luận văn thạc sĩ y học đánh giá tác dụng của fluconazole trong điều trị viêm loét giác mạc do nấm - Pdf 22

1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

NGÔ TRÍ THUẬN
§¸NH GI¸ T¸C DôNG CñA FLUCONAZOLE
TRONG §IÒU TRÞ VI£M LOÐT GI¸C M¹C
DO NÊM
Chuyên ngành : NHÃN KHOA
Mã số : 60.72.56
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS. PHẠM NGỌC ĐÔNG
Hà Nội - 2013
2
CÁC CHỬ VIẾT TẮT
ADR: Adverse drug reactions (tác dụng không mong muốn)
CS: Cộng sự
ĐNT: Đếm ngón tay
GM: Giác mạc
KRNN: Không rõ nguyên nhân
LS : Lâm sang
MD: Miễn dịch
ST: Sáng tối
TGTB: Thời giant rung bình
3
ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm loét giác mạc nhiễm trùng là một bệnh lý thường gặp trong nhãn
khoa. Bệnh có thể do vi khuẩn, nấm, virus… gây ra. Trong số các nguyên
nhân gây viêm loét giác mạc, nấm là một tác nhân gây bệnh rất thường gặp và
có xu hướng tăng lên. Ở các nước phát triển như Mỹ, Tây Âu tỷ lệ viêm loét

ta và một số nước khác, amphotericin B cũng đã được sử dụng dưới dạng nhỏ
mắt, tiêm tiền phòng hoặc tiêm nhu mô để điều trị viêm loét giác mạc do nấm
[8], [12], [13], [14].
Fluconazole là thuốc chống nấm có trọng lượng phân tử thấp, tan nhiều
trong nước vì vậy có khả năng thấm sâu vào nhãn cầu [15], [16]. Thuốc được
sản xuất ở dạng tiêm tĩnh mạch. Tuy nhiên khi dùng bằng đường toàn thân,
thuốc có nhiều tác dụng phụ, nhất là độc tính với gan. Do đó, trong nhãn khoa
người ta dùng fluconazole dạng dịch truyền tĩnh mạch để pha thành dung dịch
tra mắt hoặc tiêm dưới kết mạc. Kết quả nghiên cứu cho thấy, fluconazole
được coi là một lựa chọn trong điều trị viêm loét giác mạc do nấm [7], [9].
Để có thêm lựa chọn thuốc điều trị viêm loét giác mạc do nấm trong
điều kiện thực hành ở nước ta, chúng tôi thực hiện đề tài “ Đánh giá tác dụng
của fluconazole trong điều trị viêm loét giác mạc do nấm” với mục tiêu:
1. Đánh giá hiệu quả điều trị của fluconazole tiêm dưới kết mạc trong
điều trị viêm loét giác mạc do nấm.
2. Nhận xét một số yếu tố ảnh hưởng đến tác dụng của fluconazole
trong điều trị viêm loét giác mạc do nấm.
5
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Giải phẫu và sinh lý giác mạc
1.1.1. Cấu tạo giải phẫu
Giác mạc chiếm 1/6 trước vỏ ngoài cùng của nhãn cầu, là mô trong
suốt, không có mạch máu và có nhiều thần kinh cảm giác. Giác mạc có đường
kính dọc 9-11mm, đường kính ngang 11-12mm. Ở trung tâm, giác mạc dày
khoảng 0,5mm, ở ngoại vi dày khoảng 0,7mm [17], [18], [19].
Giác mạc được cấu tạo gồm 5 lớp từ trước ra sau, bao gồm:

