Khóa luận:Pháp luật về hợp đồng theo mẫu trong thương mại - Pdf 48

MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN................................................................................................................
Lời mở đầu................................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài khóa luận....................................................1
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan....................................................2
2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới..................................................................2
2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước Việt Nam...................................................3
3. Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu..................................................................4
4. Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu..........................................................5
4.1. Đối tượng nghiên cứu.......................................................................................5
4.2. Mục tiêu nghiên cứu........................................................................................5
4.3. Phạm vi nghiên cứu..........................................................................................6
5. Phương pháp nghiên cứu.........................................................................................6
6. Kết cấu của khóa luận tốt nghiệp...........................................................................7
Chương 1...................................................................................................................... 8
Những lí luận cơ bản về pháp luật điều chỉnh...........................................................8
hợp đồng theo mẫu trong thương mại........................................................................8
1.1. Một số vấn đề lí luận về hợp đồng mẫu:..............................................................8
1.1.1. Một số vấn đề lí luận về hợp đồng:...............................................................8
1.1.2. Một số vấn đề lý luận về hợp đồng theo mẫu:............................................11
1.2.Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh về hợp đồng theo mẫu trong
thương mại.................................................................................................................17
1.2.1.Cơ sở ban hành.............................................................................................17
1.2.2. Nội dung pháp luật điều chỉnh về hợp đồng theo mẫu trong thương mại.
................................................................................................................................. 22
1.3. Nguyên tắc về pháp luật điều chỉnh vấn đề về hợp đồng theo mẫu trong
thương mại.................................................................................................................24
Chương 2.................................................................................................................... 26
Thực trạng pháp luật điều chỉnh vấn đề về hợp đồng theo mẫu trong thương mại
..................................................................................................................................... 26


TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................................


LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại trường Đại học Thương Mại, em đã
nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ và giảng dạy nhiệt tình của các thầy cô giáo trong
Khoa Kinh tế - Luật và Nhà trường. Qua quá trình học tập em đã tích lũy được nhiều
kiến thức để vận dụng vào công việc của mình trong tương lai. Với đề tài khóa luận tốt
nghiệp “Pháp luật về hợp đồng theo mẫu trong thương mại - Thực tiễn áp dụng tại
Công ty Cổ phần Truyền thông và Dịch vụ Nodo”, em đã có cơ hội vận dụng những
kiến thức của mình đã học vào thực tế để củng cố thêm vốn kiến thức và hiểu biết của
mình.
Trước hết, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tới cô giáo ThS. Trần
Ngọc Diệp – người đã trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đại
học. Em cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới tất cả các thầy cô giáo trong
Bộ môn Luật chuyên ngành và trong Khoa Kinh tế- Luật đã truyền dạy cho em những
kiến thức hữu ích để vận dụng vào thực tế giúp em trong việc hoàn thành khóa luận
này.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới giám đốc Công ty Cổ phần Truyền thông
và Dịch vụ Nodo cùng toàn thể cô, chú, anh, chị nhân viên trong công ty đã tạo điều
kiện giúp em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Do thời gian thực tập và hiểu biết còn nhiều hạn chế về mặt lý luận và kinh
nghiệm thực tế nên khóa luận còn nhiều thiếu sót, em rất mong nhận được sự đóng
góp, nhận xét từ các thầy cô để khóa luận được hoàn chỉnh hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 24 tháng 4 năm 2018

