ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC - Pdf 49

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC
Câu hỏi 1: Anh/ chị hãy trình bày các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục. Hãy
chỉ ra những bất cập trong hệ thống các cơ quan này trong Quản lý nhà nước về
giáo dục.
Bài làm
Quản lý nhà nước về giáo dục là hoạt động tổ chức và điều hành để thực hiện
quyền lực nhà nước trong lĩnh vực giáo dục.
Quản lý nhà nước về giáo dục là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền
lực pháp luật của Nhà nước đối với quá trình giáo dục và hành vi hoạt động của
con người để duy trì và phát triển giáo dục nhằm thực hiện những chức năng và
nhiệm vụ của Nhà nước trong quản lý giáo dục.
Các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục bao gồm:
- Đảng Cộng sản Việt Nam
- Quốc hội
- Chính phủ
- Bộ giáo dục và đào tạo
- Bộ kế hoạch và đầu tư
- Bộ tài chính
- Bộ nội vụ
- