Lịch sử Đoàn chương 5 - Pdf 48

CHƯƠNG V
KIÊN CƯƠNG KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC, LÀM
THẤT BẠI ÂM MƯU ĐÁNH NHANH THẮNG NHANH CỦA ĐỊCH

Trước dã tâm xâm lược của thực dân Pháp, Đảng triệu tập khẩn cấp Hội nghị Ban
Thường vụ Trung ương mở rộng, họp trong 2 ngày 18 và 19-12-1946 tại làng Vạn Phúc
(Hà Đông) quyết định phát động toàn dân cầm vũ khí đứng lên chống thực dân Pháp xâm
lược, bảo vệ nền độc lập, tự do vừa giành được.
Ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến.
Người nói: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng
nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa.
Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không
chịu làm nô lệ... Hỡi đồng bào!... là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp
để cứu Tổ quốc...”
Đáp lời kêu gọi cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, theo đường lối kháng chiến
đúng đắn do Đảng vạch ra, thanh niên cả nước cùng toàn dân nhất tề đứng lên giết giặc
cứu nước.
Đêm 19-12-1946, cuộc chiến đấu của thanh niên và nhân dân nước ta nổ ra ở Thủ đô Hà
Nội và các thành phố, thị xã như: Hải Phòng, Hải Dương, Vinh, Huế, Đà Nẵng...
Tại Thủ đô Hà Nội, với lòng căm thù giặc sôi sục, với ý chí bất khuất, kiên cường,
quân dân và thanh niên thành phố đã tấn công mãnh liệt vào quân cướp nước, 20 giờ ngày
19-12-1946, công nhân nhà máy điện được lệnh phá máy, tắt đèn. Giờ cứu nước đã điểm,
toàn thành phố nổ súng. Từ các pháo đài Láng, Xuân Tão, Xuân Canh, Đào Xuyên, Đoàn
pháo binh Thủ đô nã đại bác vào các trại lính Pháp. Các lực lượng vệ quốc quân, công an
xung phong, tự vệ chiến đấu, đồng loạt tiến công các vị trí của giặc. Thanh niên tự vệ chặt
cây, nổ mìn, ngả cột điện, đánh đổ toa xe lửa, xe điện, nhân dân khuân vác giường, tủ, bàn
ghế ra đường làm chướng ngại vật chặn quân thù. Tiếng súng, lựu đạn, bom, mìn, tiếng hô
xung phong, tiếng loa phát thanh của tự vệ, tiếng hát của đoàn quân cảm tử... tất cả hòa
quyện thành bản anh hùng ca của nhân dân Hà Nội trong đêm đầu toàn quốc kháng chiến,
phản ánh ý chí sắt thép của tuổi trẻ Thủ đô: “Hà Nội mồ chôn giặc Pháp”, “Thề sống chết
với Thủ đô”.