Nguyễn Minh Trang



ĐKGDC

Điều kiện giao dịch chung


Lời mở đầu
1. Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài khóa luận
Hợp đồng là công cụ chủ yếu để xác lập quan hệ giữa các cá nhân, tổ chức
trong đời sống thường ngày và là một chế định điển hình trong pháp luật dân sự nói
riêng và pháp luật nói chung. Hợp đồng được giao kết hàng ngày, với nhiều hình thức,
giữa nhiều chủ thể khác nhau, trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Với sự phát triển ngày
càng mạnh mẽ của đời sống kinh tế - xã hội, vai trò của hợp đồng ngày càng được phát
huy, trở thành cơ sở, nền tảng cho các mối quan hệ trong rất nhiều lĩnh vực, ngay cả
lĩnh vực hôn nhân và gia đình.
Trên thế giới, hợp đồng theo mẫu đã được sử dụng rất nhiều và phổ biến. Ở Việt
Nam, loại hợp đồng này cũng đã được áp dụng ngày một nhiều trong thực tiễn hoạt
động giao dịch hàng hóa, dịch vụ giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng. Những lĩnh
vực áp dụng hợp đồng theo mẫu thường là những lĩnh vực sản xuất, kinh doanh có số
lượng khách hàng lớn, ổn định, đặc biệt là những lĩnh vực mà nhà cung cấp hàng hóa,
dịch vụ mang tính chất độc quyền. Khi người tiêu dùng muốn mua, sử dụng hàng hóa,
dịch vụ của các doanh nghiệp này, họ bắt buộc phải đồng ý và ký kết vào các hợp đồng
với các điều khoản, điều kiện mặc định sẵn. Họ vẫn được quyền đọc, nhưng thường sẽ
không có thời gian để tìm hiểu rõ hoặc không được giải thích rõ về những nội dung
của hợp đồng nên thường không ý thức được các rủi ro pháp lý có thể gặp phải trong
quá trình thực hiện các hợp đồng đó. Thậm chí, một số trường hợp, người tiêu dùng đã
nhận thức được các rủi ro đó nhưng khi thương lượng lại với doanh nghiệp thì doanh
nghiệp thường nói đó là chính sách chung áp dụng cho tất cả mọi khách hàng và từ
chối việc sửa chữa, bổ sung hợp đồng theo ý kiến của người tiêu dùng đó.
Đối với một số lĩnh vực doanh nghiệp đưa ra hợp đồng theo mẫu đó là độc quyền

thể nảy sinh khi áp dụng quy định hiện tại đối với hợp đồng theo mẫu như vấn đề về
xác định năng lực chủ thể của các bên, bảo vệ quyền lợi nguời tiêu dùng, xác thời
điểm và địa điểm giao kết hợp đồng, vấn đề bản gốc,... Pháp luật hợp đồng truyền
thống chưa đề cập đến những vấn đề như nhìn vào góc độ của người dùng hợp đồng
khi kí kết hay những vấn đề liên quan đến lợi ích của các bên.
Chính vì vậy em đã chọn đề tài: “Pháp luật về hợp đồng theo mẫu trong thương
mại - Thực tiễn thực hiện tại Công ty Cổ phần Truyền thông và Dịch vụ Nodo”.
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan
2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Có rất nhiều các công trình nghiên cứu liên quan tới hợp đồng theo mẫu, đa phần
đã nêu được đặc trưng của dạng hợp đồng này và một số giải pháp để bảo vệ khách
hàng. Sau đây là một số các bài ngiên cứu trên thế giới.
Bài viết “Contractual choice of law in contracts of adhension and party
autonomy” của Mo Zhang viết tại Temple University Legal Studies Resarch năm 2007
đã chỉ ra rằng dạng hợp đồng theo mẫu gây nhiều khó khăn cho pháp luật vì đặc tính
của nó khác biệt với dạng hợp đồng thông thường. Ở Mỹ, tính khả thi của hợp đồng
Page | 2


!o ")
o n [n
FEn
ng
; o,n FEn
X ; 2n @

)n "C J H
#:
[n ( ng % #eng n
)n

0ng Fqng o ng
E (Vng
o
n % o
ng " & (o6 Q
2 n #:
G P
#= # :
[n % #eng !o ") rong ;
)n g D # % & (o % #eng
#@ # : /n 2 o "C n:n (Jn - & (o6

Q

n `n A

B -. 5g dn T U 5g tn n`" ^abb6 Q
n `n #$
" rk
sh ; o.
X
n
ng : % #eng !o ") 6 m Jn 8
2 #Un %
#eng !o ") rong
2 > = S0ng ' ? En bxca : ]% #eng
" .F n
2 ng o
-. "C s n '
Vng $n
ng "C s ; n
m.g! n z


nghiệm của các nước trên thế giới đối với pháp luật Việt Nam trong việc điều chỉnh
chế định hợp đồng theo mẫu, đảm bảo phù hợp với hệ thống pháp luật hiện hành tại
Việt Nam cũng như thực trạng và định hướng phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Bài “Bình luận về các quy định liên quan đến hợp đồng theo mẫu và điều kiện
giao dịch chung trong Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) “ của Đỗ Giang Nam, Khoa
Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, NCS tại Khoa Luật, Đại học Utrecht, Hà Lan năm
2015. Bài viết đã chỉ ra các thách thức của việc sử dụng điều khoản mẫu, hợp đồng
theo mẫu đối với nguyên tắc tự do hợp đồng, khái quát chung về các quy định điều
chỉnh hợp đồng theo mẫu trong pháp luật Việt Nam, điều kiện để điều khoản mẫu trở
thành một phần của hợp đồng, cơ chế kiểm soát tính công bằng của nội dung hợp đồng
theo mẫu, ngoài ra bài viết còn giải thích các khái niệm cơ bản về hợp đồng theo mẫu,
điều khoản mẫu.
Bài “Bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng trong giao kết và thực hiện hợp đồng

