CHƯƠNG X: CÁC PHONG TRÀO “BA SẴN SÀNG”, “NĂM XUNG PHONG”
THỂ HIỆN Ý CHÍ KIÊN CƯỜNG VÀ QUYẾT TÂM CỦA THANH NIÊN CẢ
NƯỚC VÌ THẮNG LỢI CỦA SỰ NGHIỆP CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC Ngày 5-8-1964 sau khi gây ra sự kiện “vịnh Bắc Bộ”, Mỹ cho không quân tiến hành
đánh phá một số điểm trên lãnh thổ miền Bắc Việt Nam (Vinh, Thanh Hóa, Quảng
Ninh…) mở đầu cuộc chiến tranh bằng không quân chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa, trắng trợn xâm phạm chủ quyền một quốc gia độc lập. Cả nước căm phẫn trước tội ác
leo thang chiến tranh của Mỹ. Từ trong các xí nghiệp, công trường, nhà máy, trên các
đường phố, cơ quan, các thôn xóm… ở đâu thanh niên cũng sục sôi khí thế sẵn sàng cho
một cuộc đối đầu lịch sử.
Bốn ngày sau, đêm 9-8-1964, 26 vạn thanh niên Thủ đô Hà Nội đã xuống đường lên án
hành động phiêu lưu chiến tranh của Mỹ. Từ quảng trường Nhà hát thành phố (nay là
Quảng trường Cách mạng Tháng Tám) lớp lớp thanh niên công nhân, nông dân, trí thức,
học sinh… ba lô trên vai, lá ngụy trang đầy người rầm rộ diễu hành qua các đường phố
Tràng Tiền, Hai Bà Trưng, Lý Thái Tổ… biểu thị quyết tâm sẵn sàng thực hiện mọi nhiệm
vụ của Đảng và Tổ quốc giao cho.
Tại hội trường Bộ Công nghiệp Nặng (đường Hai Bà Trưng) ngọn lửa truyền thống
được tuổi trẻ đốt lên khi Ban Chấp hành Thành Đoàn Hà Nội kêu gọi đoàn viên và thanh
niên vươn lên hàng đầu trong chiến đấu, lao động và học tập… kiên quyết thực hiện “Ba
sẵn sàng”:
- Sẵn sàng chiến đấu.
- Sẵn sàng nhập ngũ.
- Sẵn sàng đi bất cứ nơi nào Tổ quốc cần đến!
Từ Hà Nội, phong trào nhanh chóng lan rộng đến các tỉnh, thành phố: Hải Phòng,
Quảng Ninh, Nghệ An… Chỉ trong vòng một tháng đã có 1.500.000 đoàn viên và thanh
niên đăng ký thực hiện “Ba sẵn sàng”. Riêng Sơn La, một tỉnh miền núi nằm ở phía Tây
của Tổ quốc, sau khi phong trào “Ba sẵn sàng” được phát động một tháng đã có 40 ngàn
đoàn viên và thanh niên đăng ký tham gia, trong đó có 19 ngàn đăng ký tình nguyện tòng
quân lên đường giết giặc.
không ngừng quan tâm lãnh đạo phong trào có tính cách mạng sâu rộng này của Đoàn và
tuổi trẻ. Hội nghị lần thứ XI của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III, họp tháng 3-
1965) trong khi nêu lên nhiệm vụ chiến lược của toàn Đảng, toàn dân đã vạch rõ nhiệm vụ
của Đoàn: “Đối với Đoàn cần đẩy mạnh phong trào “Ba sẵn sàng” với nội dung và hình
thức mới”. Ngày 29 tháng 7 năm 1965 Ban Bí thư Trung ương Đảng lại ra chỉ thị số 105-
CT-TW “Về việc tăng cường lãnh đạo công tác vận động thanh niên trong tình hình mới”
khẳng định thanh niên là một lực lượng to lớn có giác ngộ XHCN, có trình độ văn hóa,
khoa học kỹ thuật, có sức khỏe, nếu được tổ chức giáo dục và lãnh đạo tốt sẽ có nhiều
cống hiến cho sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước và xây dựng XHCN. Cho nên, “vấn đề đặt ra
cho các cấp ủy Đảng và các ngành là phải dựa vào Đoàn TNLĐ với hơn 1 triệu đoàn viên
mà tổ chức, động viên cho được 4 triệu thanh niên nam nữ trên miền Bắc tiến lên hàng đầu
trên mặt trận sản xuất, chiến đấu, học tập và xây dựng cuộc sống mới, quyết tâm đánh
thắng giặc Mỹ xâm lược, tích cực bảo vệ miền Bắc XHCN và góp phần vào sự nghiệp giải
phóng miền Nam, tiến tới thống nhất Tổ quốc”.
Bản chỉ thị đã chỉ ra cho tổ chức Đoàn và phong trào thanh niên những nhiệm vụ cụ
thể trên các mặt trận sản xuất, chiến đấu, học tập và xây dựng cuộc sống mới, đồng thời
coi việc ra sức củng cố Đoàn TNLĐ và tăng cường đoàn kết, tập hợp thanh niên là một
đảm bảo để các tầng lớp thanh niên không ngừng phấn đấu vươn lên làm tròn sứ mệnh lịch
sử lực lượng xung kích đi hàng đầu trong nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nước, sẵn sàng nhận
bất cứ nhiệm vụ gì mà Đảng và Nhà nước giao phó.
Là người tổ chức, rèn luyện các thế hệ thanh niên Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đặc biệt quan tâm đến từng bước đi lên của tuổi trẻ. Nhân ngày 20-7-1965, Người kêu gọi
thanh niên “Các cháu thanh niên gái cũng như trai hãy thực hiện tốt “Ba sẵn sàng”, xung
phong hiến dâng tất cả tinh thần và lực lượng của tuổi trẻ cho sự nghiệp chống Mỹ, cứu
nước, cho Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội”.
Cũng vào thời điểm này, nhân dịp Quốc khánh lần thứ xét XX của nước Việt Nam
độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư động viên thanh niên. Bác khen ngợi: “Các cháu
là thế hệ anh hùng trong thời đại anh hùng”, đồng thời Bác căn dặn thanh niên “Phải luôn
luôn nâng cao chí khí cách mạng “Trung với nước, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn
thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Không sợ gian khổ, hy
3. Kiên quyết thực hiện “Ba sẵn sàng”
- Sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu dũng cảm, sẵn sàng gia nhập các lực lượng vũ trang.
