VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM VĂN HẢO
PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI
TIÊU DÙNG TRONG LĨNH VỰC AN TOÀN, VỆ
SINH THỰC PHẨM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM VĂN HẢO
PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU
DÙNG TRONG LĨNH VỰC AN TOÀN, VỆ SINH THỰC
PHẨM
Ở VIỆT NAM HIỆN
NAY
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số
: 62.38.01.07
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Phạm Văn Hảo
ii
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
MỤC LỤC
D
a
n
h
m
ụ
c
c
á
c
k
ý
h
i
ệ
u
,
c
á
c
c
ì
n
h
v
ẽ
PHẦN MỞ
ĐẦU..............
........................
........................
........................
........................
...............1
Chương 1.
TỔNG
QUAN
TÌNH
HÌNH
NGHIÊN
CỨU
VÀ
CƠ SỞ LÝ
THUYẾT
NGHIÊN
CỨU..............
........................
........................
..................................................................6
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
........................................................................
................... 59
3.2. Thực trạng thực hiện pháp luật về bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực
an toàn, vệ sinh thực phẩm
..........................................................................
.............. 98
Chương 4. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP
iii
HOÀN
THIỆN
PHÁP
LUẬT VỀ
BẢO
VỆ
QUYỀN
LỢI
NGƯỜI
TIÊU
DÙNG
TRONG
LĨNH VỰC
AN TOÀN,
VỆ
SINH
THỰC
PHẨM
Ở
VIỆT
........................................................................
..............131
4.3. Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực
hiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh
thực phẩm
....................................................141
KẾT
LUẬN..........................................................................
....................................................... 147
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC
LIÊN QUAN ĐÃ CÔNG BỐ................ 151
DANH
MỤC
TÀI
LIỆU
THAM
KHẢO .........................................................................
... 152
PHỤ
LỤC
........................................................................................
........................................... 162
iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
Từ viết tắt
CAC
Codex Alimentarius Commission (Ủy ban Tiêu chuẩn Thực phẩm
Codex Quốc tế)
CI
Consumers International (Tổ chức Quốc tế người tiêu dùng)
GAP
Good Agriculture Production (Thực hành nông nghiệp tốt)
HACCP
Hazard Analysis and Critical Control Points (Phân tích mối nguy
và điểm kiểm soát tới hạn)
NTD
Người tiêu dùng
RAT
Rau an toàn
TĂĐP
Thức ăn đường phố
luật ATVSTP ở địa phương.................................................................113
Biểu đồ 3.8. Sự tham gia của các chủ thể trong các chương trình phổ biến, giáo dục
pháp luật về ATVSTP ........................................................................113
Biểu đồ 3.10. Đánh giá chất lượng, hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật về
ATVSTP của cán bộ cơ quan quản lý nhà nước .................................113
Biểu đồ 3.11. Đánh giá về hoạt động BVQLNTD của các tổ chức xã hội
BVQLNTD ..........................................................................................115
Biểu đồ 3.12. Phản ứng của NTD khi bị vi phạm quyền lợi ...................................117
Biểu đồ 3.13. Ý kiến của NTD về lý do đánh giá không tốt về trách nhiệm giải
quyết khiếu nại của tổ chức, cá nhân kinh doanh................................117
Biểu đồ: 3.14. Tổng hợp phản ánh, khiếu nại 4 tháng đầu năm 2017 ....................118
Biểu đồ 3.15. Thống kê số vụ việc được giải quyết tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế
Việt Nam - VIAC (2010-2016) ...........................................................120
Biểu đồ 3.16. Các loại tranh chấp được giải quyết tại VIAC .................................120
Hình 3.1: Sơ đồ hệ thống tổ chức quản lý ATVSTP hiện nay ở Việt Nam ............. 72
Hình 4.1: Sơ đồ thống nhất hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về ATVSTP, Quản
lý thị trường và BVQLNTD ...............................................................136
v
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
NTD là một bên trong quan hệ thương mại, dân sự với tính chất là người tiêu
thụ những sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ. Tuy nhiên, trong mối quan hệ này NTD
luôn ở vị thế yếu hơn và có nguy cơ gánh chịu rủi ro, thiệt hại. Luật BVQLNTD
được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 17/11/2010, có hiệu lực từ ngày
01/7/2011, nhưng cho đến nay, quyền lợi của NTD vẫn đang và có nguy cơ tiếp tục
bị vi phạm nghiêm trọng. Mặc dù có nhiều tiến bộ, song vì nhiều lý do khác nhau,
Luật BVQLNTD năm 2010 vẫn chưa thực sự là một công cụ bảo vệ tốt nhất quyền
Trước tình hình đó, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành về
BVQLNTD nói chung và trong lĩnh vực ATVSTP nói riêng là nhu cầu cấp bách đặt
ra hiện nay. Điều này có ý nghĩa rất lớn với sự phát triển kinh tế, chính trị đất nước
và bảo vệ chất lượng của giống nòi. Chính vì vậy, nghiên cứu đề tài “Pháp luật về
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh thực phẩm ở
Việt Nam hiện nay” có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Luận án nhằm góp phần làm rõ thêm lý luận pháp luật, cũng như thực trạng
pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP ở Việt Nam hiện nay, từ đó, đề
xuất các phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh
vực ATVSTP ở Việt Nam trong thời gian tới.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, Luận án xác định các nhiệm vụ sau:
Một là, nghiên cứu để làm sáng tỏ được những vấn đề lý luận pháp luật về
BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP.