Hình 1.1. Thiết đồ cắt dọc giác mạc [18]
1.1.1.1. Biểu mô

thun lại và tách rời nhau khỏi chỗ tổn thương [18]. Màng Descemet tương đối
bền vững, có thể tồn tại kể cả khi giác mạc bị hoại tử gần hết nhu mô [17].
7
1.1.1.5. Nội mô
Nội mô gồm một hàng tế bào hình đa giác, đường kính khoảng 20 µm,
dày 4 - 6 µm với một nhân lớn chiếm gần hết tế bào, liên kết với nhau bằng
những liên kết chặt và liên kết dạng khe hở [17]. Tế bào nội mô không phân
chia và số lượng tế bào nội mô giảm dần theo tuổi tác: lúc sinh mật độ tế bào
là 4000 tế bào/mm
2
, số lượng tế bào giảm xuống còn khoảng 1400 - 2500 tế
bào/mm
2
ở người trưởng thành. Khi mật độ tế bào chỉ còn 400 - 700 tế
bào/mm
2
hoặc thấp hơn thì các tế bào nội mô còn lại sẽ mất khả năng bù trừ.
Giác mạc sẽ bị ngấm nước và trở nên phù đục mất đặc tính trong suốt [20].
1.1.2. Sinh lý của giác mạc
1.1.2.1. Chức năng sinh lý [21]
Giác mạc có 2 chức năng cơ bản:
- Chức năng quang học: vùng giác mạc nằm trên trục thị giác ở trung
tâm có đường kính khoảng 4mm. Tổn thương vùng này có thể làm giảm thị
lực. Giác mạc như một thấu kính hội tụ, công suất khoảng 40 - 44 diop.
- Chức năng bảo vệ: giác mạc cùng với củng mạc tạo nên lớp vỏ bọc
ngoài cùng của nhãn cầu tương đối vững chắc, giữ cho nhãn cầu có hình dạng
ổn định và chống lại các tác nhân có thể tổn hại cho mắt
1.1.2.2. Quá trình liền sẹo giác mạc [20], [21]
- Quá trình liền biểu mô: khi tổn thương khu trú ở biểu mô và không
có viêm nhiễm phối hợp thì biểu mô sẽ nhanh chóng được tái tạo hoàn

- Chấn thương: làm tổn thương một phần hay toàn bộ giác mạc.
+ Chấn thương nông nghiệp: là yếu tố thường gặp nhất, chủ yếu do các
tác nhân thực vật (cành cây, gai, mảnh gỗ, hạt thóc, lá lúa,…).
9
+ Chấn thương công nghiệp: các dị vật bắn vào giác mạc (phoi tiện,
mảnh sắt vụn, đá….).
- Các bệnh mãn tính trên bề mặt nhãn cầu (hở mi, lông xiêu, lông
quặm, viêm giác mạc do herpes…) làm khô giác mạc và xước giác mạc.
- Liệt dây thần kinh số V: làm cho giác mạc mất cảm giác. Vì vậy, giác
mạc không được bảo vệ bởi phản xạ nhắm mắt.
- Các yếu tố nguy cơ khác: sử dụng kính tiếp xúc, phẫu thuật ở giác
mạc và kết mạc, suy giảm miễn dịch, sử dụng thuốc kháng sinh và các thuốc
corticosteroid mà không có sự kiểm soát của các bác sĩ chuyên khoa mắt,
bệnh nhân có tiền sử mắc bệnh nấm ở da, niêm mạc, nội tạng….
1.2.2. Lâm sàng [22], [26], [30]
Viêm loét giác mạc do nấm có biểu hiện lâm sàng rất đa dạng. Tuy nhiên,
bệnh có các triệu chứng đặc trưng. Do đó, các triệu chứng có thể giúp định
hướng chẩn đoán nguyên nhân trong trường hợp chưa có kết quả cận lâm sàng.
1.2.2.1. Triệu chứng cơ năng
- Dấu hiệu kích thích mắt: sợ ánh sáng, cộm, chói, chảy nước mắt, co
quắp mi.
- Đau nhức: đau âm ỉ tại mắt, đau có thể lan ra xung quanh hốc mắt
hoặc lan lên đầu.
- Nhìn mờ: thị lực giảm nhiều hay ít phụ thuộc vào mức độ tổn thương
trên giác mạc.
1.2.2.2. Triệu chứng thực thể
Các dấu hiệu thường gặp:
- Kết mạc cương tụ rìa hoặc toàn bộ.
- Đặc điểm của ổ loét giác mạc:
+ Vị trí: có thể ở vùng rìa, cạnh trung tâm,