- Sẵn sàng khắc phục mọi khó khăn đẩy mạnh sản xuất, công tác và học tập trong bất
kỳ tình huống nào.
- Sẵn sàng đi bất cứ nơi nào, làm bất cứ việc gì mà Tổ quốc cần đến”.
*
* *
ở miền Nam nước ta vào thời điểm này cục diện chiến trường có những chuyển biến
mới. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, từ ngày 17 đến ngày 26-3-1965 Đại hội Đoàn Thanh niên
Nhân dân cách mạng Việt Nam lần thứ nhất đã tiến hành tại vùng căn cứ kháng chiến Tây
Ninh. Đại hội đã kiểm điểm công tác xây dựng Đoàn và phong trào thanh niên từ sau ngày
ký kết Hiệp định Giơnevơ (1954) và đề ra phương hướng, nhiệm vụ công tác Đoàn và
phong trào thanh niên miền Nam giai đoạn tới.
Đồng chí Nguyễn Chí Thanh, ủy viên Bộ Chính trị BCH Trung ương Đảng (khóa
III) đã trực tiếp tham dự và chỉ đạo Đại hội. Sau khi nghe báo cáo tổng kết của BCH Trung
ương Đoàn TNND cách mạng (lâm thời) và báo cáo bổ sung của các địa phương, đồng chí
Nguyễn Chí Thanh đã phát biểu với Đại hội. Đồng chí phân tích rõ tình hình và đề ra cho
thanh niên miền Nam 5 nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới.
Thấu suốt những vấn đề đang đặt ra cho công tác Đoàn và phong trào thanh niên
miền Nam, Đại hội đã khẳng định nhiệm vụ trọng tâm của Đoàn TNNDCM trong giai
đoạn trước mắt: “Đánh giặc, sản xuất, xây dựng đời sống mới ở vùng giải phóng, đoàn kết
và tổ chức, tập hợp lực lượng thanh niên học tập, rèn luyện, phấn đấu trở thành lực lượng
hậu bị của Đảng” và quyết định phát động sâu rộng trong đoàn viên và thanh niên trên toàn
miền phong trào “Năm xung phong”.
1. Xung phong tiêu diệt thật nhiều sinh lực địch.
2. Xung phong tòng quân và tham gia du kích chiến tranh.
3. Xung phong đi dân công và thanh niên xung phong phục vụ tiền tuyến.
4. Xung phong đấu tranh chính trị và chống bắt lính.
5. Xung phong sản xuất nông nghiệp trong nông hội.
Cũng vào thời gian này, ở Liên khu V, Đoàn TNNDCM cũng đã tiến hành Đại hội
Đứng trước tình hình đế quốc Mỹ liều lĩnh mở rộng chiến tranh xâm lược nước ta, vận
mệnh Tổ quốc đứng trước những thử thách quyết liệt, tháng 7 năm 1966, Hội đồng Quốc
phòng nước ta đã họp dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tiếp đó căn cứ vào
quyết định của Hội đồng Quốc phòng tối cao và ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã công bố Lệnh động viên cục bộ, “động viên một bộ phận sĩ quan, binh sĩ dự
bị và một bộ phận công dân thuộc ngạch dự bị nhưng chưa phục vụ tại ngũ” để tăng cường
lực lượng quốc phòng, đẩy mạnh cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta.
Lệnh động viên cục bộ và Lời kêu gọi chống Mỹ, cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí
Minh ngay sau đó (17-7-1966) nhân ngày đấu tranh thống nhất nước nhà, cổ vũ mạnh mẽ
tuổi trẻ “Ba sẵn sàng” và “Năm xung phong” sục sôi ý chí cách mạng, giục giã mọi người
hăng hái gia nhập lực lượng vũ trang, đánh giặc cứu nước. Phong trào tòng quân, đi thanh
niên xung phong càng trở nên sôi động. Gia đình ông Nguyễn Văn Tuyên ở Bộ Lương thực
đã mở hội nghị gia đình thảo luận và nhất trí để 15 người con, cháu, dâu, rể gia nhập hoặc
trở lại quân đội. 5 anh em Bùi Đình Hồng, Việt kiều vừa về nước đã xung phong đi bộ đội
cùng một lúc. ở xã Hải Thịnh, một xã phần lớn đồng bào theo đạo Thiên chúa của huyện
Hải Hậu (Nam Định) chỉ trong một đợt tuyển quân đã có tới hơn 10 trường hợp phải dàn
xếp vì chưa đủ tiêu chuẩn nhập ngũ hoặc thuộc diện miễn hoãn. Trong đó có 2 người lấy
máu mình viết đơn xin nhập ngũ: Đỗ Nguyện và Trần Văn Thỏa. Đỗ Nguyện người bé nhỏ
đã hai lần lên đường đều phải quay về, Đến lần thứ ba, anh nhất định không chịu rời đơn
vị. Trần Văn Cảnh gặp một hoàn cảnh khác. Gia đình anh đã có 3 người đi bộ đội. Cảnh
phải nhờ tới người anh công tác tại ủy ban hành chính xã nói hộ, vẫn không kết quả. Anh
quyết định cứ hành quân theo đơn vị. Mãi 2 tháng sau anh mới đạt được nguyện vọng.
Nhiều em thiếu nhi chưa đến tuổi nhập ngũ, nhưng sợ sau này lớn lên không còn cơ hội
được đánh Mỹ, đã khai tăng tuổi để đi khám tuyển. Nhiều học sinh phổ thông, sinh viên
đại học phát huy truyền thống của cha anh đã “xếp bút nghiên” để được lên đường đánh
Mỹ.
Trong phong trào tòng quân, bên cạnh việc không ngừng tuyên truyền, giáo dục làm
cho đoàn viên và thanh niên nhận rõ âm mưu, thủ đoạn xảo quyệt, tàn bạo của kẻ địch,
nâng cao lòng căm thù giặc, nâng cao ý chí chiến đấu, xây dựng tinh thần dám xả thân vì
nghĩa lớn… tổ chức Đoàn ở nhiều cơ sở còn có những hình thức động viên, cổ vũ tuổi trẻ.