cũng như thực trạng thực hiện các quy phạm pháp luật điều chỉnh về hợp đồng theo
mẫu trong thương mại tại Công ty Cổ phần Truyền thông và Dịch vụ Nodo thông qua
một số nội dung như điều kiện để hợp đồng có hiệu lực, nội dung của hợp đồng,.. và
thấy được những mặt ưu và nhược điểm còn tồn tại của dạng hợp đồng này.
Thứ ba, khóa luận đã đưa ra được một số các giải pháp giúp hoàn thiện pháp luật
điều chỉnh về hợp đồng theo mẫu trong thương mại tại Công ty Cổ phần Truyền thông
và Dịch vụ Nodo.
4. Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của nghiên cứu này bao gồm:
- Khái niệm và các đặc điểm của hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực thương mại.
- Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia kí kết hợp đồng đồng theo mẫu
trong lĩnh vực thương mại.
- Thực trạng các quy định pháp luật hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực thương
mại và cơ chế quản lý của Nhà Nước đối với hoạt động này.
- Thực trạng áp dụng các quy định pháp luật của Công ty Cổ phần Truyền thông
và Dịch vụ Nodo, người tiêu dùng và các chủ thế khác có liên quan đối với hợp đồng
theo mẫu trong lĩnh vực thương mại.
4.2. Mục tiêu nghiên cứu
Thứ nhất, làm rõ cơ sở khoa học, lý luận chung về hợp đồng theo mẫu trong lĩnh
vực thương mại.
Thứ hai, phân tích các quy định trong pháp luật Việt Nam về các vấn đề cơ bản
liên quan đến hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực thương mại.
Thứ ba, đề xuất các khuyến nghị và nâng cao đối với pháp luật Việt Nam về các
vấn đề liên quan đến hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực thương mại cũng như giải
Page | 5


pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh về hợp đồng theo mẫu trong thương mại tại Công
ty Cổ phần Truyền thông và Dịch vụ Nodo.

Page | 6


Bài khóa luận này vừa đưa ra được những lí luận, lý thuyết, đưa ra được những
bất cập và khắc phục từ thực tiễn. Đồng thời còn bổ sung phương pháp nghiên cứu
định lượng để đưa ra nhận xét chính xác hơn về đề tài. Không chỉ có vậy, từ việc đưa
ra được bất cập và phương pháp khắc phục thông qua thực tế, người tiêu dùng có thể
tự trang bị kiến thức luật pháp để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình.
6. Kết cấu của khóa luận tốt nghiệp
Chương 1: Những lý luận cơ bản về hợp đồng theo mẫu trong thương mại.
Chương 2: Thực trạng pháp luật điều chỉnh vấn đề về pháp luật theo mẫu trong
thương mại tại Công ty Cổ phần Truyền thông và Dịch vụ Nodo.
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh về hợp đồng theo
mẫu trong thương mại tại Công ty Cổ phần Truyền thông và Dịch vụ Nodo.

Page | 7


Chương 1
Những lí luận cơ bản về pháp luật điều chỉnh
hợp đồng theo mẫu trong thương mại
1.1. Một số vấn đề lí luận về hợp đồng mẫu:
1.1.1. Một số vấn đề lí luận về hợp đồng:
a. Khái niệm:
Hợp đồng dân sự là một khái niệm có nguồn gốc lâu đời và thông dụng nhất, là
một trong những chế định quan trọng của pháp luật Dân sự. Có rất nhiều cách định
nghĩa “Hợp đồng dân sự”, chẳng hạn:
Theo phương diện chủ quan: Hợp đồng dân sự là một giao dịch dân sự, trong đó
các bên có sự thỏa thuận thống nhất ý chí với nhau nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm
dứt quyền, nghĩa vụ dân sự cho nhau.