Hai là, phân tích, đánh giá được một cách thấu đáo, toàn diện thực trạng
pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP ở Việt Nam hiện nay, trên cơ sở
so sánh với pháp luật ở một số quốc gia trên thế giới nhằm chỉ ra được các bài học
kinh nghiệm cho Việt Nam.
Ba là, đề xuất, kiến nghị được các giải pháp hoàn thiện pháp luật và cơ chế
thực hiện pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP ở Việt Nam trong thời
gian tới theo hướng hoàn chỉnh, đồng bộ, khả thi, hiệu lực, hiệu quả.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn các quy định pháp luật về
BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
quyền an toàn của NTD giữ vị trí trung tâm và quan trọng hàng đầu mà NTD tất yếu
cần phải được bảo vệ.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Để làm rõ các vấn đề nghiên cứu, Luận án sử dụng các phương pháp nghiên
cứu khoa học cụ thể như sau:
- Phương pháp thống kê và hệ thống hóa: Được sử dụng để phân loại và
nghiên cứu nội dung pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP ở Việt Nam
và một số nước trên thế giới. Trên cơ sở tập hợp, hệ thống ở mức đầy đủ nhất các
công trình, tài liệu thứ cấp liên quan đến pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực
ATVSTP đã được công bố, Luận án phân tích, đánh giá, kế thừa có chọn lọc nhằm
mang lại các kết quả nghiên cứu về lý luận và thực tiễn ở Chương 1, Chương 2 và
Chương 3
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Được sử dụng để gắn kết những vấn đề
mang tính lý luận ở Chương 2 với thực trạng pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực
ATVSTP ở Chương 3. Trên cơ sở các nghiên cứu lý luận, phân tích và đánh giá thực
trạng, tác giả đưa ra phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về BVQLNTD
trong lĩnh vực ATVSTP ở Việt Nam trong Chương 4.
- Phương pháp nghiên cứu so sánh luật: Được sử dụng để nghiên cứu tổng
quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài và so sánh pháp luật Việt Nam
với pháp luật quốc tế và pháp luật nước ngoài nhằm làm sâu sắc thêm nội dung toàn
bộ các chương của Luận án và đúc rút các kinh nghiệm nhằm kiến nghị hoàn thiện
pháp luật Việt Nam.
- Phương pháp nghiên cứu tình huống: Được sử dụng trong nghiên cứu thực
trạng thực hiện pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP ở Chương 3. Các
tình huống là cơ sở thực tiễn để minh chứng, luận giải việc thực hiện các quy định
pháp luật trên thực tế và đánh giá mức độ hoàn thiện, phù hợp của pháp luật, cũng
như công tác tổ chức thực hiện pháp luật.