Trong phong trào học tập và làm theo Hòa Xá, thanh niên các địa phương đã sáng tạo
nhiều hình thức phong phú, cổ vũ tinh thần sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng nhập ngũ, động
viên hàng triệu đoàn viên và thanh niên lên đường ra trận, với khẩu hiệu: “Tất cả cho tiền
tuyến, tất cả để đánh thắng”, “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”.
Chỉ riêng tỉnh Hà Tây, trong hơn 10 năm từ 1965 đến 1975, đã có trên 17 vạn lượt thanh
niên tòng quân chiến đấu trên khắp các chiến trường. Trong đó có 68 tiểu đoàn được tổ
chức hoàn chỉnh, tập luyện thành thạo kỹ, chiến thuật chiến đấu được giao thẳng cho mặt
trận. Đợt tuyển quân năm 1965 tỉnh đã huy động trên 25.000 thanh niên nhập ngũ, bằng
tổng số thanh niên đi bộ đội trong 10 năm, từ 1954 đến 1964. Năm 1975, khi cuộc kháng
chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn quyết định, chỉ một đợt giao quân trong quí I, tỉnh đã
đã vượt kế hoạch cả năm, với số quân gấp 2 lần năm trước, kịp thời chi viện cho chiến dịch
Hồ Chí Minh lịch sử.
Nhiều thanh niên Hà Tây ra đi theo tiếng gọi “Ba sẵn sàng”, chiến đấu trên khắp các
chiến trường, đã lập được nhiều chiến công xuất sắc. Tiêu biểu là anh hùng LLVT Trịnh
Tố Tâm. Anh tòng quân khi cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, trong cao trào
“Ba sẵn sàng” và vào ngay chiến trường ác liệt nhất, Trị Thiên - Huế. Tại đây anh đã cùng
đơn vị chiến đấu mưu trí, dũng cảm, diệt hơn 1.500 tên Mỹ-Ngụy, phá hủy 61 xe quân sự,
đánh lật 19 đoàn xe của địch. Riêng Trịnh Tố Tâm đã diệt 272 tên địch, trong đó có 185
tên Mỹ, bắn rơi và phá hủy 3 máy bay lên thẳng, được tặng thưởng 20 huân chương các
loại và 53 lần được công nhận danh hiệu “Dũng sĩ”.
Làm tốt công tác động viên thanh niên tòng quân di thanh niên xung phong chống
Mỹ cứu nước, tổ chức Đoàn thanh niên ở các cơ sở đặc biệt coi trọng công tác hậu phương
quân đội. Nhiều hình thức hoạt động phong phú được phát huy như thường xuyên chăm
sóc, sửa sang nghĩa trang liệt sĩ, quan tâm giúp đỡ các gia đình có người đang tại ngũ.
Nhiều nơi còn có sáng kiến phân công từng gia đình thương binh, bộ đội cho từng nhóm
đoàn viên, thanh niên để tiện theo dõi chăm sóc giúp đỡ, nhất là đối với những gia đình
neo đơn, gặp nhiều khó khăn. Nhiều đoàn viên và thanh niên đã không quản khó khăn, vất
vả, hàng ngày dành thời gian đến giúp đỡ những gia đình có người đang đi chiến đấu.
Với phong trào “uống nước nhớ nguồn”, nhiều cơ sở Đoàn còn tổ chức xây dựng
những công trình “đền ơn đáp nghĩa”, những ao cá, những hàng cây, những giếng nước,
“tích cực bảo vệ, giành và giữ thanh niên. Kiên quyết đập tan kế hoạch bắt lính đôn quân
của địch”.
Cùng với những cuộc đấu tranh đòi quyền dân sinh dân chủ, chống tuyên truyền lừa
bịp và xuyên tạc, đòi quân Mỹ rút về nước, đánh đổ ngụy quyền tay sai bán nước… các
cuộc đấu tranh chống bắt lính, chống bắt tập quân sự nổ ra liên tiếp với nhiều hình thức
phong phú, linh hoạt, có những nơi cuộc đấu tranh giữa ta và địch diễn ra quyết liệt, phong
trào tòng quân và tham gia du kích của thanh niên càng phát triển. Có những xã ở tỉnh Kiến
Phong, tỉnh Long An, trong khi địch đang tiến hành bình định lấn chiếm, dồn bắt thanh
niên đi lính, vào phòng vệ dân sự vẫn có hàng trăm thanh niên đi tòng quân và tham gia du
kích. Hai tỉnh Trà Vinh và Sóc Trăng trong điều kiện địch đánh phá ác liệt vẫn thường
xuyên xấp đủ tân binh bổ sung theo yêu cầu phát triển lực lượng địa phương và cung cấp
nhiều tân binh cho lực lượng chủ lực toàn miền. Hai tỉnh Bến Tre và Mỹ Tho hàng tháng
có từ 100-200 thanh niên tòng quân, góp phần xây dựng nên những đơn vị chủ lực lớn của
quân đội cách mạng, đáp ứng đòi hỏicủa chiến trường. Riêng Mỹ Tho (ngày nay là tỉnh
Tiền Giang) trong 2 năm 1967 - 1968 đã có 13.800 đoàn viên và thanh niên lên đường
nhập ngũ. ở các xã Cẩm Sơn, Mỹ Thiện… có đến 80% số thanh niên đến tuổi đã lên đường
đi chiến đấu.
Từ năm 1965 đến năm 1968, tuổi trẻ liên khu 5 đã có 2 khóa tòng quân tập trung.
Khóa Nguyễn Văn Trỗi, kéo dài trong 2 năm 1965-1966, có trên 28.000 cán bộ, đoàn viên
và thanh niên nhập ngũ, góp phần lập nên hai sư đoàn quân chủ lực, sư đoàn 3 (thành lập
tháng 9-1965) và sư đoàn 2 (thành lập tháng 11-1965). Chuẩn bị cho cuộc tấn công và nổi
dậy xuân Mậu Thân 1968, tổ chức Đoàn các tỉnh thuộc liên khu 5, lại phát động cao trào
tòng quân “xông lên giành chính quyền, thanh niên quyết thắng”, với 25.000 đoàn viên và
thanh niên nhập ngũ.
