CHƯƠNG IV
THANH NIÊN CẢ NƯỚC HĂNG HÁI THAM GIA BẢO VỆ, XÂY DỰNG CHÍNH
QUYỀN CÁCH MẠNG
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và sự ra đời nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc - kỷ
nguyên độc lập, tự do - Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là Nhà nước dân chủ, Nhà
nước công nông đầu tiên trong lịch sử dân tộc và ở Đông Nam châu á. Vừa mới ra đời,
Nhà nước cách mạng non trẻ đã phải đương đầu ngay với thù trong, giặc ngoài, với muôn
vàn khó khăn trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Nhưng dưới sự lãnh đạo sáng suốt,
khôn khéo, tài tình và kiên quyết của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam
đã vượt qua mọi thác ghềnh, nền độc lập vừa giành được chẳng những không bị thủ tiêu,
trái lại đã đứng vững trong những hoàn cảnh hết sức hiểm nghèo. Nhờ vậy, ít lâu sau nhân
dân và tuổi trẻ Việt Nam đã bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ với tư thế của người
làm chủ đất nước.
Sau khi giành được độc lập, vấn đề cơ bản nhất đặt ra cho Đảng và nhân dân ta là giữ
vững chính quyền trước sự tiến công điên cuồng của kẻ thù cùng những thế lực nguy hiểm,
từng bước xây dựng chế độ mới, đưa cách mạng vững bước tiến lên.
Trên đất nước Việt Nam chưa bao giờ có nhiều kẻ thù như lúc này. ở miền Bắc, từ
cuối tháng 8 đến đầu tháng 9 - 1945, khoảng 200.000 quân Tưởng Giới Thạch dưới danh
nghĩa quân Đồng Minh tràn vào chiếm đóng Thủ đô Hà Nội và hầu hết các thành phố, thị
xã từ biên giới Việt - Trung đến vĩ tuyến 16. Chúng tập hợp tất cả các lực lượng phản cách
mạng trong Việt quốc, Việt cách, bọn Đại Việt, bọn Tờrốtkít cùng bọn phản động trong
giai cấp địa chủ, tư sản, trong các tôn giáo... để chống phá, lật đổ chính quyền cách mạng.
Ở miền Nam, ngày 23-9, quân Pháp được quân Anh, quân Nhật yểm trợ, bắt đầu nổ
súng đánh chiếm Sài Gòn rồi mở rộng dần các tỉnh Nam Bộ, Nam Trung Bộ, bọn Tờrốtkít,
bọn phản động trong các giáo phái... nhảy ra làm tay sai cho Pháp.
Nhà nước ta đứng trước tình hình cực kỳ khó khăn, thiếu thốn từ tài chính, lương thực
đến vũ khí, thuốc men... nền kinh tế của đất nước vốn nghèo nàn, lạc hậu lại bị Pháp, Nhật
vơ vét xác xơ dẫn đến nạn đói khủng khiếp năm 1945 làm 2 triệu người chết; 50% ruộng
đất ở đồng bằng Bắc Bộ bị bỏ hoang, sản xuất công nghiệp đình đốn, hàng vạn công nhân
những thửa ruộng hoang hóa ở ngoại thành để trồng lúa, trồng màu, Đoàn còn tổ chức các
đội thanh niên đi về nông thôn, lên miền trung du, miền núi để tham gia sản xuất lương
thực... Những hoạt động tích cực của đoàn viên, thanh niên đã góp phần nhanh chóng khôi
phục sản xuất nông nghiệp, đẩy lùi nạn đói.
Để thiết thực giúp Chính phủ giải quyết khó khăn to lớn về tài chính, Đoàn đã động
viên đoàn viên, thanh niên đi đầu tuyên truyền, vận động xây dựng “Quỹ độc lập” và
“Tuần lễ vàng”. ở các tỉnh, thành trong cả nước nhất là tại Hà Nội, Sài Gòn, Hải Phòng...
thanh niên đã góp phần tích cực vào việc động viên, cổ vũ lòng yêu nước của các tầng lớp
nhân dân. Kết quả là đã quyên góp được cho Nhà nước 370 kilôgam vàng trong “Tuần lễ
vàng” và 20.000.000 đồng vào “Quỹ độc lập”.
Đồng thời với những thắng lợi bước đầu trên mặt trận kinh tế, tài chính, chính quyền
cách mạng đã có những cố gắng lớn và giành được nhiều thành tích trên lĩnh vực văn hóa.