dưới cả hình thức bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể. Trong những
trường hợp pháp luật có quy định, một số dạng hợp đồng còn cần phải được công
chứng, chứng thực bởi các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.
Thứ tư, về nội dung của hợp đồng dân sự: Nội dung của hợp đồng dân sự là tổng
hợp các quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng. Về cơ bản, các bên có
thể tự do thỏa thuận và thống nhất về các điều kiện, điều khoản của hợp đồng nhưng
không được trái với các quy định pháp luật hiện hành và không trái với đạo đức xã hội.
Xuất phát từ các quy định pháp luật hiện hành, khi giao kết hợp đồng, để tránh
các rủi ro pháp lý từ việc hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu, các chủ thể tham gia giao kết
phải thực sự chú trọng và cân nhắc về cả bốn yếu tố nêu trên cũng như các quyền lợi
và nghĩa vụ của mình phát sinh hoặc liên quan đến hợp đồng đã/sẽ giao kết đó.
 Phân loại:
- Dựa vào mối liên hệ về quyền và nghĩa vụ giữa các bên chủ thể tham gia hợp
đồng, thì hợp đồng được chia thành hai loại là hợp đồng song vụ và hợp đồng đơn vụ,
trong đó:
+ Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với nhau,
hay nói cách khác mỗi bên chủ thể tham gia hợp đồng vừa là người có quyền lại vừa
có nghĩa vụ. Do vậy, trong nội dung của hợp đồng này, quyền dân sự của chủ thể tham
gia này đối lập tương ứng với nghĩa vụ của chủ thể tham gia hợp đồng kia và ngược
lại. Khi các bên đã thoả thuận thời hạn thực hiện nghĩa vụ thì mỗi bên phải thực hiện
nghĩa vụ của mình khi đến hạn; không được hoãn thực hiện với lý do bên kia chưa
thực hiện nghĩa vụ đối với mình, trừ trường hợp tài sản của bên kia đã bị giảm sút
nghiêm trọng đến mức không thể thực hiện được nghĩa vụ như đã cam kết cho đến khi
bên kia có khả năng thực hiện được nghĩa vụ hoặc có người bảo lãnh; hoặc nếu bên
thực hiện nghĩa vụ trước chưa thực hiện nghĩa vụ của mình khi đến hạn.
Page | 9


+ Hợp đồng đơn vụ là hợp đồng mà chỉ một bên có nghĩa vụ. Điều này có
nghĩa là trong hợp đồng đơn vụ, chỉ có một hay nhiều chủ thể có nghĩa vụ mà không

người tiêu dùng, các quốc gia và vùng lãnh thổ đã đưa ra khái niệm hợp đồng theo
Page | 10


mẫu gồm có: Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc, EU, Hoa Kỳ, Canada, Pháp, Hồng
Kong, Ấn Độ, Nauy, Anh…… nhưng về cơ bản các thuật ngữ này ở các nước khác
nhau đều có nội hàm như nhau, dùng để chỉ dạng hợp đồng do một bên đưa ra và bên
còn lại không có khả năng sửa đổi, thỏa thuận về từng điều khoản.
Theo Điều 1379 Bộ luật Dân sự Que’bec năm 1991 đã định nghĩa như sau: “Hợp
đồng theo mẫu là hợp đồng khi mà các quy định chủ yếu được áp đặt hoặc chuẩn bị
bởi một bên theo ý đồ của họ và những điều khoản đó không thể được tự do thảo
luận. Tất cả các hợp đồng không phải hợp đồng mẫu đều phải có thỏa thuận giữa các
bên”. [3]
Tại Pháp Jacques Ghestin – Giáo sư nổi tiếng chuyên ngành luật nghĩa vụ của
pháp tại Đại học Paris I Panthe’on – Sorbonne đưa ra một định nghĩa cũng tương tự
như vậy: “Hợp đồng theo mẫu có thể được định nghĩa là sự tham gia vào một hợp
đồng mẫu sẵn, được soạn thảo đơn phương của một bên, bên kia gia nhập vào và
không có khả năng thay đổi nội dung của hợp đồng”.
Năm 2002, các nhà lập pháp Đức đã chuyển hóa toàn bộ Luật về các điều kiện
thương mại chung vào Bộ luật dân sự CHLB Đức tại Quyển 2 – Nghĩa vụ dân sự,
Chương 2 – Các nghĩa vụ hợp đồng hình thành từ các điều kiện thương mại chung.
Theo đó, những điều kiện thương mại chung được quy định trong các Điều từ 305 đến
310.
Chế định hợp đồng theo mẫu được đề cập khá rõ ràng, cụ thể trong Luật Bảo vệ
Người tiêu dùng của Đài Loan. Theo đó, tại Khoản 9, Điều 2, Luật định nghĩa về hợp
đồng theo mẫu là: “ Hợp đồng mà một phần hoặc toàn bộ điều khoản cơ bản được
soạn thảo bởi các doanh nghiệp”. Tại Khoản 7, Điều 2 cũng đưa ra định nghĩa về các
điều khoản của hợp đồng theo mẫu là “Các điều khoản mẫu được các doanh nghiệp
đơn phương soạn thảo để giao kết với số lượng các lớn và không xác định các đối tác.
Ngoài dạng văn bản, những điều khoản này còn được thể hiện trên các bảng thông