Có nhiều hình ảnh sinh động xuất hiện trong phong trào tòng quân, như vợ mới cưới tiễn
đưa chồng đi làm nhiệm vụ, cha dẫn con ra mặt trận,v.v… Có những gia đình lần lượt 5-7
anh chị em hy sinh, còn lại người con út chưa đủ tuổi, vẫn thiết tha được lên đường cầm
súng. ở Mộc Ninh, bà mẹ Lê có 2 người con trai đến tuổi quân dịch, bà đã tìm cách che
giấu cho con suốt 4 năm trời, đến ngày quê hương được giải phóng, bà đã vui vẻ dẫn cả 2
con đến giao cho cách mạng, còn lại một mình ở nhà sản xuất.
nghệ thanh niên, tổ thanh niên xung phong chống bắt lính, tổ thanh niên tuyên truyền xung
phong, tổ thanh niên xung phong cung ứng chiến trường, đội TNXP cơ sở,v.v… Nhiều
thanh niên đã từng vào phòng vệ dân sự của địch, khi được giáo dục giác ngộ đã hăng hái
tham gia du kích, tham gia diệt ác phá kềm. Xã Vĩnh Tường (Long Mỹ) có cả một liên toán
phòng vệ dân sự khởi nghĩa, chuyển thành lực lượng du kích với 39 súng. ở Bắc Long An
có 6 thanh niên bị bắt vào phòng vệ dân sự đã tự đặt tên: Quyết - Tâm - Bảo - Vệ - Tổ -
Quốc, rồi diệt ác mang súng trở về với cách mạng tham gia du kích đánh địch. Không chỉ
thanh niên vùng giải phóng, vùng giáp ranh hăng hái tòng quân mà ngay ở các vùng bị địch
tạm chiếm sâu như ở Thới Bính thanh niên cùng tìm mọi cách để ra vùng giải phóng tham
gia công tác cách mạng. Có 3 thanh niên trong một ấp chiến lược đã phá rào ra đồng nằm
chờ 3 ngày 3 đêm để liên lạc với cách mạng, xin đi chiến đấu.
*
* *
Trong giai đoạn cả nước có chiến tranh (1965-1975) tòng quân, đi thanh niên xung
phong là trách nhiệm đồng thời cũng là vinh dự, là niềm tự hào của thanh niên trên cả 2
miền đất nước.
Được Trung ương Đảng, Bác Hồ và Chính phủ giao nhiệm vụ, tháng 3-1965 Ban Bí
thư Trung ương Đoàn TNLĐ Việt Nam phát động trong đoàn viên, thanh niên phong trào
tình nguyện gia nhập Đội TNXP chống Mỹ, cứu nước (tập trung). Chỉ một tháng sau, đã có
hơn 10 vạn đoàn viên và thanh niên đăng ký sẵn sàng lên đường. Ngày 25-4-1965, đội
TNXP chống Mỹ, cứu nước (tập trung) đầu tiên được thành lập, gồm 1.200 đội viên nam
(vì điều kiện công tác đặc biệt chưa nhận nữ) của tỉnh Thanh Hóa, tổ chức thành 9 đại đội
cấp tốc lên đường vào miền Tây Quảng Bình làm nhiệm vụ.
Hội nghị lần thứ IX Ban Chấp hành Trung ương Đoàn (khóa III) họp tháng 5-1965
đã quyết định “tổ chức các đội TNXP chống Mỹ, cứu nước phục vụ sản xuất và chiến
đấu”. Nghị quyết nhấn mạnh: “Phát huy truyền thống của những đội TNXP trong kháng
chiến, mỗi đội TNXP hiện nay phải là một đơn vị sản xuất có năng suất cao, một đơn vị
chiến đấu khi cần thiết và đồng thời là một trường học giáo dục và rèn luyện thanh niên”.
Ngày 21-6-1965, Thủ tướng Chính phủ ra chỉ thị số 71-TTg cho phép chính thức thành lập
đội TNXP chống Mỹ, cứu nước (tập trung).
thanh niên trong xã hội vào sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, thanh niên Việt kiều về nước,
thanh niên các dân tộc thiểu số, thanh niên các tôn giáo… không một tầng lớp thanh niên
nào không có mặt trong đội hình TNXP chống Mỹ, cứu nước. Nói như một thanh niên Việt
kiều mới trở về Tổ quốc, quê ở Hà Tĩnh: “Kháng chiến lần thứ nhất chống thực dân Pháp
xâm lược, chúng tôi chưa được vinh dự đóng góp, nay xin cho chúng tôi đi TNXP để góp
phần với sự nghiệp của dân của nước”.
Gia nhập lực lượng TNXP chống Mỹ, cứu nước trở thành tình cảm, thành nỗi khát
vọng của nhiều đoàn viên, thanh niên. Thanh niên các dân tộc thiểu số ở Lạng Sơn, Lào
Cai, Bắc Thái (nay là Bắc Cạn, Thái Nguyên), Thanh Hóa… trước đây ít khi đi xa gia đình,
giờ nhận thức được trách nhiệm của tuổi trẻ cũng hăng hái lên đường làm nhiệm vụ. Thanh
niên theo đạo Thiên chúa ở Nam Định, Ninh Bình cũng tình nguyện gia nhập lực lượng
TNXP chống Mỹ, cứu nước.
Theo thống kê chưa đầy đủ, đợt đầu tuyển TNXP đã có trên 1000 thanh niên các dân tộc
thiểu số, 1360 thanh niên theo đạo Thiên Chúa tham gia. Cả những nhà sư cũng không thể
tĩnh tâm tụng kinh gõ mõ. Như sư nữ Đàm Thị Dần, trước đây khi cắt tóc đi tu, Dần chỉ
muốn được tĩnh tâm. Nhưng trước cảnh nhà tan cửa nát do giặc Mỹ gây ra, Dần muốn
được phá giới. Đàm Thị Dần mạnh dạn viết đơn gửi Đoàn thanh niên xã và gặp sư bà xin
cho mình đi TNXP. Sư bà tỏ ra thông cảm nhưng vì Dần ăn chay niệm Phật đã được 6
năm, sắp được lên sư bác, nên bà có ý ngần ngại. Dần không nản làm tiếp đơn thứ hai, gửi
thẳng cho Huyện Đoàn đề nghị giúp đỡ. Ngày lên đường của Đàm Thị Dần thật sự là một
ngày hạnh phúc. Cô hăng hái đi bộ 400 kilômét từ Hà Nội vào tận phía Tây Nam Hà Tĩnh
làm nhiệm vụ.