Sau Cách mạng Tháng Tám, một trong những việc mà Hồ Chủ tịch quan tâm là phát động
một cao trào toàn dân chống nạn mù chữ để mở mang kiến thức cho nhân dân lao động.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì vậy, tôi đề nghị mở
một chiến dịch để chống nạn mù chữ”. Người nhắc nhở toàn dân hăng hái tham gia dạy và
học chữ quốc ngữ: “Những người đã biết chữ hãy dạy cho những người chưa biết chữ...
Những người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học cho biết... Vợ chưa biết thì chồng bảo...
cha mẹ không biết thì con bảo... phụ nữ lại càng phải học”. Người giao nhiệm vụ cho thanh
niên: “Công việc này, mong anh chị em thanh niên sốt sắng giúp sức”.
Thanh niên là lực lượng nòng cốt trong phong trào diệt dốt. ở Hà Nội, hơn 2.000
đoàn viên, thanh niên, phần lớn là học sinh, sinh viên tình nguyện làm giáo viên các lớn
bình dân học vụ. Trong một thời gian ngắn, có 74.957 lớp học được tổ chức với 95.665
người tham gia làm “Chiến sĩ diệt dốt”, hầu hết là thanh niên và thiếu niên. Chỉ sau một
năm đã có 2.500.000 người thoát nạn mù chữ. Hệ thống giáo dục phổ thông và đại học
cũng được xây dựng và từng bước phát triển. Tiếng Việt được dùng trong các văn bản
chính thức của Nhà nước và trong việc học tập, giảng dạy ở các trường lớp.
Tháng 9-1945, nhân ngày khai trường năm học đầu tiên sau ngày cách mạng thành
công, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho học sinh dặn dò các cháu cố gắng, siêng năng học
tập, ngoan ngoãn nghe lời thầy cô, thi đua với bạn để sau này đem tài năng đóng góp vào
đô Hà Nội được cử tri tín nhiệm với 98,4% số phiếu bầu. Nhân dân cả nước đã bầu ra 333
đại biểu vào Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đại biểu
Quốc hội trẻ nhất là Nguyễn Đình Thi, 21 tuổi là nhà thơ, nhạc sĩ, một cán bộ Đoàn hoạt
động tích cực trong phong trào thanh niên học sinh yêu nước ở Hà Nội.
Trước tình hình thực dân Pháp nổ súng tiến công ta ở Nam Bộ, bọn Tưởng Giới
Thạch muốn lợi dụng cơ hội này thôn tính nhanh miền Bắc Việt Nam. Đầu tháng 10 năm
1945, Hà ứng Khâm, Tổng tham mưu trưởng quân đội Tưởng Giới Thạch đến Hà Nội để
thực hiện âm mưu nói trên. Nhưng trước cuộc biểu dương lực lượng của hơn 300.000
thanh niên và nhân dân Thủ đô với đội ngũ chỉnh tề, bằng cờ biểu ngữ rợp trời, hô vang
các khẩu hiệu: “Nước Việt Nam của người Việt Nam”, “ủng hộ Chính phủ lâm thời nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”, “ủng hộ Việt Nam độc lập Đồng minh”, “ủng hộ Chủ tịch
Hồ Chí Minh”... Hà ứng Khâm phải chùn tay ngay từ giờ phút đầu trong việc thực hiện ý
đồ thâm độc của y.
Chấp hành chủ trương của Đảng là thực hiện sách lược hòa với Tưởng để kháng chiến
chống Pháp xâm lược, Đoàn giáo dục cho đoàn viên, thanh niên tinh thần đấu tranh kiên
quyết nhưng phải hết sức bình tĩnh, mềm dẻo, cảnh giác, không mắc mưu khiêu khích của
quân Tưởng và bọn tay sai phản động. ở Hà Nội, đông đảo đoàn viên, thanh niên gia nhập
các đơn vị tự vệ chiến đấu. Lực lượng tự vệ Thủ đô đã lập nhiều chiến công xuất sắc, hỗ
trợ đắc lực cho các phong trào đấu tranh của thanh niên, học sinh; góp phần phát hiện,
ngăn chặn nhiều vụ mưu sát, bắt cóc cán bộ, tống tiền nhân dân của bọn phản động.