đoàn 48 và Trung đoàn 52. Mỗi trung đoàn có trên dưới 2000 cán bộ, chiến sĩ vốn là thanh
niên công nhân, dân nghèo thành thị, nông dân ngoại thành, học sinh, sinh viên và một số
thiếu niên... Nhiệm vụ của các trung đoàn là chiến đấu tiêu hao sinh lực và giam chân địch
trong lòng Hà Nội.
Ngày 6-1-1947, hàng nghìn quân Pháp với máy bay, xe tăng, đại bác yểm trợ, ồ ạt tấn công
vào khu Giảng Võ - Ô Chợ Dừa. Các chiến sĩ đại đội 2 thuộc tiểu doàn 56, chiến khu II Hà
Nội chiến đấu anh dũng, ngoan cường mặc dù lực lượng không cân sức. Tấm gương hy
sinh của Tiểu đội trưởng Nguyễn Phúc Lai ôm bom ba càng lao vào diệt xe tăng địch, chặn
đường tiến quân của giặc, nêu tấm gương sáng “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.
Trong những ngày đêm ác liệt, bộn bề công việc lãnh đạo cuộc kháng chiến nhưng
khi được tin Vũ Chí Thành hy sinh. Chủ tịch Hồ Chí Minh liền viết thư chia buồn với bác
sĩ Vũ Đình Tụng, cha của liệt sĩ với những lời cảm động và đầy kích lệ: “Ngài biết rằng tôi
không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả thanh
niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột.
Nhưng cháu và anh em thanh niên khác dũng cảm hy sinh để giữ gìn đất nước. Thế
là họ đã làm rạng rỡ dân tộc, vẻ vang giống nòi. Họ chết cho Tổ quốc sống mãi; vật chất
họ mất nhưng tinh thần họ vẫn luôn luôn sống với non sông Việt Nam...”
Xuân Đinh Hợi (1947) đến vào lúc cuộc chiến đấu đang diễn ra quyết liệt giữa lòng
Hà Nội, các cán bộ chiến sĩ Thủ đô vô cùng xúc động khi nhận thư thăm hỏi, động viên
của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong thư, Người viết: “Các em là đội cảm tử. Các em cảm tử
để cho Tổ quốc quyết sinh. Các em là đại biểu cái tinh thần tự tôn, tự lập của dân tộc ta
mấy nghìn năm để lại, cái tinh thần quật cường đó đã kinh qua Hai Bà Trưng, Lý Thường
Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, truyền
lại cho các em. Nay các em gan góc tiếp tục cái tinh thần bất diệt đó, để truyền lại cho nòi
giống Việt Nam muôn đời về sau”.
Ngày 7-2-1947, thực dân Pháp từ bốn hướng mở cuộc tổng tấn công vào trung tâm
Thủ đô. Những cánh quân xâm lược hàng trăm tên có máy bay ném bom, xe tăng dọn
đường, điên cuồng tiến vào các đường phố như Cầu Gỗ, Hàng Nón, Hàng Thiếc, Hàng
Lược, Hàng Đường, Chợ Đồng Xuân,v.v... Ba mươi sáu phố phường Hà Nội rền vang
tiếng súng. Cuộc chiến đấu giữa ta và địch diễn ra hết sức ác liệt. Nhiều tấm gương chiến

vây chặt trong thành phố 90 ngày đêm, 400 tên bị tiêu diệt. Tại Bắc Ninh, Bắc Giang, 2 đại
đội Pháp bỏ mạng trước sức tiến công của lực lượng du kích, tự vệ. Tại Hải Dương, Hòn
Gai, một số đơn vị lẻ của quân Pháp bị tiêu diệt. Tại Vinh, bọn Pháp phải đầu hàng. Tại
Huế, cuộc chiến đấu quyết liệt kéo dài hơn một tháng, ta tiêu diệt 400 tên Pháp. Tại Đà
Nẵng, 10.000 quân giặc bị vây hãm trong thành phố 3 tháng, 300 lính Pháp bị tiêu diệt.
Quân dân Đà Nẵng phá huỷ nhiều xe tăng, đốt phá các kho bom, xăng... Các chiến sĩ Ngô
Văn Minh, Trần Đức, Ngô Hiệp... mưu trí, táo bạo đã tiêu diệt hàng chục giặc Pháp. Tuổi
trẻ Quảng Nam - Đà Nẵng đã góp phần xứng đáng vào phần thưởng cao quý mà đồng chí
Phạm Văn Đồng, thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ trao tặng mặt trận Quảng Nam
- Đà Nẵng lá cờ vẻ vang anh dũng bảo vệ Tổ quốc.
ở Nam Bộ, trong 3 tháng đầu năm 1947, ta có nhiều trận đột kích vào Sài Gòn, Chợ
Lớn, Gia Định, sân bay Tân Sơn Nhất và trên đường xe lửa Sài Gòn - Mỹ Tho. Tại Sài
Gòn, du kích đột nhập sở mật thám Bình Tây, diệt tên ác ôn Lê Ngọc, bắn gãy chân tên
Sáu Đê. Anh Trần Công Thành dũng cảm xông vào tòa soạn báo Quốc Hồn trừng trị bọn
bồi bút bôi nhọ kháng chiến. Đặc biệt là chiến công của anh Võ Hồng Tám, đội viên du
kích Tây Hồ đã cắt cổ tên đại tá Pháp Inphailơ tại khách sạn Nationan ở đường Sắcne (nay
là đường Nguyễn Huệ). Nhiều cuộc hành quân, càn quét của địch ở đồng bằng sông Cửu
Long bị đánh bại. Chiến tranh du kích ở các vùng bị địch chiếm đóng được phối hợp với
những cuộc đình công, bãi khóa, bãi thị của công nhân, học sinh và nhân dân. Phong trào
thanh niên tòng quân sôi nổi khắp Nam Bộ. Tại Bạc Liêu có 500 du kích tập trung và 1000
du kích xã, ấp, một đội tự vệ chiến đấu. Hầu khắp các tỉnh Nam Bộ đều có chi đội bộ đội.
Toàn khu 7 có 16 chi đội, Sài Gòn có 10 ban công tác và nhiều đội cảm tử. ở khu 9, đến
cuối tháng 6-1946 mỗi tỉnh có từ hai trung đội đến một đại đội Vệ quốc đoàn. những trận
đánh bất ngờ cùng những hoạt động du kích của quân dân khu 4 đã buộc địch phải rút hết
đồn bốt đóng sâu trong vùng nông thôn.
Kế hoạch đánh nhanh, thắng nhanh của địch đã bị thất bại. Đồng thời với việc chuẩn
bị mở những cuộc tấn công mới, thực dân Pháp chủ trương bình định những vùng đã chiếm
để thực hiện âm mưu thâm độc “dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi
chiến tranh”. Đối với thanh niên, thực dân Pháp dùng thủ đoạn vừa mua chuộc, lôi kéo,
vừa đàn áp, khủng bố. Chúng còn thành lập ra các tổ chức thanh niên phản động để lôi kéo,

