Quy luật mâu thuẫn trong phép biện chứng duy vật với việc phân tích hệ thống mâu thuẫn của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ ở Việt Nam - Pdf 48

ĐẶT VẤN ĐỀ
Mâu thuẫn là một hiện tượng có trong tất cả các lĩnh vực tự nhiên xã hội ,
và tư duy của con người. Trong hoạt động kinh tế thì mâu thuẫn cũng mang tính
phổ biến ,chẳng hạn như cung và cầu, tích luỹ và tiêu dùng, tính chất kế hoạch
hoá của từng xó nghiệp , công ty với tính tự phát vô chính phủ của nền sản xuất
hàng hoá , mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất . Mâu thuẫn
từ khi sự vật xuất hiện cho đến khi sự vật kết thúc. Trong mỗi sự vật , mâu thuẫn
hình thành không phải chỉ có một mà có thể có nhiều mâu thuẫn. Mâu thuẫn này
mất đi thì mâu thuẫn khác lại hình thành .
Trong sự nghiệp đổi mới đất nước ta do Đảng lãnh đạo đã giành được
nhiều thắng lợi và bước đầu mang tính chất quyết định , quan trọng trong quá
trình chuyển đổi nền kinh tế quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự
quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa . Trong những chuyển
biến đó ta đã đạt được nhiều thành công nhưng cũng không ít những mâu thuẫn
làm kìm hãm sự phát triển của công cuộc đổi mới . Vì vậy phải có những biện
pháp giải quyết để thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Với những ham muốn tìm
hiểu thêm về nền kinh tế của đất nước ta cũng như những bức xúc và những vấn
đề cần giải quyết trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tôi
chọn “Quy luật mâu thuẫn trong phép biện chứng duy vật với việc phân tích hệ
thống mâu thuẫn của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ ở Việt Nam”
làm đề tài cho bài tiểu luận này.
1
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
1. Quy luật mâu thuẫn trong phép biện chứng duy vật .
1.1. Mâu thuẫn là hiện tượng khách quan và phổ biến .
Tất cả các sự vật hiện tượng tồn tại trong thực tại khách quan đều chứa
đựng trong nó những mâu thuẫn . Sự hình thành và phát triển của mâu thuẫn là
do cấu trúc tự thân vốn có bên trong của sự vật , hiện tượng quy định . Mâu
thuẫn tồn tại không phụ thuộc vào bất kỳ một lực lượng siêu tự nhiên nào , kể cả
ý chí của con người . Mỗi một sự vật hiện tượng đang tồn tại đều là một thể
thống nhất được cấu thành bởi các mặt, các khuynh hướng , các thuộc tính phát

tượng của thế giới khách quan không phải chỉ tồn tại trong nó hai mặt đối lập .
Trong cùng một thời điểm, ở mỗi một sự vật có thể tồn tại nhiều mặt đỗi lập, chỉ
có những mặt đối lập nào tồn tại thống nhất trong cùng một sự vật như một
chỉnh thể, nhưng có khuynh hướng phát triển ngược chiều nhau, bài trừ , phủ
định và chuyển hoá lẫn nhau thì hai mặt đối lập như vậy mới gọi là hai mặt đối
lập tạo thành mâu thuẫn. Ví dụ , trong một nền sản xuất xã hội xuất hiện hàng
loạt các hướng phát triển ngược chiều nhau như cung và cầu, tích luỹ và tiêu
dùng v.v…
b> Sự thống nhất của các mặt đối lập :
“Thống nhất” của các mặt đối lập được hiểu với nghĩa không phải chúng đứng
bên cạnh nhau mà là nương tựa vào nhau , tạo ra sự phù hợp cân bằng nhưng
liên hệ phụ thuộc, quy định và ràng buộc lẫn nhau . Mặt đối lập này lấy mặt tồn
tại kia làm tiền đề cho sự tồn tại của chính mình và ngược lại . Nếu thiếu một
trong hai mặt chính tạo thành sự vật thì nhất định sẽ không có sự tồn tại của sự
vật.Bởi vậy sự thống nhất của các mặt đối lập là điều kiện không thể thiếu được
cho sự tồn tại của bất kỳ sự vật , hiện tượng nào .
Sự thống nhất này là do những đặc điểm riêng của bản thân sự vật tạo nên. Ví
dụ, trong kinh tế :giữa hai mặt tích luỹ và tiêu dùng đối lập thống nhất với nhau
trong nền sản xuất . Không có tích luỹ thì không thực hiện được quá trình tái sản
xuất mở rộng và như vậy sẽ không có điều kiện để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng
ngày càng cao. Ngược lại nếu không đảm bảo thoả mãn về nhu cầu tiêu dùng thì
cũng không đẩy mạnh sản xuất phát triển. Không đẩy mạnh sản xuất phát triển
thì cũng không có tích luỹ.
Tất nhiên khái niệm “thống nhất” này cũng chỉ mang tính tương đối mà
thôi. Bản thân nội dung khái niệm đã nói lên tính chất tương đối của nó :thống
nhất của cái đối lập , trong thống nhất đã bao hàm và chứa đưng trong nó sự đối
lập .“Khái niệm sự thống nhất của các mặt đối lập” còn được dùng cùng một
nghĩa với khái niệm “sự đồng nhất” của các mặt đối lập . Vì vậy trong quy luật
mâu thuẫn , đồng nhất và thống nhất được hiểu là đồng nghĩa với nhau . Lênin
viết : “Sự đồng nhất của các mặt đối lập ( “thống nhất” của chúng , nói như vậy