Ngày 23-9-1945, thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn - Gia Định rồi sau đó
đánh rộng ra cả Nam Bộ, Nam Trung Bộ với sự ủng hộ của quân Anh. 7 giờ sáng 23-9, Xứ
ủy và Uỷ ban Hành chính Nam Bộ (sau đổi thành Uỷ ban Kháng chiến) họp khẩn cấp tại
phố Cây Mai (Chợ Lớn) có đồng chí Hoàng Quốc Việt thay mặt Trung ương Đảng và
Tổng bộ Việt Minh tham dự. Hội nghị quyết định phát động nhân dân kiên quyết kháng
chiến chống xâm lược. Uỷ ban kháng chiến Nam Bộ được thành lập, ra lệnh Tổng bãi
công, bãi thị, bất hợp tác với địch, phong tỏa địch...
Tuổi trẻ Nam Bộ cùng nhân dân Nam Bộ không tiếc xương máu, anh dũng bước vào
cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ.
Ngay từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến, tuổi trẻ Sài Gòn đã ghi được nhiều
Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ để nắm tình hình chiến trường và truyền đạt ý kiến chỉ
đạo của Trung ương và Bác Hồ, động viên đồng bào chiến sĩ giữ vững tinh thần kháng
chiến, phát động phong trào du kích chiến tranh để kìm chân địch và hăng hái tham gia
đánh giặc cứu nước.
Phong trào “Nam tiến” lôi cuốn hàng chục vạn thanh niên lên đường vào Nam chiến
đấu. Các tỉnh ở Bắc Bộ, Trung Bộ đều thành lập những chi đội, tiểu đoàn khẩn cấp vào
Nam. Đầu tháng 11-1945, chi đội 1 quân Nam tiến Hải Phòng lên đường vào Nam đánh
giặc. Thành phố Huế gửi vào Nam 3 chi đội, Quảng Nam gửi 5 chi đội, riêng Quảng Ngãi
gửi khoảng 15.000 chiến sĩ, Thủ đô Hà Nội gửi 10.000 đoàn viên, thanh niên ưu tú vào tiếp
sức cho Nam Bộ đánh giặc; Nam Định gửi 2 đại đội, Ninh Bình gửi 3 đại đội, Hà Nam gửi
1 tiểu đoàn cùng 50 cán bộ chi viện cho Nam Bộ.
Phong trào xung phong vào Nam đánh giặc đi vào từng gia đình, cuốn hút tình cảm
của mọi lứa tuổi. Gia đình ông Hoàng Tâm Tích ở Hải Phòng đã tình nguyện cho cả 3
người con trai được vào Nam chiến đấu trong đợt đầu tiên. Tấm gương em thiếu niên Hà
Nội trốn trong toa than tàu hỏa để theo các chiến sĩ vào Nam đánh giặc và đã hy sinh anh
dũng ở mảnh đất miền Trung với chiếc bát sắt đeo bên mình. Không biết tên em, đồng đội
gọi em: “Chiến sĩ bát sắt”. Noi gương em, thiếu niên Hà Nội đã lập đội tình báo chiến đấu
trong lòng địch với tên gọi Đội bát sắt.
Những “Ngày Nam Bộ”, “Phòng Nam Bộ”, “Vũ khí cho Nam Bộ” thật rầm rộ, sôi
nổi trong cả nước.
Cùng với Nam Bộ, tiếng súng kháng chiến ở Nha Trang nổ ra đêm 22 rạng 23-10-
1945. Đêm ấy, Đại đội trưởng Võ Văn Ký quê ở Ninh Hòa đã hy sinh anh dũng khi chỉ huy
đơn vị tấn công nhà ga với lựu đạn và súng trường. Ngày nay, con đường trước ga Nha
Trang, nơi anh ngã xuống đêm 23-10-1945 được mang tên anh, đường Võ Văn Ký.
Chỉ trong khoảng 100 ngày đêm kháng chiến, quân dân Sài Gòn đã phá hủy 139 cơ
sở phục vụ cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp, đốt phá 22 kho, 17 đầu máy xe lửa... và
quân dân toàn Nam Bộ đã tiêu diệt 5.000 lính Pháp. Nhiều tấm gương chiến đấu dũng cảm,
hy sinh oanh liệt của đoàn viên thanh niên như đội cảm tử gồm 5 thanh niên Cần Thơ do
anh Lê Bình chỉ huy, bất ngờ tập kích vào đồn Cái Răng diệt gọn một đại đội địch. Lê Bình
hy sinh. Lúc này anh mới 22 tuổi. Trả thù cho anh, đội du kích mang tên anh đã phục kích