lâm sàng khác với viêm loét giác mạc do nấm sợi. Viêm loét giác mạc do nấm
men hay gặp ở những người mắc bệnh toàn thân như hội chứng Sjogren, hồng
ban đa dạng, giảm IgA, suy giảm miễn dịch qua trung gian tế bào, nhiễm
HIV, bệnh nội tiết (đái tháo đường) Chấn thương hiếm khi là yếu tố khởi
phát. Biểu hiện lâm sàng là ổ loét hình oval với mủ trong nhu mô có màu
trắng vàng, dày, ranh giới rõ, không có bờ dạng sợi, thường có một vành đai
rộng của viêm và phù nhu mô. Viêm loét giác mạc do nấm men có hình ảnh
lâm sàng giống viêm loét giác mạc do vi khuẩn Gram(+).
1.2.3. Cận lâm sàng
Trong điều trị viêm loét giác mạc do nấm, việc chẩn đoán sớm có ý nghĩa
vô cùng quan trọng giúp cho việc điều trị đúng hướng ngay từ đầu, làm tăng hiệu
quả của thuốc chống nấm, giảm hình thành sẹo đục gây giảm thị lực, rút ngắn
ngày điều trị để đưa bệnh nhân sớm trở lại lao động và sinh hoạt bình thường.
Có nhiều phương pháp chẩn đoán cận lâm sàng như soi tươi, soi trực
tiếp, nuôi cấy định danh nấm, ELISA, PCR…nhưng kỹ thuật thường được áp
dụng là: soi tươi, soi trực tiếp nuôi cấy định danh nấm. Nguồn bệnh phẩm
được lấy từ chất nạo ổ loét giác mạc bằng thìa nạo chắp nhỏ hoặc Spatula
Kimura hay đầu của kim tiêm trong da.
1.2.3.1. Soi tươi, soi trực tiếp
- Soi tươi: nhỏ một giọt nước muối sinh lý lên mảnh bệnh phẩm đã
được dàn trên phiến kính và soi trực tiếp dưới kính hiển vi. Với xét nghiệm
này chỉ có thể nhận biết trong bệnh phẩm có vi khuẩn hay nấm.
- Soi trực tiếp:
+ Các phương pháp nhuộm thường dùng như: Gram, Giemsa, Xanh
methylen, P.A.S không nhuộm được vách tế bào và vách ngăn của sợi nấm
nhưng nguyên sinh chất của nấm sợi hấp thu được thuốc nhuộm này vì vậy
cho phép xác định loài nấm.
12
+ Calcofluor là phương pháp nhuộm huỳnh quang có thể xác định 3 tác
nhân gây viêm loét giác mạc do nấm nhất là: Fusarium solani, Aspergillus