Bên cạnh lớp thanh niên tuổi mười bảy, đôi mươi, nhiều anh chị em thuộc lớp nhiều
tuổi hơn cũng hăng hái gia nhập lực lượng TNXP, với tất cả nhiệt tình cách mạng của tuổi
trẻ. Có đồng chí trước đây đã tham gia Đoàn TNXP trong kháng chiến chống Pháp, nay lại
thiết tha xin được trở lại đội ngũ. Nhiều thanh niên vừa hoàn thành nghĩa vụ quân sự lại
tình nguyện tham gia lực lượng TNXP. Nhiều cán bộ Đoàn gia đình gặp khó khăn, được cử
phụ trách các đội TNXP đã tự thu xếp để có thể lên đường. Hàng ngàn cán bộ y tế, giáo
viên văn hóa đã tình nguyện vào phục vụ trong các đội TNXP. Nhiều đồng chí tình nguyện
không hưởng lương, chỉ hưởng chế độ cung cấp như các đội viên TNXP.
Ninh Bình, Hà Tây, tuyển mỗi tỉnh 110 đoàn viên thanh niên nam tuổi từ 18 đến 25 thành
lập đại hội TNXP đặc biệt phục vụ chiến trường miền Nam, mang phiên hiệu Đoàn K53.
Cũng tháng 9-1965, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ thị cho phép Tổng cục Lâm nghiệp
được tuyển dụng 1000 thanh niên để tổ chức thí điểm “Đội TNXP chống Mỹ, cứu nước”
phục vụ ngành lâm nghiệp. Về sau, ngành lâm nghiệp đã tổ chức được 7 đội TNXP, phần
lớn làm đường vận chuyển, chỉ có một đội làm nhiệm vụ trồng rừng.
Yêu cầu mở đường mới và đảm bảo giao thông trong thời chiến rất lớn. Ngoài lực
lượng TNXP chống Mỹ, cứu nước do Trung ương quản lý, từ tháng 5-1965, tỉnh Thanh
Hóa đã thành lập Đội TNXP chống Mỹ, cứu nước của địa phương, mang phiên hiệu 263
trên cơ sở sáp nhập các đơn vị ở 2 công trường Núi Thành và Đồng Xoài.
Cũng thời gian này, Nghệ An thành lập đội TNXP chống Mỹ, cứu nước đầu tiên của
tỉnh, mang tên đội Cù Chính Lan. Đến năm 1966, đội được chuyển vào phục vụ trong
ngành giao thông vận tải Quảng Bình tỉnh lại quyết định thành lập Tổng đội TNXP Cù
Chính Lan trực thuộc ủy ban tỉnh nhằm phát huy tính chủ động sáng tạo, tự đảm nhận các
công trình xây dựng và đảm bảo giao thông của TNXP. Qua 3 nhiệm kỳ, 18.000 lượt cán
bộ, đoàn viên thanh niên đã trực tiếp phục vụ trong Tổng đội TNXP Cù Chính Lan góp
phần mở thêm hàng trăm kilômét đường mới, sửa chữa hàng trăm cầu, phà, đảm bảo giao
thông suốt trên nhiều tuyến đường, ở hầu hết các vị trí xung yếu như Cầu Cấm, Truông
Bồn, Phương Tích, Bến Thủy, Hoàng Mai, Cầu Giát, Thái Hòa, rú Nguộc, núi Trét, Bàu
Bàng…
Ngoài nhiệm vụ đảm bảo giao thông trên những tuyến đường huyết mạch trong
tỉnh, Tổng đội còn cử 1.500 cán bộ, đội viên chi viện cho tỉnh Quảng Bình bốc xếp, chuyển
tải hàng hóa tại nam-bắc sông Gianh từ năm 1967-1968. Năm 1969-1970 đi làm nhiệm vụ
vận tải hàng hóa vào Tây Quảng Trị - Thừa Thiên. Năm 1970-1971 tham gia chiến dịch
Nam Lào - đường 9. 4.000 cán bộ, đội viên làm nhiệm vụ đảm bảo tuyến đường sắt phía
Nam từ Hàm Rồng đến Vinh-Bến Thủy.
Trong những tháng cuối năm 1965, đầu năm 1966, các tỉnh, thành phố đều lần lượt
thành lập đội TNXP chống Mỹ, cứu nước do địa phương quản lý. Hà Nội có đội 51, Hải
Phòng có đội 77, Ninh Bình có đội 3, Thanh Hóa sau khi thành lập đội 263 đến tháng 12-
1965 lại thành lập thêm đội 696, Bắc Thái có đội XP91-TC,v.v…
dựng đội 198 mang tên Thành Đồng, nửa còn lại biên chế các bộ phận thuộc văn phòng
Tổng đội. Đồng chí Nguyễn Đức Toàn, ủy viên Thường vụ Trung ương Đoàn được cử làm
Tổng đội trưởng.
Căn cứ nghị quyết Đại hội Đoàn TNND cách mạng lần thứ nhất, TNXP giải phóng miền
Nam được thành lập theo 3 hình thức: TNXP giải phóng miền Nam tập trung dài hạn, làm
nhiệm vụ phục vụ chiến trường, ngày đêm sát cánh với các đơn vị quân giải phóng miền
Nam, tải thương, vận chuyển hàng chiến lược, vũ khí, làm cầu đường. Các đội thường hoạt
động phân tán theo từng trung đoàn quân giải phóng hoặc ở một hướng chiến trường nhất
định.
Hình thức thứ hai, TNXP giải phóng miền Nam tập trung có thời hạn, do các tỉnh
hoặc các khu Đoàn tổ chức và chỉ đạo. Riêng khu V đã có 5.506 thanh niên xung phong tập
trung của tỉnh và khu, với các liên đội Võ Như Hưng, Võ Thị Sáu. Khu VI có 19 đại đội
với 2.500 đội viên. Các tỉnh thuộc Nam Bộ cũ ít nhất cũng thành lập được một đội TNXP
giải phóng tập trung. Thủ Dầu Một có đội 112 mang tên “Phú Lợi căm thù”, Tây Ninh có
đội 2311 Hoàng Lệ Kha. Long An có đội 29 mang tên “Hiệp Hòa anh dũng”, Mỹ Tho có
đội ấp Bắc I và ấp Bắc II, Bến Tre có đội 2012 Nguyễn Văn Tư. Cần Thơ có đội Tây Đô
quyết thắng, Cà Mau có đội Nguyễn Việt Khái, Rạch Giá có đội Hòn Đất I…
Hình thức thứ ba, TNXP giải phóng miền Nam ở cơ sở (xã, ấp), được tổ chức rộng
rãi ở hầu khắp các tỉnh, với hàng chục ngàn đoàn viên, thanh niên tham gia. Riêng tỉnh Bến
Tre, trong chưa đầy 2 năm (1965-1966) đã có 10.215 đội viên. Một số xã, đội viên TNXP
chiếm trên 60% tổng số đoàn viên, thanh niên ở địa phương.
