CHƯƠNG VII
THANH NIÊN MIỀN BẮC THAM GIA KHẮC PHỤC HẬU QUẢ CHIẾN TRANH,
KHÔI PHỤC VÀ THÀNH PHỐ KINH TẾ, VĂN HÓA, XÃ HỘI
Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng nhưng hậu quả của chiến tranh và chế độ chiếm
đóng của thực dân Pháp để lại cho nhân dân ta hết sức nghiêm trọng: 14 vạn hecta ruộng
đất bị hoang hóa, những công trình thủy lợi quan trọng nhất bị tàn phá, hơn 10 vạn trâu bò
bị giết, gần 1 triệu đồng bào không có nhà ở và việc làm, thương nghiệp bị đình đốn.
Chính sách ngu dân của thực dân Pháp đã ảnh hưởng nguy hại đến trình độ văn hóa, giáo
dục, khoa học kỹ thuật,v.v... của nhân dân. Bệnh sốt rét, đau mắt hột, ho lao,v.v... là những
căn bệnh hoành hành ở nhiều vùng. Nạn đói, nạn thất nghiệp, gái mại dâm và các tệ nạn xã
hội khác phổ biến ở các vùng bị tạm chiếm cũ. Trong khi đó kẻ thù của chúng ta tuy đã
thất bại thảm hại trên mặt trận quân sự nhưng vẫn chưa từ bỏ dã tâm thôn tính nước ta một
lần nữa. Chúng dùng mọi âm mưu thâm độc để phá hoại miền Bắc. Bằng thủ đoạn lừa gạt,
đe dọa và cưỡng ép những người đã tham gia ngụy quân, ngụy quyền, đồng bào theo đạo
Thiên chúa, một số người trong giai cấp tư sản, nhân viên và công nhân kỹ thuật di cư vào
Nam hòng gây rối loạn xã hội cho miền Bắc, tạo cho bọn ngụy quân, ngụy quyền ở miền
Nam có thêm chỗ dựa về chính trị, xã hội và nguồn dự trữ quân số. Chúng đã cung cấp tiền
của, phương tiện cho bọn phản động gây ra những vụ phá rối trật tự trị an như ở Bùi Chu
(Nam Định), Phát Diệm (Ninh Bình), Ba Làng (Thanh Hóa), Lưu Mỹ (Nghệ An),v.v...
Chúng còn xúi giục và khuyến khích bọn phản động và thổ phỉ nổi dậy hoạt động phá hoại
ở các tỉnh biên giới phía Bắc. Trước khi rút quân ra khỏi các vùng chiếm đóng, chúng đã
tháo dỡ mang đi hoặc phá hoại hàng nghìn tấn máy móc, thiết bị, dụng cụ sản xuất, nguyên
vật liệu,v.v... nhằm gây khó khăn trong sản xuất và hoạt động kinh tế ở miền Bắc.
Nhận rõ vai trò và trách nhiệm của tuổi trẻ và của tổ chức Đoàn, trước yêu cầu của nhiệm
vụ cách mạng mới, hàng chục vạn cán bộ, đoàn viên và thanh niên miền Bắc đã hăng hái đi
dầu thực hiện các nhiệm vụ trung tâm về kinh tế, xã hội.
Tổ chức Đoàn các cấp đã tuyển lựa nhiều cán bộ, đoàn viên, thanh niên ở các vùng tự do
nhât là trong lực lượng thanh niên xung phong bổ sung vào các đội hành chính tiếp quản
các thành phố, thị xã và các vùng bị địch tạm chiếm. Trung ương Đoàn trực tiếp cử 300
cán bộ, đoàn viên và đoàn viên thanh niên xung phong vào tiếp quản thủ đô Hà Nội. Với
địch, góp phần ổn định đời sống nhân dân.
Ngày 30 tháng 6 năm 1954, trên 3000 quần chúng mà đại bộ phận là thanh niên thị trấn
Phát Diệm (Ninh Bình) và các vùng lân cận đã họp mít tinh chào mừng toàn tỉnh Ninh
Bình được giải phóng, chào mừng ủy ban Quân chính Phát Diệm ra mắt nhân dân. Ngày 1
tháng 7 năm 1954, sau khi tiếp quản thành phố Nam Định, ủy ban Quân chính được thành
lập, cán bộ, Đoàn và đoàn viên, thanh niên đã cùng với công nhân và nhân dân tích cực
tham gia bảo vệ các công sở, nhà máy, xí nghiệp...