- Kháng sinh chống nấm:
Là liệu pháp quan trọng nhất trong điều trị viêm loét giác mạc do nấm,
nhằm loại trừ tác nhân gây bệnh.
Màng tế bào nấm có tác dụng như một hàng rào trao đổi điện giải, chất
hòa tan, điều chỉnh nội môi của tế bào nấm và là nơi tác dụng của thuốc
chống nấm. Ergosteron trong màng tế bào nấm là vị trí tác dụng của hầu hết
các thuốc chống nấm làm phá hủy màng tế bào hoặc làm gián đoạn sự hình
thành màng tế bào [6].
Thuốc chống nấm có thể được sử dụng dưới dạng nhỏ mắt, tiêm dưới
kết mạc, tiêm tiền phòng, truyền nhỏ giọt tại mắt, dùng bằng đường toàn thân
hoặc phối hợp. Điều trị lý tưởng nhất là dùng thuốc dưới dạng nhỏ tại mắt,
nhưng hiện nay chưa có nhiều thuốc chống nấm dưới dạng này.
- Phương pháp hóa lý: trong điều kiện không có kháng sinh chống nấm
đặc hiệu có thể chấm Lugol 5% trên bề mặt ổ loét hàng ngày cho đến khi hết
loét. Iodua kali có tác dụng ức chế sự phát triển của nấm nên có thể sử dụng
dưới dạng thuốc tra hoặc điện di dung dịch 2% [17].
- Điều trị hỗ trợ khác: dùng các thuốc như atropin 0,5%; 1% làm liệt
thể mi và giãn đồng tử, thuốc tăng cường dinh dưỡng giác mạc (nước mắt
nhân tạo, vitamin) sẽ góp phần làm giảm các triệu chứng, biến chứng viêm
loét giác mạc do nấm, thúc đẩy quá trình liền sẹo [17].
1.2.4.2. Điều trị ngoại khoa
Nấm có thể được loại trừ bằng cách gọt giác mạc, rửa mủ tiền phòng.
Trong trường hợp đã hết tác nhân gây bệnh nhưng ổ loét khó hàn gắn thì có
thể ghép màng ối, phủ kết mạc [23], [36], [37]. Ghép giác mạc được chỉ định
14
khi bệnh tiến triển nặng, loét giác mạc rộng, thủng giác mạc. Với trường hợp
nặng hơn, loét gây phòi tổ chức nội nhãn hoặc viêm nội nhãn thì bỏ nhãn cầu
là biện pháp điều trị cuối cùng [13], [38].
1.3. Thuốc chống nấm điều trị viêm loét giác mạc
1.3.1. Lịch sử nghiên cứu thuốc chống nấm [22]

có chế phẩm thương mại tra tại mắt mà sử dụng dưới dạng dung dịch pha chế
từ thuốc tiêm, giữ trong lọ màu tối để tra tại mắt, nhỏ giọt liên tục vào mắt với
nồng độ 0,01% hoặc tẩm thuốc vào tấm collagen đặt trên giác mạc liên tục
khoảng một giờ với nồng độ 0,15 - 0,3%. Các tác giả còn tiêm amphotericin
B vào nhu mô giác mạc hoặc tiêm tiền phòng với nồng độ 7,5 - 10 µg/0,1 ml,
tiêm vào buồng dịch kính với nồng độ 1 - 5 µg/ 0,1 ml. Khi sử dụng
amphotericin B tra mắt kéo dài có thể tổn thương biểu mô giác mạc dạng
chấm, tiêm nội nhãn có thể gây hoại tử hoặc bong võng mạc [23].
- Nhóm pyrimidine: là thuốc có tác dụng chống nấm nhờ enzym
Cytosin permease, ức chế sự tổng hợp DNA và RNA của nấm [6]. Thuốc
nhóm này được sử dụng trước đây chỉ một loại là flucytosine. Tuy nhiên,
thuốc chỉ có chế phẩm dạng uống và phổ tác dụng hẹp hơn amphotericine B,
chỉ có tác dụng trên nấm Crytococcus neoformens và vài loại Candida.
- Nhóm azole: tác dụng diệt nấm thông qua cơ chế: ức chế sinh tổng
hợp ergosterol bằng cách gắn với các acid béo làm gián đoạn hình thành
màng tế bào hoặc làm rối loạn chuyển hóa các lysosome gây tổn thương màng
tế bào [6]. Các thuốc chống nấm nhóm azole thường sử dụng là miconazole,
ketoconazole, itraconazole, fluconazole, voriconazole.
+ Miconazole: có tác dụng phổ rộng cả nấm sợi và nấm men.
Miconidazole có thể truyền bằng đường tĩnh mạch ở người lớn 200 – 1200
16
mg/ngày và chia làm 3 lần, mỗi liều hòa tan ít nhất trong 200 ml natri clorid
0,9% hoặc glucose 5%, truyền chậm trong 30 - 60 phút (nồng độ 1mg/ml và
tốc độ 100 ml mỗi giờ). Đối với trẻ em 1 tuổi trở lên, truyền tĩnh mạch với
liều 20 - 40 mg/kg thể trọng/ngày, mỗi lần truyền không được quá 15 mg/kg
thể trọng. Tác dụng phụ của thuốc khi dùng toàn thân bao gồm nổi ban, ngứa,
ớn lạnh, buồn nôn, nôn, thiếu máu. Thuốc có thể được bào chế dưới dạng
dung dịch nhỏ tại mắt, dung dịch tiêm dưới kết mạc 10 mg/ngày, dung dịch
tiêm vào buồng dịch kính 0,25 - 0,5 mg/ngày. Khi dùng tại chỗ, miconidazole
có thể gây kích thích mắt và độc biểu mô giác mạc nếu sử dụng kéo dài [6].