Đội viên TNXP ở cơ sở và TNXP tập trung có thời hạn là nguồn bổ sung dồi dào
cho bộ đội và TNXP tập trung dài hạn. Khi thành lập Tổng đội TNXP giải phóng miền
Nam, Thường vụ Trung ương Đoàn đã quyết định rút lực lượng TNXP các tỉnh về bổ sung
lực lượng xây dựng Tổng đội.
Năm 1967, trước yêu cầu của chiến trường, các đơn vị trong Tổng đội được biên chế
thành 3 liên đội (tiểu đoàn). Mỗi liên đội phối thuộc, gắn bó với một sư đoàn chủ lực miền
và mang phiên hiệu của sư đoàn đó, gồm liên đội 9, liên đội 5 và liên đội 7. ở chiến trường
khu V và khu VI, TNXP được chuyển sang trực thuộc hậu cần quân khu làm nhiệm vụ
phục vụ theo các đường hành lang.
xuống cắt bom, Nguyễn Viết Xuân cố nén đau, dồn sức hô to:
- Các đồng chí! Máy bay Mỹ không có gì đáng sợ, học tập Nguyễn Văn Trỗi, các
đồng chí hãy nhằm thẳng quân thù mà bắn!
“Nhằm thẳng quân thù, bắn” đã trở thành khẩu hiệu chiến đấu của toàn quân, toàn dân
và thanh niên Việt Nam trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Trên các trận
địa bắn máy bay Mỹ, trong các chiến hào đối mặt kẻ thù, ở đâu cũng vang lên tiếng hô đầy
dũng khí: “Nhằm thẳng quân thù, bắn!”.
Càng trong gian khổ, ác liệt, phẩm chất anh hùng của tuổi trẻ “Ba sẵn sàng” càng
bộc lộ rõ nét. Cầu Hàm Rồng là một trong những biểu tượng của tinh thần quyết thắng của
quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. “Cầu Hàm Rồng không những tượng
trưng cho cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam chống Mỹ xâm lược mà còn tượng trưng
cho thắng lợi. Đó là “Đài chiến thắng” xây dựng ngay trong lúc còn chiến đấu và do chiến
đấu” (lời ông Chủ tịch Ban liên lạc quốc tế Hội nghị Xtốckhôm về Việt Nam
Béctanhxvantrân).
Từ ngày 3 và 4 tháng 4 năm 1965 cho đến suốt hai đợt gây chiến tranh phá hoại của
không quân Mỹ đối với miền Bắc, cầu Hàm Rồng (Thanh Hóa), luôn là mục tiêu đánh phá
của chúng. Trong các ngày 3 và 4-4-1965 đã diễn ra những trận chiến đấu hiệp đồng tuyệt
vời giữa các quân, binh chủng, các lực lượng, không quân, hải quân, bộ đội pháo cao xạ,
dân quân tự vệ… không quân nhân dân trẻ tuổi lần đầu tiên xuất kích đã lập công vẻ vang.
Ngày 3-4 biên đội máy bay Phạm Ngọc Lan bắn rơi chiếc F8. Ngày 4-4 biên đội máy bay
Trần Hanh bắn rơi 2 chiếc F105. Các tàu hải quân cơ động, linh hoạt chăng lưới dày đặc,
góp phần hạ máy bay địch.
Các lực lượng pháo cao xạ và dân quân tự vệ ngoan cường, dũng cảm giữ vững vị trí
chiến đấu. Đại đội 4 pháo cao xạ Hàm Rồng, trận địa đóng trên đồi “3 cây thông” bất chấp
những trận bom địch xối xả xuống trận địa, kiên cường bắn trả máy bay Mỹ. Nhiều chiến
sĩ trẻ, như Vũ Minh Dương, 2 lần bị thương vẫn không chịu rời trận địa; Lê Như Đắc bị
ngất, nhưng khi tỉnh lại câu hỏi đầu tiên của anh là: “Cầu có việc gì không? Anh em có ai
việc gì không?”. Các chiến sĩ trẻ đơn vị phòng không 19-5, hiệp đồng chặt chẽ, đánh địch
đúng tầm, đúng hướng, thực hiện “đã ra quân là chiến thắng”.
Lực lượng dân quân tự vệ Hàm Rồng - Nam Ngạn luôn tỏ ra ngoan cường, xông xáo
phục. Thái Văn A, chiến sĩ quan trắc của đảo, ngày đêm bám vị trí chiến đấu, kể cả lúc
bom đạn địch trút xuống quanh mình dày đặc, anh vẫn bình tĩnh quan sát, thông báo kịp
thời từng diễn biến để đơn vị tổ chức đánh địch có hiệu quả.
Anh trở thành “Cây ra đa sống” của đảo. Bùi Thanh Phong, một pháo thủ gan góc,
mấy lần bị bom Mỹ vùi xuống đất, cả mấy lần anh đều đội đất đứng lên tiếp tục chiến đấu.
Cùng với tập thể đảo Cồn Cỏ, Thái Văn A và Bùi Thanh Phong đã được Nhà nước phong
tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang.
Cồn Cỏ trở thành biểu tượng của sức mạnh chiến thắng của quân và dân ta trong
những năm kháng chiến chống Mỹ. Những nơi máy bay địch thường xuyên đánh phá ác
liệt đều được mệnh danh là Cồn Cỏ. Và những đoàn viên và thanh niên được phân công
làm nhiệm vụ ở những vị trí trọng yếu đó đều thấy vinh dự, tự hào và đều nêu cao tinh thần
bám trụ đến cùng, như các chiến sĩ Cồn Cỏ kiên cường bám đảo.