Hình1: Hồ Chủ tịch gắn huy hiệu của Người tặng các chiến sĩ lập thành tích xuất sắc trong
chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ.
Hình2: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam tiến
hành từ ngày 25-10 đến ngày 4-11-1956 tại Thủ đô Hà Nội.
Ngày 10 tháng 1 năm 1955, thanh niên đã làm nòng cốt cho cuộc mít tinh của 7 xã gồm
hơn 4000 người ở Bùi Chu lên án đế quốc Mỹ và tay sai Ngô Đình Diệm phá hoại Hiệp
định Giơnevơ, sau đó là cuộc tuần hành biểu dương lực lượng đi qua các xã, gây khí thế
mới trong nhân dân. Chỉ riêng hai huyện ý Yên và Vũ Bản trong một ngày đã có 4 cuộc mít
tinh, có cuộc lên tới 15.000 người, đại bộ phận là thanh niên, viết trên 300 bản kiến nghị
với hơn 60.000 chữ ký gửi Uỷ ban quốc tế, phản đối đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai phá hoại
Hiệp định Giơnevơ. Trong đợt đấu tranh từ ngày 20 tháng 3 năm 1955 đến ngày 18 tháng 4
năm 1955 khắp 3 tỉnh Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, phong trào “yêu nước chống cưỡng
ép di cư” của tuổi trẻ đã thu hút hàng vạn đoàn viên thanh niên tham gia hỗ trợ cho đồng
bào đấu tranh chống cưỡng ép giáo dân di cư vào Nam. Ngày 15 tháng 3 năm 1955, 6 xã có
nhiều đồng bào theo đạo Thiên chúa ở 2 huyện Giao Thủy xã Xuân Trường có 1885 thanh
niên công giáo tham gia liên hoan cùng với 7.000 thanh niên toàn tỉnh Nam Định, biểu
dương lực lượng, nêu cao khí thế chống bọn phản động tay sai, đòi chúng nghiêm chỉnh thi
hành Hiệp định Giơnevơ.
Hải Phòng, Hồng Quảng (nay thuộc tỉnh Quảng Ninh) nằm trong khu tập kết 300 ngày của
quân đội Liên hợp Pháp trước khi rút vào Nam. Lợi dụng tình hình đó, kẻ địch tìm cách vơ
vét của cải, bắt thêm lính, cài gián điệp và cưỡng ép công nhân, cán bộ kỹ thuật, người Hoa
và giáo dân di cư vào Nam.
Hải Phòng là thành phố cảng, thành phố công nghiệp lớn của miền Bắc. Lợi dụng những
Ngày 29 tháng 11 năm 1954, tại Nhà thương Vườn Hoa, bọn địch đã thu gom hết dụng cụ,
thiết bị y tế, thuốc men cho vào hòm, chuẩn bị chuyển đi. Hai nữ thanh niên là y tá Từ và
hội lý Nguyệt đã phát hiện và tìm cách báo cáo tin ra ngoài, đồng thời vận động đồng
nghiệp và bệnh nhân đấu tranh. Nhiều thanh niên đã xông vào giằng co với địch, có lúc xảy
ra ẩu đả nhưng họ quyết không lùi bước. Được sự hỗ trợ của thanh niên và nhân dân đường
phố, kẻ địch đã buộc phải để lại toàn bộ các tài sản nói trên.