* Công thức hóa học
* Dạng thuốc và hàm lượng
● Viên nén: 50 mg, 100 mg, 200 mg.
● Lọ: 350 mg, 1400 mg bột tinh thể để pha 35 ml hỗn dịch.
● Dạng tiêm (truyền tĩnh mạch): lọ 200 mg/100 ml, 400 mg/200 ml
trong dung dịch Dextrose 5%; lọ 50 mg/25 ml, 200 mg/ 100 ml, 400 mg/ 200
ml trong dung dịch Natri clorid 0,9%.
18
● Dạng tiêm tại mắt (do bệnh viện Mắt trung ương pha): ống 2mg/ml.
Hình 2.2. Ống đựng fluconazole (khoa Dược, bệnh viện Mắt trung ương)
* Cơ chế tác dụng
Fluconazole ức chế men tiểu thể cytochrom p450 của nấm. Hậu quả là
tích tụ 14-γ-methylsterol, ngăn chặn hình thành ergosterol, làm giảm khả năng
thấm của màng tế bào, khả năng gắn kết với men của màng và ngưng trệ sự
phát triển tế bào nấm [22].
* Dược động học
● Thuốc hấp thu tốt qua đường tiêu hóa, nồng độ của fluconazole trong
huyết tương khi dùng theo đường uống gần bằng đường tiêm tĩnh mạch. Tỷ lệ
gắn với protein khoảng 12% và thời gian bán thải xấp xỉ 25 giờ. Thuốc phân
bố rộng rải khắp cơ thể. Thuốc được thải trừ chủ yếu qua thận, khoảng 90%
liều dùng xuất hiện trong nước tiểu ở dạng nguyên thể [39]. Ở bệnh nhân bình
thường thì nồng độ tối đa trong huyết tương đạt được trong vòng 1 - 2 giờ và
nồng độ hằng định đạt được trong 5 - 10 ngày khi uống với liều 50 - 400
19
mg/ngày. Fluconazole có trong dịch não tủy và thủy dịch của mắt đạt khoảng
80% lượng fluconazole tìm thấy trong máu [40].
● Khi dùng bằng đường tiêm dưới kết mạc, nồng độ thuốc ở giác mạc
đạt được tối đa khoảng 1 - 2 giờ sau khi tiêm và sau đó giảm dần với nồng độ
tối thiểu sau 4 giờ [14].
● Khi dùng bằng nhỏ mắt tại chỗ 20µl fluconazole 2%, nồng độ thuốc