thời chỉ rõ cần khắc phục ngay khuyết điểm phát triển đoàn viên một cách ồ ạt theo kiểu
“đánh trống ghi tên” ở một số nơi.
Ngày 28-9-1948, Ban Thường vụ Trung ương có Chỉ thị gửi các cấp bộ Đảng "Về
việc củng cố Thanh niên Cứu quốc, phát triển Đoàn thanh niên Việt Nam để thống nhất
Mặt trận thanh niên".
Chỉ thị nêu rõ: “Chủ trương của Trung ương là thống nhất mọi lực lượng Thanh
niên vào một Mặt trận, Mặt trận ấy là Đoàn Thanh niên Việt Nam... Trong Đoàn Thanh
niên Việt Nam, Thanh niên Cứu quốc phải là trụ cột và có một hệ thống chắc chắn từ trên
xuống dưới. Đảng sẽ nắm chắc lấy trụ cột ấy để dễ điều khiển các tổ chức khác và các tầng
lớp thanh niên rộng rãi trong nước...”
Chỉ thị của Trung ương đã nêu nhiệm vụ cho các cấp bộ Đảng là phải củng cố thanh
niên cứu quốc và phát triển Đoàn thanh niên Việt Nam. “Đoàn TNCQ là đoàn thể tập hợp
các thanh niên yêu nước, tích cực, cấp tiến, có tinh thần dân chủ rõ rệt. Thanh niên Cứu
quốc không những chỉ gồm có thanh niên nông dân mà phải bao gồm cả thanh niên trí
thức, tiểu tư sản. Củng cố TNCQ còn phải đặc biệt chú trọng củng cố các Ban Chấp
hành...”
Đoàn thanh niên Việt Nam cần phải đoàn kết, tập hợp rộng rãi mọi tầng lớp thanh
niên, kể cả thanh niên con em gia đình phú nông, địa chủ, tư sản có tinh thần yêu nước,
ủng hộ kháng chiến, phát triển Đoàn Thanh niên Việt Nam trong các vùng công giáo. Ngay
trong các vùng bị chiếm đóng, Đoàn Thanh niên Việt Nam lợi dụng những khả năng hợp
pháp để xây dựng tổ chức qua các hội bóng, hội nhạc, nhóm học tập của thanh niên.
Về công tác tuyên truyền huấn luyện thanh niên, bản chỉ thị nêu rõ: Đoàn Thanh niên
Việt Nam và Thanh niên Cứu quốc phải ra ngay những tờ báo của mình để tuyên truyền,
giáo dục, động viên đông đảo thanh niên hăng hái tham gia kháng chiến, kiến quốc.
Bản chỉ thị trên của Ban Thường vụ Trung ương đã đặt cơ sở quan trọng về tổ chức
và tư tưởng của công tác vận động thanh niên, phù hợp với yêu cầu phát triển của cuộc
kháng chiến.
Đặc biệt, Hội nghị Thanh vận của Đảng được triệu tập vào tháng 6-1949, tại căn cứ địa
Việt Bắc, đánh dấu bước chuyển biến rất quan trọng về công tác vận động thanh niên của
Đảng trước những đòi hỏi mới của công cuộc kháng chiến. Hội nghị do đồng chí Hoàng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status