5. Những đóng góp mới của Luận án
7. Kết cấu của Luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận án được kết
cấu 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên cứu
Chương 2: Những vấn đề lý luận pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh thực phẩm
Chương 3: Thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh thực phẩm ở Việt Nam hiện nay
Chương 4: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền
lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh thực phẩm ở Việt Nam
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ
CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU
1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Vấn đề BVQLNTD nói chung và BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP đã
được nhiều học giả trong nước và nước ngoài quan tâm nghiên cứu. Trên cơ sở tiếp
cận khái quát các giáo trình, sách, báo, bài viết, luận văn, luận án của các học giả
trong và ngoài nước, tác giả tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Luận án theo các nhóm vấn đề sau đây:
1.1.1. Các công trình nghiên cứu về quyền người tiêu dùng và sự cần
thiết bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh thực
phẩm
Về khái niệm NTD, có nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập trên nhiều góc
độ khác nhau như: [2], [5], [24], [43], [46], [48], [54], [58], [71], [77], [84], [90],
[91], [102], [110]. Dưới góc độ kinh tế: “NTD là những người sử dụng hàng hóa,
dịch vụ cuối cùng”. Dưới góc độ pháp lý: “NTD là đối tượng được bảo vệ theo Luật
BVQLNTD với tư cách là bên yếu thế” [77], ngoài ra các tài liệu nước ngoài [95],
[102], [108] đều chú trọng vào việc phân tích sự khác biệt giữa mục đích của người
trình nghiên cứu đều chỉ ra những yêu cầu cấp thiết trong BVQLNTD. Tác giả
Nguyễn Thị Vân Anh và nhiều tác giả khác trong các công trình [1]; [5]; [44]; [69]
đã khẳng định: "NTD là một bên trong quan hệ thương mại, dân sự với tính chất là
người tiêu thụ những sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ. Tuy nhiên, trong mối quan
hệ này NTD luôn ở vị thế yếu hơn và có nguy cơ gánh chịu rủi ro, thiệt hại". Điều
này thể hiện ở việc bất bình đẳng về thông tin, hiểu biết, khả năng kiểm tra chất
lượng hàng hóa, các khuyết tật và các rủi ro liên quan đến sản phẩm, hàng hóa,
dịch vụ, khả năng đàm phán, ký kết hợp đồng của NTD với thương nhân. Trong bài
viết [44], tác giả Nguyễn Mạnh Hà cho rằng: "hàng giả, hàng nhái ảnh hưởng
không nhỏ đến đời sống, sức khỏe người dân, làm suy giảm niềm tin của người tiêu
dùng đến tính minh bạch của thị trường hàng hóa". Nghiên cứu về những nguy cơ
và thiệt hại mà NTD phải gánh chịu, Đề cương giới thiệu Luật BVQLNTD của Bộ
Tư pháp và Bộ Công Thương nêu một số dẫn chứng nhiều vụ việc vi phạm quyền
lợi của NTD trong các lĩnh vực khác nhau, trong đó có ATVSTP. Asian law
Institute - National university of Singapore (2011) cho rằng: "NTD ở nhiều quốc
gia trên thế giới đều có nguy cơ bị xâm phạm quyền lợi, đặc biệt là ở các nước kém
và đang phát triển khi hệ thống luật pháp và kiểm soát về ATVSTP chưa tốt" [96].
Tác giả Trần Mai Vân trong Luận văn thạc sĩ Luật học cho rằng: "bảo đảm
ATVSTP là một trong những yếu tố
quan trọng góp phần nâng cao tầm vóc và thể chất người Việt Nam, góp phần tích
cực vào sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân" [90]. Tác giả
Đoàn Thị Hường khi đánh giá về thực trạng ô nhiễm sinh học trên thực phẩm cũng
cho rằng: "ATVSTP góp phần tăng lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Chất
lượng ATVSTP là chìa khoá tiếp thị của sản phẩm" [68]. Ngoài ra còn nhiều công
trình [2], [7], [15], [36], [42], [51], [54], [77], [91], [102] cũng đều khẳng định sự
cần thiết phải BVQLNTD.
Thư trong Luận án tiến sĩ luật học: "Hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD ở
việt nam hiện nay" [77] xác định gồm: i) các quy định về quyền và nghĩa vụ của
NTD và trách nhiệm của các bên liên quan; ii) các quy định về nghĩa vụ và trách
nhiệm của người cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho NTD; iii) các quy định về cơ chế
giải quyết tranh chấp tiêu dùng giữa NTD và thương nhân; iv) các quy định về trách
nhiệm của tổ chức xã hội trong việc tham gia bảo vệ quyền lợi NTD; v) các quy
định về trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD; vi) các quy định về
kiểm soát các điều khoản giao dịch không công bằng; vii) các hành vi bị cấm và chế
tài xử lý với hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD.