- Dev S và cs (2006) đã nghiên cứu tiêm dưới kết mạc fluconazole cho
33 mắt viêm loét giác mạc nặng do nấm sợi. Kết quả khỏi 13 trong 22 mắt
nhiễm nấm Fusarium chiếm 68%, 5 trong 10 mắt nhiễm Aspergillus chiếm
50%, 1 mắt nhiễm Curvularia chiếm 100% [9].
- Mahdy RA và cs (2010) khi nghiên cứu so sánh hiệu quả điều trị phối
hợp (nhỏ tại chỗ amphotericin B 0,05%, 1 lần/2 giờ và tiêm dưới kết mạc
fluconazole 2%, 1 lần/ngày trong 10 ngày và sau 10 ngày thì tiêm 2 ngày 1
lần ) so với điều trị đơn thuần (nhỏ tại chỗ amphotericin B 0,05%) trên 48 mắt
viêm loét giác mạc do nấm nhận thấy rằng: tỷ lệ khỏi khi điều trị phối hợp
(83%) cao hơn tỷ lệ khỏi khi điều trị đơn thuần (67%) [10].
- Isipradit S đã nghiên cứu tiêm 0,5ml fluconazole 2% dưới kết mạc
cho 6 mắt viêm loét giác mạc nặng do nấm, không đáp ứng với điều trị
thường quy bằng thuốc nhỏ mắt và uống itraconazole (200 mg), tiêm
amphotericin B tiền phòng, sau 19 ngày thu được kết quả khỏi 3/6 bệnh
nhân (50%) [11].
- Basak S. K và cs (2005) đã nghiên cứu hiệu quả của amphotericin B 5 -
15 µg/0,1 ml tiêm tiền phòng phối hợp với điều trị nội khoa có sẵn (tra mắt
natamycin 5%, amphotericin B 0,15% và uống fluconazole) để điều trị viêm loét
21
giác mạc sâu do nấm có mủ tiền phòng. Kết quả sau 7 ngày 78,3% hết mủ tiền
phòng và 73,9% trường hợp ổ loét giác mạc sâu được hàn gắn hoàn toàn [13].
- Behrens - Baumann W và cs (1990) đã nghiên cứu điều trị viêm loét
giác mạc do nấm candida trên thỏ bằng dung dịch nhỏ mắt fluconazole 2%,
sau 24 ngày thu được kết quả: 14 mắt nhỏ fluconazole kết hợp với gọt giác
mạc, tất cả 14 mắt xét nghiệm âm tính với nấm Candida [41].
- Avunduk A.M và cs (2003) khi nghiên cứu so sánh giữa dùng
fluconazole tại chỗ và fluconazole toàn thân để điều trị 20 mắt viêm loét giác
mạc do nấm Aspergillus trên thỏ cho kết thấy rằng: dùng fluconazole (2
mg/ml) và uống fluconazole (37,5mg/kg) có tác dụng điều trị cao và hiệu quả
điều trị gần như nhau trong viêm loét giác mạc do Aspergillus fumigatus và kết

Năm 2010, Lê Thị Ngọc Lan, Phạm Thị Khánh Vân, Vũ Thị Tuệ
Khanh, Hoàng Thị Minh Châu nghiên cứu tiêm amphotericin B 5µg/0,1 ml
tiền phòng 3 ngày/lần trong điều trị viêm loét giác mạc sâu do nấm cho 25 ca,
có 22 ca khỏi, chiếm 88% [8].
Đoàn Thúy Hòa (2010) nghiên cứu hiệu quả điều trị viêm loét giác mạc
do nấm bằng phối hợp tiêm amphotericin B nhu mô giác mạc và itraconazole
toàn thân cho 50 mắt có áp xe nhu mô sâu, có 40 mắt khỏi chiếm 80%.
Trong vài năm trở lại đây, tại khoa Kết - Giác mạc bệnh viện Mắt trung
ương, các bác sĩ đã sử dụng fluconazole tiêm dưới kết mạc nhằm điều trị cho
các bệnh nhân viêm loét giác mạc nặng do nấm. Kết quả ban đầu cho thấy
fluconazole tác dụng tốt trong điều trị. Tuy nhiên việc sử dụng fluconazole
mới thực hiện trên một số bệnh nhân viêm loét giác mạc do nấm và chưa có
báo cáo lâm sàng nào về hiệu quả và mức độ an toàn của thuốc.
23
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Đề tài được thực hiện tại khoa Kết giác mạc, bệnh viện Mắt trung ương
từ tháng 2 năm 2013 đến tháng 10 năm 2013.
2.2. Đối tượng nghiên cứu
2.2.1. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân
Bao gồm các bệnh nhân được chẩn đoán viêm loét giác mạc do nấm, điều
trị nội trú và ngoại trú tại khoa Kết - Giác mạc, bệnh viện Mắt trung ương.
2.2.2. Tiêu chuẩn loại trừ
- Viêm loét giác mạc khi vào viện quá nặng như: loét giác mạc hoại tử
rộng gây phòi tổ chức nội nhãn, loét giác mạc thủng có chỉ định múc nội nhãn.
- Bệnh nhân không dùng được thuốc: dị ứng thuốc chống nấm, phụ nữ
có thai, trẻ em dưới 15 tuổi, bệnh nhân đang mắc bệnh gan, thận.
- Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu.
2.3. Phương pháp nghiên cứu