hoặc trong một số trường hợp chỉ là với mục đích của doanh nghiệp là làm phức tạp
thêm nội dung của hợp đồng để người đọc không thể hiểu hết nếu không phải chuyên
gia hoặc không có đủ thời gian hợp lý.
Thứ ba, là về chủ thể của hợp đồng theo mẫu. Đối với các hợp đồng thông
thường, sự chênh lệch về địa vị của các bên khi giao kết hợp đồng là không rõ ràng và
thường là ngang bằng nhau. Chính vì vậy, họ có đầy đủ cơ sở, điều kiện và khả năng
để thương lượng, thỏa thuận về từng điều kiện, điều khoản của hợp đồng để thỏa mãn
các yêu cầu mà mình đặt ra. Tuy nhiên, đối với hợp đồng theo mẫu, giữa các chủ thể
tham gia giao kết hợp đồng thường tồn tại một khoảng cách về địa vị, vị thế thương
lượng rất lớn. Thường thì bên đưa ra các điều khoản, điều kiện của hợp đồng là bên có
địa vị cao hơn, có khả năng về tài chính, về pháp lý và đặc biệt là có sự am hiểu, khả
năng và điều kiện tìm hiểu về sản phẩm hàng hóa, dịch vụ cũng như các vấn đề liên
quan đến việc cung ứng hàng hóa, dịch vụ đó cho người tiêu dùng. Ngược lại, trong
mối quan hệ này, bên phải chấp nhận vô điều kiện nội dung của hợp đồng mà bên kia
đã đưa ra lại có một vị thế thấp hơn hẳn. Họ không có đủ khả năng về cả tài chính,
Page | 12


chuyên môn và địa vị xã hội để có thể thương lượng về các vấn đề phát sinh từ hoặc
liên quan đến các nội dung mà họ đã đọc hoặc nhiều khi chỉ là được nghe nói lại. Cũng
có những trường hợp người tiêu dùng có đầy đủ những yếu tố trên nhưng do ảnh
hưởng của yếu tố tập quán, thói quen tiêu dùng nên họ đã tự từ bỏ quyền của mình khi
giao kết hợp đồng theo mẫu. [17]
Thứ tư, đó là các doanh nghiệp thường sử dụng hợp đồng này để áp dụng hàng
loạt cho khách hàng, người tiêu dùng. Doanh nghiệp soạn thảo ra loại hợp đồng này để
áp dụng cho tất cả khách hàng của mình. Đây là những điều khoản, điều kiện mang
tính mặc định và cố định dành cho bất kì ai mua hoặc sử dụng hàng hóa, dịch vụ của
doanh nghiệp. Khách hàng khi giao dịch với doanh nghiệp sẽ không được đàm phán
riêng lẻ về các nội dung của hợp đồng mà chỉ có thể chấp nhận toàn bộ hoặc không.
Như vậy, có thể khẳng định, bất kì hợp đồng nào mà doanh nghiệp chỉ sử dụng cho