Tác giả Phạm Thị Hồng Yến trong tài liệu [94] cũng đã đề cập đến nội dung
quy định pháp lý về ATVSTP của Việt Nam điều chỉnh hoạt động sản xuất, kinh
doanh, xuất khẩu và nhập khẩu thực phẩm ở Việt Nam. Trong đó, tác giả đề cập đến
các quy định về chính sách chung; các hành vi bị cấm khi tham gia kinh doanh, chế
biến thực phẩm ở Việt Nam; quy định về điều kiện để bảo đảm ATVSTP; điều kiện
để tham gia sản xuất kinh doanh thực phẩm; trình tự, thủ tục và phương thức,
nguyên tắc kiểm tra ATVSTP nhập khẩu; điều kiện bảo đảm an toàn với thực phẩm
xuất khẩu; quảng cáo, ghi nhãn thực phẩm; kiểm nghiệm thực phẩm, phân tích nguy
cơ đối với ATVSTP, phòng ngừa, ngăn chặn và khắc phục sự cố ATVSTP; xử phạt
vi phạm hành chính về ATVSTP; thanh tra, kiểm tra chuyên ngành thực phẩm.
Luận văn Thạc sĩ luật học: “Pháp luật về kiểm soát ATVSTP trong hoạt động
thương mại ở Việt Nam”, tác giả Đặng Công Hiến đề cập ở góc độ pháp luật về
ATVSTP đã nhận xét: i) về mặt hình thức pháp lý, hệ thống văn bản pháp luật về
kiểm soát ATVSTP trong hoạt động thương mại ngày càng được nâng cao về giá
trị hiệu lực pháp lý; ii) về nội dung, các quy định kiểm soát ATVSTP trong hoạt
động thương mại ngày càng tiến bộ, bao quát và đầy đủ hơn, đáp ứng được yêu cầu
của tình hình mới.
luật về ATVSTP của Việt Nam và các nước năm 2009 của Bộ Y tế cho thấy, đã có
hơn 1300 tiêu chuẩn trong lĩnh vực nông nghiệp được rà soát; Bộ Y tế, Bộ Công
Thương
cũng ban hành hàng chục tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về ATVSTP trong các lĩnh
vực được phân công phụ trách. Tuy nhiên, số lượng tiêu chuẩn, quy chuẩn để quản
lý vẫn còn thiếu so với yêu cầu. Trong số hàng chục ngàn loại thực phẩm lưu thông
trên thị trường hiện nay thì mới có gần 500 TCVN liên quan đến ATVSTP.
- Về thanh tra, kiểm tra ATVSTP. Tác giả Phạm Thị Hồng Yến trong: " An
toàn thực phẩm và việc thực thi hiệp định SPS/WTO: Kinh nghiệm quốc tế và giải
pháp đối với Việt Nam" [94] đề cập đến các cơ quan quản lý nhà nước về ATVSTP
trên phương diện: mối quan hệ và phân cấp quản lý, nhân lực, trang thiết bị kiểm
nghiệm; đầu tư và sử dụng ngân sách cho công tác quản lý chất lượng ATVSTP. Tài
liệu đặc biệt nhấn mạnh đến một số bất cập trong công tác thanh tra, kiểm tra và xử
lý vi phạm về ATVSTP như: nhân lực, mức độ kiên quyết trong xử lý, việc phối
hợp quản lý giữa các lực lượng chức năng... Cũng đề cập đến vấn đề này, tác giả
Phạm Duy Tường nghiên cứu về trách nhiệm của chủ thể quản lý nhà nước về
ATVSTP và nêu những lưu ý trong quá trình thanh tra và xử lý vi phạm [86]. Ngoài
ra, các tài liệu [19], [17], [37], [40], [61], [51], [66], [63], [68], [56, [81], [90] cũng
đề cập đến thực tiễn thực hiện pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP,
các tài liệu cũng chỉ ra những khiếm khuyết của pháp luật gồm cả quy định của Luật
An toàn thực phẩm và BLHS khi cho rằng pháp luật đang bị "treo" một số điều
khoản khi tính khả thi thấp.
Có thể thấy, các công trình nghiên cứu trực diện về thực trạng pháp luật về
BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP còn khá ít. Do vậy, đây cũng là vấn đề mà
Luận án sẽ phải nghiên cứu để tiếp tục làm sáng tỏ.
1.1.5. Các công trình nghiên cứu về thiết chế thực thi pháp luật về bảo vệ