βα
24
α
: mức ý nghĩa thống kê, chọn

α
=0,05

z
(1- α/2)
= 1,96.
β
: xác xuất của việc phạm sai lầm loại II, chọn
β
=0,2

z
(1-β)
=0,84.
p
1
: tỷ lệ điều trị thành công ở nhóm chứng. Lấy
p
1
= 0,7 [5].
p
2
: tỷ lệ điều trị thành công ở nhóm can thiệp. Lấy
p
2

- Họ và tên, tuổi, giới, nghề nghiệp, địa chỉ, lý do đến khám.
- Yếu tố nguy cơ: chấn thương, các bệnh mãn tính trên bề mặt nhãn cầu
(hở mi, lông xiêu, lông quặm, viêm giác mạc do Herpes…), liệt dây thần kinh
số V, sử dụng kính tiếp xúc, phẫu thuật can thiệp vào giác mạc và kết mạc,
suy giảm miễn dịch, bệnh nhân tự đánh mộng, đánh màng, sử dụng thuốc
kháng sinh tại chỗ và các thuốc corticoid tại chỗ hoặc toàn thân, tiền sử bệnh
nấm (da, niêm mạc, nội tạng).
- Triệu chứng cơ năng: sợ ánh sáng, cộm, chói, chảy nước mắt, đau
nhức, nhìn mờ.
- Quá trình điều trị trước khi nhập viện, diễn biến các triệu chứng.
2.4.2. Khám bệnh
- Thị lực lúc vào viện.
- Khám mắt:
+ Mi mắt: sưng, phù.
+ Kết mạc: cương tụ ngoại vi, cương tụ rìa, cương tụ toàn bộ.
+ Giác mạc: phù, loét (vị trí, hình dạng, kích thước, độ sâu, bờ đáy, tính
chất hoại tử), thẩm lậu quanh ổ loét (thẩm lậu vệ tinh), vòng thâm nhiễm, tân
mạch quanh ổ loét.
+ Tiền phòng: phản ứng viêm tiền phòng (nếp gấp màng Descemet, tủa
sau giác mạc, dấu hiệu Tyndall, mủ tiền phòng).
+ Đồng tử: đường kính (co, giãn), xuất tiết diện đồng tử.
+ Thể thủy tinh và bán phần sau.
- Khám các bệnh lý kèm theo:
+ Tại mắt: sẹo giác mạc cũ, hở mi, lông quặm, lông xiêu, mộng, tắc lệ
đạo, cạn cùng đồ
+ Toàn thân: các bệnh mãn tính đặc biệt bệnh lý ở gan, thận và bệnh
nấm ở cơ quan khác.

Trích đoạn Tác dụng của fluconazole tiêm dưới kết mạc theo thời gian Tác dụng của fluconazole đối với từng mức độ trầm trọng của Tác dụng của fluconazole đối với từng hình thái lâm sàng của 3 Tác dụng của fluconazole tiêm dưới kết mạc theo nhóm tuổ Thời gian mắc bệnh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status