Vào thời điểm quyết liệt của cuộc chiến đấu, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân
Việt Nam phát động phong trào giành danh hiệu “Đơn vị quyết thắng” và “Chiến sĩ quyết
thắng”. Cũng thời gian này, Trung ương Đoàn TNLĐ Việt Nam quyết định đặt cờ thưởng
mang chân dung Nguyễn Văn Trỗi tặng những tập thể lập công xuất sắc trong chiến đấu,
sản xuất, học tập và rèn luyện. Về sau Trung ương Đoàn còn đặt phần thưởng huy hiệu
mang chân dung Nguyễn Văn Trỗi tặng những cá nhân có thành tích xuất sắc. Khí thế thi
đua lập công trong tuổi trẻ các lực lượng vũ trang và trong mọi đối tượng thanh niên ngày
càng sôi nổi. Những gương sáng về hạ máy bay địch tại chỗ, hạ ngay từ loạt đạn đầu xuất
hiện ngày một nhiều. Đó là các tập thể tiểu đoàn pháo cao xạ Nguyễn Viết Xuân, các lực
lượng pháo phòng không bảo vệ Hà Nội, Hải Phòng và các địa phương khác… cảnh giác
cao, cơ động linh hoạt, đón đánh địch trong mọi tình huống, đã đánh là thắng. Là những
chiến sĩ trẻ kiên cường, dũng cảm, có quyết tâm tiêu diệt địch cao, Nguyễn Văn Mật, 26
tuổi, tiểu đội trưởng súng máy trực tiếp chiến đấu hơn 200 trận với máy bay, tàu chiến Mỹ,
trận nào cũng lập công. Binh nhất pháo cao xạ Nguyễn Hữu Ngạn, 21 tuổi, trong một năm
liên tục chiến đấu 60 trận, có trận 3 lần bị thương vẫn không rời vị trí. Đó còn là các chiến
sĩ trẻ trong các lực lượng tên lửa, ra đa, thông tin, hậu cần, công binh v.v… ngày đêm
chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu giữ vững bầu trời và mặt biển của Tổ quốc.
Vai trò và vị trí của tổ chức Đoàn trong các lực lượng vũ trang ngày càng được củng
bay Mỹ, trong đó có 57 máy bay B52. Có trận chỉ bằng 1 quả tên lửa đã diệt 2 máy bay.
Đặc biệt trong 12 ngày đêm chiến đấu quyết liệt cuối năm 1972, lực lượng tên lửa đã chiến
đấu dũng cảm và sáng tạo, bắn rơi 37 máy bay Mỹ, trong đó có 32 chiếc B52. Chiến sĩ
điều khiển tên lửa, Trung úy Nguyễn Tuyên là một trong những thanh niên tiêu biểu không
ngừng vươn lên nắm vững khoa học kỹ thuật quân sự hiện đại, góp phần đánh thắng nhiều
loại máy bay Mỹ, được Nhà nước tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang ngay trong
những năm đầu của cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của Mỹ.
Tuổi trẻ phân đội 7, hải quân, Đoàn Không quân Sao Đỏ… vừa chiến đấu, vừa xây
dựng đã trưởng thành nhanh chóng, đọ sức hàng trăm trận với máy bay tàu chiến Mỹ, hạ
hàng chục máy bay, đánh đắm hàng trăm tàu thuyền của chúng. Tính đến năm 1975, nhân
dân đã chiến đấu hàng ngàn trận với hải quân, không quân và cả bộ binh Mỹ-Ngụy đánh
chìm 353 tàu, xuồng chiến đấu, vận tải quân sự của địch, diệt 2.000 tên, phá hủy hàng chục
vạn tấn vũ khí và phương tiện chiến tranh của địch; đánh bị thương nặng 45 tàu các loại,
trong đó có nhiều tàu lớn như tàu tuần dương Niupo Niu, tàu khu trục Oasinhtơn… bắn rơi
118 máy bay, diệt 35 xe tăng, tháo gỡ và phá nổ hàng nghìn quả thủy lôi và bom các loại
của địch.
Trong mười năm đọ sức với không quân và hải quân Mỹ, không quân nhân dân Việt
Nam, một binh chủng mới được xây dựng mà hầu hết sĩ quan, chiến sĩ, đang độ tuổi thanh
xuân, đã xây dựng nên truyền thống “trung thành vô hạn, tiến công kiên quyết, đoàn kết
hiệp đồng lập công tập thể”, chiến đấu hơn 300 trận, bắn rơi 320 máy bay Mỹ, gồm 19
loại, trong đó có 2 máy bay B52, phá hủy 24 chiếc, đánh chìm và bắn cháy 6 tàu chiến và
tàu biệt kích, đánh thiệt hại nặng 3 căn cứ quân sự địch. Có trung đoàn bắn rơi 100 máy
bay, có đại đội bắn rơi trên 60 chiếc. Nhiều chiến sĩ lái đã lập công xuất sắc. Tiêu biểu là
các Anh hùng không quân trẻ tuổi Nguyễn Văn Bảy, Lê Thanh Đạo, Nguyễn Văn Cốc,
Phạm Tuân…
Với khẩu hiệu “Toàn dân vũ trang, toàn dân đánh giặc”, thanh niên luôn giữ vai trò
nòng cốt trong các lực lượng dân quân tự vệ, đã nêu cao tinh thần chiến đấu và phục vụ
chiến đấu, sản xuất và bảo vệ sản xuất trong mọi tình huống. Hàng trăm đơn vị đã bắn rơi
hoặc cùng bộ đội bắn rơi máy bay Mỹ. Tiêu biểu là thanh niên dân quân Yên Vực - Nam
Ngạn (Thanh Hóa), Quỳnh Lưu (Nghệ An), Cảnh Dương (Quảng Bình), Vĩnh Thái (Vĩnh
cảm, đánh địch trong mọi tình huống. 2 thanh niên người H’Mông xã Kim Bon (Phù Yên)
bắn rơi tại chỗ 1 máy bay F105, là xã vùng cao đầu tiên của miền Bắc bắn rơi máy bay Mỹ.
Đoàn viên Mùa Lao Chu, người dân tộc H’Mông, đang làm ruộng, đã lợi dụng thân trâu
làm giá súng bắn bị thương máy bay Mỹ. Đoàn viên Giàng A Dênh dùng súng trường bắn
rơi máy bay trực thăng Mỹ khi chúng đến cứu đồng bọn, giết chết tên giặc lái đang leo
thang máy bay.