Tại cảng Hải Phòg, địch âm mưu chuyển hết tàu bè, cần cẩu, các thiết bị trong cảng và tháo
gỡ toàn bộ các phao đèn, cọc tiêu, biển báo trên các luồng lạch nhằm làm cho cảng Hải
Phòng không thể hoạt động được. Đầu tháng 3 năm 1955, địch âm mưu cướp hai chiếc tàu
HC1 và HC2 là hai tàu hoa tiêu quan trọng của cảng. Để giữ được tàu, công nhân phải làm
hỏng máy. Khi địch đưa tàu khác đến định kéo đi, một nhóm thanh niên công nhân lại tìm
cách làm hỏng máy tàu mới đến. Địch lại tiếp tục cho tàu khác đến kéo, một nhóm thanh
niên đã bí mật lặn xuống nước dùng dây cáp buộc chằng dây neo tàu nọ với dây neo tàu
kia, đồng thời tháo và giấu đi một số thiết bị quan trọng làm cho địch không thể sửa chữa
và cũng không thể kéo tàu đi được, chúng đành phải bó tay.
Gần đến ngày tiếp quản, những cuộc đấu tranh của tuổi trẻ và nhân dân Hải Phòng càng
quyết liệt. Đặc biệt là cuộc đấu tranh của gần 5 vạn quần chúng kéo dài 3 ngày (từ ngày 3
đến ngày 5 tháng 5 năm 1955) để giữ lại 300 tù chính trị bị giam ở băng Máy Chai mà kẻ
địch âm mưu định đưa ra biển thủ tiêu. Tuổi trẻ toàn thành phố được huy động vào cuộc
dấu tranh này. Các thanh niên làm nghề đạp xích lô tự đứng về khu vực băng Máy Chai.
Đường phố đông nghịt người, bất kể ai, bất kể hàng hóa, quang gánh rau quả, cơm nắm,
nước uống cứ đến băng Máy Chai là được ô tô, xích lô, ba gác, xe đạp... chất lên xe chở
đến nơi. Trước khí thế và sức mạnh áp đảo của quần chúng, kẻ địch phải chùn bước, không
dám thực hiện tội ác, buộc phải trả lại tự do cho tất cả tù chính trị. Các anh chị em tù chính
trị sung sướng và xúc động đến nghẹn ngào như những người từ cõi chết trở về với cuộc
sống.
ở Hồng Quảng (Quảng Ninh) cuộc đấu tranh cũng diễn ra hết sức quyết liệt. Tình hình
chính trị - xã hội ở đây rất phức tạp. Ngoài quân đội Pháp, theo quy chế 300 ngày trước khi
rút khỏi miền Bắc (do Hiệp định Giơnevơ quy định), còn một lực lượng phản động, gián
điệp, đặc vụ của thực đân Pháp, của đế quốc Mỹ và tay sai của Mỹ, của Tưởng Giới Thạch
nhiệm vụ chiến lược là hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân ở miền Nam và
tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Đường lối đó xác định con đường đi lên
của cách mạng cả nước, kết hợp những yêu cầu cơ bản của cách mạng Việt Nam với cách
mạng thế giới.
Thực hiện đường lối xây dựng và củng cố miền Bắc làm cơ sở vững chắc cho cuộc đấu
tranh giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất nước nhà, Hội nghị lần thứ 7 (tháng 3 năm
1955) là Hội nghị lần thứ 8 (tháng 8 năm 1955) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng
(khóa II) đã khẳng định: “miền Băc là chỗ dựa của ta. Bất kể tình huống nào miền Bắc
cũng phải được củng cố...
Củng cố miền Bắc về mọi mặt là nhiệm vụ rất quan trọng vì miền Bắc có được củng cố ta
mới có đủ lực lượng để củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân
chủ trong toàn quốc”. Đảng ta còn chỉ rõ:
“Củng cố miền Bắc là một nhiệm vụ căn bản không những quan hệ mật thiết đối với nhiệm
vụ đấu tranh hiện nay mà còn quan hệ mật thiết đến sự phát triển giàu mạnh sau này của
nước ta nữa”
Để hoàn thành việc xóa bỏ chế độ phong kiến, thực hiện việc chia ruộng đất cho nong dân
lao động, thủ tiêu thế lực kinh tế và ảnh hưởng chính trị của giai cấp địa chủ, xây dựng và
củng cố ưu thế chính trị của nông dân lao động ở nông thôn, tháng 9 năm 1954, Bộ Chính
trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định tiếp tục hoàn thành cuộc cải cách ruộng
đất. Với lực lượng chiếm hơn 50% tổng số lao động nông nghiệp, là lớp người hăng hái,
nhiệt tình, các cơ sở Đoàn ở nông thôn đã hướng toàn bộ hoạt động của mình vào cuộc
cách mạng ruộng đất của Đảng và Chính phủ. Đoàn thanh niên ở các cơ sở nông thôn, sau
khi tổ chức cho đoàn viên, thanh niên học tập luật cải cách ruộng đất và các chủ trương của
Đảng đã tổ chức các Đội thanh niên xung kích, các tổ thông tin tuyên truyền phục vụ yêu
cầu của các Đội cải cách ruộng đất, đồng thời làm lực lượng nòng cốt trong các đội tự vệ,
bảo vệ các cuộc đấu tranh của nông dân, giữ gìn trật tự, an ninh thôn xóm. Đoàn viên và
thanh niên nông thôn đã cùng bà con nông dân ôn nghèo, kể khổ, vạch rõ ranh giới giữa lao
động và bóc lột.