đồng tiền gửi; Các loại vé xe, vé xem phim, vé tham quan... ; Hợp đồng điện, nước,
viễn thông, bưu điện; Xổ số, lô tô, trò chơi có thưởng; Hợp đồng xây dựng, hợp đồng
thuê nhà; Các điều khoản mua, sử dụng phần mềm, chương trình tin học.
Hợp đồng theo mẫu đã và đang ngày càng phổ biến và đóng vai trò quan trọng
trong đời sống kinh tế, xã hội và pháp lý của chúng ta. Bất kì ai trong chúng ta khi
tham gia bất kì giao dịch dân sự nào dù là đơn thuần nhất cũng đã có cơ hội để xác lập
và giao kết hợp đồng theo mẫu. Để bảo vệ được người dùng tránh khỏi các rủi ro pháp
lý mà các hợp đồng theo mẫu có thể gây ra thì vấn đề quan trọng và cần thiết nhất đó
là phải tìm hiểu xem trên thực tế hợp đồng theo mẫu thường được sử dụng như thế nào
và pháp luật đã có những biện pháp hay hình thức nào để bảo vệ quyền và lợi ích của
chúng ta – những người tiêu dùng chân chính.
1.2.Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh về hợp đồng theo mẫu
trong thương mại.
1.2.1.Cơ sở ban hành.
a. Cơ sở về kinh tế
Nền kinh tế xã hội nước ta đang phát triển nay đang định hướng lên nền kinh tế
xã hội chủ nghĩa, trong đó tồn tại các hình thức xác lập quan hệ thương mại như mua
bán hàng hóa, sử dụng dịch vụ,… Vậy nên hợp đồng được sử rụng rất phổ biến và
rộng rãi, hợp đồng phát triển càng nhiều thì hình thức lại càng đa dạng. Để đáp ứng
được nhu cầu của người tiêu dùng cũng như các công ty thì hợp đồng theo mẫu ra đời
và ngày càng trở nên phổ biến.
Khi so sánh sự thỏa thuận trong hợp đồng thông thường với hợp đồng theo mẫu,
có thể thấy rằng, sự thỏa thuận trong hợp đồng theo mẫu đã bị rút ngắn do quá trình
đàm phán, thương lượng không được hình thành giữa thương nhân và người tiêu dùng,
hay nói một cách khác thì sự thỏa thuận chỉ mang tính lý thuyết. Điều này xuất phát từ
đặc trưng của hợp đồng theo mẫu là dạng hợp đồng đã được chuẩn hóa các điều kiện
và điều khoản để sử dụng thường xuyên cho một loại hàng hóa, dịch vụ nhất định và
được soạn thảo bởi một bên tham gia hợp đồng (thường là bên có vị thế mạnh như
người bán hàng, bên cung ứng dịch vụ, ngân hàng hay công ty bảo hiểm…) để giao
Page | 14

phong phú, đa diện, là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần, là nền
tảng, cốt lõi của một dân tộc. Giữa văn hóa và pháp luật nói chung và pháp luật điều
chỉnh hợp đồng nói riêng có mối quan hệ rất mật thiết, sự dung hòa trong cách tư duy,
thế giới quan, cùng việc tôn trọng thứ bậc, trật tự (do ảnh hưởng Nho giáo) của người
dân Việt Nam đã góp phần hình thành tư duy về sự thống nhất - tư duy chủ đạo hình
thành nên cơ chế quản lý tập quyền, như quy định tại Hiến pháp, bên cạnh đó, sự ảnh
hưởng của Nho giáo và Phật giáo trong đời sống văn hóa tinh thần của người Việt là
Page | 15


rất lớn. Một trong những điều tích cực mà hai tôn giáo trên mang đến cho văn hóa nói
chung và pháp luật nói riêng là một xã hội ổn định, ít tranh chấp, xung đột. Điều này
vô hình chung giúp cho việc quản lý xã hội dễ dàng hơn và người dân có sự tôn trọng
pháp luật ở một chừng mực nhất định. Tư tưởng, nhiệm vụ, bổn phận được phát huy
đúng cũng giúp người dân có ý thức hơn về vai trò trách nhiệm của mình với gia đình,
Nhà nước và xã hội. Ngoài ra với văn hóa này còn ảnh hưởng tới pháp luật điều chỉnh
hợp đồng theo mẫu đó là doanh nghiệp và người tiêu dùng đều có những quan điểm
tích cực, mong muốn ít tranh chấp, xung đột nên trong hợp đồng theo mẫu đều đưa ra
các điều kiện phù hợp với quyền và lợi ích chung của cả hai phía và không trái với quy
định của pháp luật, đồng thời tiết kiệm thời gian cho cả hai bên trong quá trình thành
lập và ký kết hợp đồng theo mẫu trong thương mại.
Phong tục tập quán được thừa nhận gián tiếp thông qua nguyên tắc chung và áp
dụng tập quán tại Điều 5 Bộ Luật Dân sự 2015. Phong tục tập quán có chức năng điều
chỉnh hành vi bằng cách thông qua dư luận xã hội: ca ngợi, khuyến khích, cải thiện,…
trở thành công cụ trong điều chỉnh đạo đức. Khi đó con người sẽ thực hiện pháp luật
một cách tích cực. Đồng thời nó có tính răn dạy và khi sử dụng phong tục tập quán sẽ
góp phần khắc phục tình trạng thiếu pháp luật, khắc phục những lỗ hổng của pháp luật
một cách kịp thời, thêm vào đó nó có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình tố tụng và
đưa ra đường lối giải quyết các tranh chấp. Dựa vào đó pháp luật điều chỉnh hợp đồng
theo mẫu trong thương mại sẽ được doanh nghiệp và người tiêu dùng tuân theo một

