có biến chứng viên gân Achille (tỷ lệ 0,015% -
0,002%) và 1/3 trong số đó có thể đứt gân Achille [9],[48]. Biến chứng này
thường xảy ra ở người có tuổi ( khoảng trên 60 tuổi) và nam giới nhiều hơn
25
nữ giới (gấp 3 lần). Các tác dụng không mong muốn này thường mất đi khi
ngừng dùng thuốc và không phải điều trị gì.
1.4.2.7. Tương tác thuốc