gắt. Tất nhiên không phải bất kỳ sự khác nhau nào cũng được gọi la mâu thuẫn .
Chỉ có những mặt khác nhau tồn tại trong cùng một sự vật nhưng liên hệ hữu cơ
với nhau, phát triển ngược chiều nhau , tạo thành động lực bên trong của sự phát
triển thì hai mặt đối lập ấy mới hình thành bước đầu của mâu thuẫn . Khi hai
mặt đối lập của mâu thuẫn phát triển đến giai đoạn xung đột gay gắt , nó biến
thành đối lập . Sự vật cũ mất đi , sự vật mới được hình thành . Sau khi mâu
thuẫn được giải quyết , sự vật mới hơn xuất hiện . Cứ như thế đấu tranh giữa các
4
mặt đối lập làm sự vật biến đổi không ngừng từ thấp đến cao . Chính vì vậy ,
Lênin khẳng định sự phát triển là một cuộc “đấu tranh” giữa các mặt đối lập.
Khi bàn về mối quan hệ giữa thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập ,
Lênin chỉ ra rằng : mặc dù thống nhất chỉ là điều kiện để sự vật tồn tại với ý
nghĩa là chính nó – nhờ có sự thống nhất của các mặt đối lập mà chúng ta nhận
biết được các sự vật , hiện tượng tồn tại trong thế giới khách quan . Song bản
thân của sự thống nhất chỉ là tương đối và tạm thời . Đấu tranh giữa các mặt mới
là tuyệt đối. Nó diễn ra thường xuyên liên tục trong suốt quá trình tồn tại của sự
vật . Kể cả trong trạng thái ổn định của sự vật , cũng như chuyển hoá nhảy vọt
về chất . Lênin viết : “ sự thống nhất phù hợp , đồng nhất , tác dụng ngang nhau
của các mặt đối lập là có điều kiện tạm thời , thoáng qua trong tương đối . Sự
đấu tranh của các mặt đối lập bài trừ lẫn nhau là tuyệt đối cũng như sự phát triển
, sự vận động tuyệt đối”.
1.3. Sự chuyển hoá của các mặt đối lập :
Không phải bất kỳ sự đấu tranh nào của các mặt đối lập đều dẫn đến sự
chuyển hóa giữa chúng . Chỉ có sự đấu tranh của các mặt đối lập phát triển đến
một trình độ nhất định hội đủ các điều kiện cần thiết mới dẫn đến sự chuyển hoá
bài trừ và phủ định lẫn nhau . Trong giới tự nhiên , chuyển hoá của các mặt đối
lập thường diễn ra một cách tự phát , còn trong xã hội chuyển hoá của các mặt
đối lập nhất thiết phải diễn ra thông qua hoạt động ý thức của con ngươì . Không
nên hiểu sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các mặt đối lập chỉ là sự hoán đổi vị trí
một cách đơn giản, máy móc . Thông thường thì mâu thuẫn chuyển hoá theo hai

Minh trong điều kiện hoàn cảnh mới đồng thời cũng là mục tiêu của kinh tế thị
trường . Mục đích của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phát
triển lực lượng sản xuất , phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật
của chủ nghĩa xã hội , nâng cao đời sống nhân dân , kích thích sản xuất , phát
huy tính năng động sáng tạo , thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nhưng
đồng thời nền kinh tế thị trường cũng như nền kinh tế tập chung không phải là
đặc tính đặc thù cố hữu của một chế độ kinh tế , xã hội nào cả . Muốn đạt được
hiệu quả cao trong kinh tế thì mỗi nước , mỗi chế độ xã hội phải dựa vào điều
kiện hoàn cảnh , đặc điểm tự nhiên của mình để phát triển kinh tế .
Trước thời kỳ đổi mới , trong quan điểm về chủ nghĩa xã hội người ta hiểu
kinh tế thị trường chỉ là đặc trưng của chủ nghĩa tư bản , còn trong chủ nghĩa xã
hội thì sẽ không còn kinh tế thị trường . Thời gian đầu của qúa trình đổi mới ,
tuy chúng ta đã hiểu rằng kinh tế thị trường là điều không thể tránh khỏi trong
qúa trình xây dựng chủ nghĩa xã hội , nhưng vẫn còn thái độ hoài nghi , chưa tin
tưởng vào khả năng dung hợp kinh tế thị trường với bản chất của chủ nghĩa xã
hội .
Thực tiễn đổi mới kinh tế –xã hội ở một số nước theo hướng phát triển kinh
tế thị trường đã chứng tỏ rằng nền kinh tế mà chúng ta đang xây dựng không
phải là tàn dư cuả chủ nghĩa tư bản , cũng không phải là cái chúng ta bị bắt buộc
, phải miễn cưỡng chấp nhận . Nó cũng không phải là “ bước quá độ” trong qúa
trình đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội và sẽ được vượt qua khi chủ nghĩa xã hội
thắng lợi. Kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa là bước phát triển tất yếu của nền
kinh tế và nền văn minh nhân loại, là trình độ trình độ phát triển cao hơn của nền
kinh tế nhân loại sau kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa . Có quan niệm như vậy
mới thấy được rằng , bản chất thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa
xã hội trên phạm vi toàn thế giới không phải là sự xoá bỏ nền kinh tế thị trường
7


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status