Tháng 12 năm 1955, cuộc vận động cải cách ruộng đất đợt 5 được triển khai ở 1720 xã có
trên 6.000.000 người trong 20 tỉnh và 2 thành phố. Tháng 7 năm 1956, cải cách ruộng đất
học, đại biểu sinh viên miền Nam tập kết, và đại biểu lưu học sinh Việt Nam ở nước ngoài
đã họp đại hội để thống nhất tổ chức và phong trào sinh viên Việt Nam, lấy tên là Hội Liên
hiệp Sinh viên Việt Nam.
Tiếp đó, ngày 8 tháng 10 năm 1956, Đại hội Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam được
triệu tập tại Hà Nội. Ngày 15 tháng 10 năm 1956 Đại hội vinh dự được Bác Hồ kính yêu
đến thăm và nói chuyện với các đại biểu. Đồng chí Phạm Ngọc Thạch được bầu làm Chủ
tịch Hội.
Ngày 19 tháng 10 năm 1955, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Nghị quýet đổi tên Đoàn
Thanh niên Cứu quốc Việt Nam thành Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam. Đây là cuộc
vận động chính trị lớn. Thông qua việc học tập đỏi tên Đoàn, các cấp Đoàn đã giáo dục,
bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đoàn viên, củng cố tổ chức Đoàn, chuẩn bị về mọi mặt để
đón nhận những nhiệm vụ mới mà Đảng và Bác Hồ giao cho. Với tinh thần đó, Đại hội
Đoàn toàn quốc lần thứ II được triệu tập từ ngày 25-10 đến 4-11-1956, với 479 đại biểu
thay mặt cho gần nửa triệu đoàn viên viên về dự. Đại hội khẳng định những cống hiến xuất
sắc của Đoàn và phong trào thanh niên trong 9 năm kháng chiến và 3 năm khôi phục kinh
tế. Đại hội đã đề ra nhiệm vụ của Đoàn trong giai đoạn cách mạng mới là: “Động viên mọi
người, mọi tầng lớp thanh niên đem hết sức lực, trí tuệ của mình vào công cuộc khôi phcụ
kinh tế, phát triển văn hóa, củng cố quốc phòng, tham gia tích cực vào công cuộc củng cố
miền Bắc, tiến dần từng bước lên chủ nghĩa xã hội, làm cơ sở vững chắc cho sự nghiệp đấu
tranh thống nhất nước nhà”.
Đại hội được Bác Hồ kính yêu và các đồng chí lãnh đạo cao nhất của Đảng và nhà nước
đến thăm, Bác đã chỉ thị: “Muốn Đoàn củng cố và phát triển thì tất cả đoàn viên phải
gương mẫu” Đại hội đã ra Nghị quyết về công tác thiếu niên, nhi đồng và quyết định đổi
tên Đội thiếu nhi Tháng Tám thành Đội Thiếu niên Tiền phong Việt Nam bao gồm hai lứa
tuổi: thiếu niên và nhi đồng.
Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Trung ương Đoàn gồm 30 đồng chí. Đồng chí Nguyễn Lam
được bầu làm Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành TW Đoàn.
*
* *
Thực hiện lời dạy của Bác Hồ kính yêu: “Phải quan tâm đến việc khôi phục và xây dựng