do nào cũng phải cũng phải nằm trong khuôn khổ nhất định. Đối với hợp đồng theo
mẫu trong thương mại, nội dung đáng được quan tâm nhất đó là sự công bằng về
quyền lợi của người tiêu dùng, vậy nên các bên phải tìm hiểu các quy định của pháp
luật trong Luật bảo vệ người tiêu dùng 2010. Ví dụ Điều 12 Khoản 6 của Luật
BVNTD quy định nghĩa vụ của thương nhân, Điều 15 của Luật BVNTD 2010 quy
định vấn đề giải thích hợp đồng giao kết với người tiêu dùng,… Ngoài ra Nghị định
99/2011/NĐ-CP cỏn quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật
BVNTD 2010. Đồng thời pháp luật Việt Nam còn quy định danh mục hàng hóa, dịch
vụ thiết yếu phải đăng ký hợp đồng theo mẫu đó là Quyết định số 02/2012/QĐ-TTg.
Hợp đồng theo mẫu là điển hình của sự bất cân xứng về thông tin, về khả năng
đàm phán, thương lượng giữa các bên bởi người tiêu dùng luôn ở thế yếu trong khi
thương nhân luôn ở thế mạnh bởi họ biết rõ hơn về hàng hóa, dịch vụ bán ra do đó, họ
thường soạn thảo hợp đồng với những điều kiện và điều khoản bất bình đẳng, đẩy
phần bất lợi cho người tiêu dùng. Trong bối cảnh đó, pháp luật cần phải xây dựng
những quy chế pháp lý đặc thù cho hợp đồng gia nhập để vừa không ảnh hưởng tới
quá trình thỏa thuận, vừa cân bằng được lợi ích hợp pháp của các bên, đồng thời vẫn
có thể bảo vệ tốt nhất quyền lợi của người tiêu dùng.
1.2.2. Nội dung pháp luật điều chỉnh về hợp đồng theo mẫu trong thương mại.
Thứ nhất về phạm vi đối tượng áp dụng hợp đồng theo mẫu. Phạm vi đối tượng
của hợp đồng theo mẫu trong thương mại là tất cả các doanh nghiệp, cá nhân tham gia
hoạt động mua bán hàng hóa, sử dụng dịch vụ,.. chủ thể được thiết lập các bên có thể
là thương nhân hoặc không, các chủ thể trở thành đối tượng tham gia hợp đồng khi có
Page | 17


hoạt động liên quan đến thương mại và sử dụng dạng hợp đồng này. Người tham gia
giao dịch có năng lực hành vi dân sự. Khi người tham gia giao dịch là thương nhân thì
việc xác định năng lực chủ thể có những đặc thù nhất định, ngoài điều kiện thành lập
hợp pháp thì nội dung đăng ký kinh doanh của thương nhân là thước đo năng lực thực
hiện hành vi kinh doanh của thương nhân, bởi vì Điều 9 Luật Doanh nghiệp quy định