*
* *
Trên chiến trường miền Nam, ngay khi quân Mỹ vừa ồ ạt kéo vào miền Nam, tuổi
trẻ “Năm xung phong” đã đương đầu một cách oanh liệt. Từ trận Vạn Tường mở đầu, tuổi
trẻ cùng đồng bào và chiến sĩ miền Nam đã khẳng định là có thể đánh và nhất định đánh
thắng Mỹ. Vừa chiến đấu vừa tìm hiểu những chỗ yếu của quân đội Mỹ, thanh niên miền
Nam Việt Nam đã cùng quân và dân khắp các địa phương sáng tạo nhiều cách đánh phong
phú, táo bạo. Quân Mỹ đi đến đâu, gieo tai họa ở chỗ nào là ở đó chúng phải trả nợ máu.
Chúng bị vây, bị chặn đánh ở mọi nơi, mọi lúc. Những mũi chông sắc nhọn, những phát
súng bắn tỉa bất thần của các chiến sĩ trẻ tuổi đã diệt hàng ngàn tên xâm lược. Củ Chi trở
thành đất thép, với những địa đạo ngang dọc, vây hãm quân thù vào trong trận đồ bát quái,
chúng đã vào là khó có đường ra. Những bài học sinh động của Củ Chi mở ra hướng đi có
hiệu quả trong chiến đấu. Chiến khu Đ lần đầu tiên Mỹ đưa lực lượng lớn, kể cả bọn chư
hầu đến càn quét đã bị du kích, phần lớn là đoàn viên, thanh niên đánh tiêu diệt. Du kích
Thái Hòa (Phước Thành) chỉ một tiểu đội đã đương đầu với cả 2 tiểu đoàn Mỹ có máy bay,
pháo binh và cơ giới yểm trợ, suốt một ngày trời, vừa sửa công sự vừa đánh địch, cuối
cùng buộc chúng phải rút lui. Vành đai Rạch Kiến (Long An) vừa kết hợp đấu tranh vũ
trang với đấu tranh chính trị chỉ trong 6 tháng đã diệt hơn 200 tên Mỹ.
ở Mỹ Tho, ngay từ ngày đầu Mỹ tiến hành xây dựng căn cứ Đồng Tâm làm bàn
đạp khống chế cả vùng đồng bằng sông Cửu Long rộng lớn, tuổi trẻ đã cùng quân và dân
trong tỉnh hình thành thế bao vây tiến cống địch bằng “2 chân và 3 mũi giáp công”. Cả
những thanh niên mới lớn cũng tham gia đánh Mỹ bằng nhiều cách có hiệu quả. Hồ Văn
Nhánh, 16 tuổi, nhà ở gần căn cứ Đồng Tâm. Hàng ngày đi coi trâu gần căn cứ, Nhánh chú
ý quan sát và phát hiện trên hàng rào địch gài nhiều mìn và lựu đạn. Anh nảy ra ý định gỡ
mang tên Anh hùng Võ Như Hưng do Huyện Đoàn Điện Bàn tổ chức, nhanh chóng nổi lên
với nhiều cách đánh mưu trí, táo bạo. Đội ra mắt tại Gò Nổi, phía Nam sông Thu Bồn, với
lực lượng ban đầu 31 tay súng. Trong một trận đánh không cân sức, đội đã chiến đấu kiên
cường, đánh lui một lực lượng liên hợp gồm 3 tiểu đoàn quân Mỹ và ngụy, diệt 125 tên,
bắn cháy 5 xe tăng và xe bọc thép, rồi thừa thắng, truy kích địch vào tận thị xã Vĩnh Diện.
Tại đây, một lực nhỏ của đội trụ lại, thoắt ẩn, thoắt hiện bám đánh địch liên tiếp trong
nhiều ngày. Đội “thiếu niên quyết tử Nguyễn Văn Trỗi” ở Điện Hòa chỉ có 6 em cũng đã
lập công xuất sắc: Trong 3 tháng diệt 135 tên Mỹ và thu được 15 súng. Tại thành phố Sài
Gòn và các thành phố, thị xã khác đã xuất hiện những “đội quân ngầm” hoạt động táo bạo,
đánh sập nhiều bin đinh, cư xá Mỹ, diệt hàng trăm tên giặc xâm lược, trong đó có nhiều tên
giặc lái nhà nghề và nhiều sĩ quan cao cấp Mỹ.
Tổ chức Đoàn ở nhiều nơi còn góp phần tổ chức những đơn vị chiến đấu gồm toàn
nữ thanh niên. 6 nữ thanh niên du kích ở Quế Sơn (Quảng Nam) 7 ngày đêm liền chống trả
một trung đoàn địch đến càn quét, diệt 59 tên Mỹ-Ngụy, hạ một máy bay. Chị em vừa cầm
súng chiến đấu quyết liệt, khi lực lượng địch mạnh, tràn được vào trong thôn xóm, chị em
lại giấu súng, trở thành những cô gái dịu dàng trò chuyện thuyết phục từng tên địch. Địch
rút ra ngoài, chị em lại cầm súng, đón đánh đợt tấn công tiếp của chúng. Trong nhiều
huyện của miền Tây và miền Đông Nam Bộ còn xuất hiện những đơn vị nữ pháo binh ở
Rạch Giá, Long An, nhất là đội nữ pháo binh quận Lái Thiêu (Thủ Dầu Một) chỉ sau 10
ngày huấn luyện đã sử dụng thành thạo các trang bị kỹ thuật, bắn chính xác, diệt 37 tên
địch, trong đó có một đại úy ngụy.
Trong gian khổ ác liệt, phong trào “Xung phong tiêu diệt thật nhiều sinh lực địch”
của thanh niên trong tất cả các thứ quân trên chiến trường miền Nam ngày càng phát triển,
làm nảy nở nhiều tấm gương tiêu biểu. Dương Văn Tân, kiện tướng diệt Mỹ trẻ tuổi của
Tây Ninh, cùng tổ chiến đấu của mình trong 16 ngày đêm đánh tan xác và đánh hỏng 16 xe
tăng, xe bọc thép, diệt 87 tên Mỹ. Từ Văn Phước, 26 tuổi, dũng sĩ diệt Mỹ Thủ Dầu Một,
trong 13 tháng chiến đấu ở vùng sát địch quận Lái Thiêu đã diệt 71 tên Mỹ, 17 lính Nam
Triều Tiên, 45 lính ngụy… Chỉ riêng năm 1966 tất cả đoàn viên và thanh niên ở miền
Đông Nam Bộ đều vượt chỉ tiêu diệt Mỹ. Qua hiệp đầu đánh bại cuộc phản công mùa khô