Page | 18


2 Điều 3 Luật thương mại năm 2005 quy định:“ Hàng hóa bao gồm: i) Tất cả các loại
động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai; ii) Những vật gắn liền với đất
đai”. [9] Như vậy, hàng hóa trong hợp đồng theo mẫu trong thương mại có thể là hàng
hóa đang tồn tại hoặc hàng hóa sẽ hình thành trong tương lai, có thể là động sản hoặc
bất động sản được phép lưu thông trong thương mại.
Thứ năm về mục đích của hợp đồng theo mẫu trong thương mại thì mục đích là
lợi nhuận. Xuất phát từ mục đích của hoạt động thương mại là nhằm sinh lợi nên khi
các thương nhân tham gia ký kết một hợp đồng theo mẫu trong thương mại suy cho
cùng cũng đều vì lợi ích lợi nhuận. Theo Khoản 3 Điều 1 Luật thương mại năm 2005
[9], đối với những hợp đồng giữa thương nhân với chủ thể không phải là thương nhân
và không nhằm mục đích sinh lợi, việc có áp dụng Luật thương mại để điều chỉnh
quan hệ hợp đồng này hay không là do bên không có mục đích lợi nhuận quyết định.
1.3. Nguyên tắc về pháp luật điều chỉnh vấn đề về hợp đồng theo mẫu trong
thương mại.
Thứ nhất nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật,
đạo đức xã hội. Tham gia quan hệ hợp đồng theo mẫu nói riêng và hợp đồng nói
chung, các chủ thể nhằm đạt được những lợi ích nhất định. Xuất phát từ lợi ích mà chủ
thể mong muốn được thỏa mãn, các chủ thể tham gia các hợp đồng dân sự khác nhau.
Pháp luật dân sự tôn trọng sự tự do giao kết hợp đồng của chủ thể và ghi nhận thành
nguyên tắc. Theo nguyên tắc này, các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng có sự tự do ý
chí trong việc lựa chọn hợp đồng mà mình giao kết, tự do lựa chọn chủ thể giao kết, tự
do lựa chọn các quyền và nghĩa vụ trong quá trình giao kết. Không một chủ thể nào
được phép can thiệp trái pháp luật vào sự tự do giao kết hợp đồng của các chủ thể
tham gia hợp đồng. Tuy nhiên, mặc dù pháp luật thừa nhận sự tự do giao kết hợp đồng
là một nguyên tắc nhưng trên tinh thần :” Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện,
chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa
thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức

ngoài. Đối với hợp đồng theo mẫu có yếu tố nước ngoài, các bên có quyền lựa chọn
luật áp dụng cho hợp đồng ( có thể là pháp luật của quốc gia hoặc một công ước, một
tập quán quốc tế….)
Thứ sáu nguyên tắc không được ra những điều khoản chỉ có lợi về phía doanh
nghiệp, gây bất lợi, xâm phạm đến lợi ích của người tiêu dùng. Vì đặc trưng của hợp
đồng theo mẫu nên dạng hợp đồng này luôn phải tuân theo nguyên tắc này để bảo vệ
quyền lợi của khách hàng và tránh tính lạm dụng đặc quyền để chuộc lợi của doanh
nghiệp.

Page | 20


Chương 2
Thực trạng pháp luật điều chỉnh vấn đề về hợp đồng theo mẫu trong thương mại
2.1. Tổng quan tình hình và các nhân tố ảnh hưởng đến pháp luật về hợp
đồng theo mẫu trong thương mại.
2.1.1. Tổng quan tình hình
Trên thế giới, hợp đồng theo chỉ là một hình thức của những điều kiện thương
mại chung mà các doanh nghiệp thường sử dụng điều chỉnh mối quan hệ của doanh
nghiệp với tất cả khách hàng của mình. Điều kiện thương mại chung được hiểu là
những điều kiện hợp đồng, quy tắc bán hàng, chính sách khách hàng và các vấn đề
khác có liên quan do một bên (thường là doanh nghiệp) soạn thảo sẵn để áp dụng cho
tất cả những bên (thường là người tiêu dùng) tham gia giao dịch với mình. Hợp đồng
theo mẫu là một dạng của điều kiện thương mại chung trong đó bao gồm những điều
khoản liên quan đến đối tượng của từng giao dịch cụ thể nhưng do doanh nghiệp tự
soạn thảo và đưa ra để khách hàng trả lời trong một thời gian hợp lý; nếu khách hàng
trả lời chấp nhận thì coi như đã chấp thuận toàn bộ nội dung của hợp đồng. [15]
Pháp luật bảo vệ người tiêu dùng ở nhiều nước trên thế giới quy định rất rõ về
các vấn đề liên quan đến điều kiện thương mại chung, đặc biệt là vấn đề hợp đồng theo
mẫu. Ở các quốc gia có hệ thống pháp luật tiên tiến, đồng bộ, vấn đề này được điều


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status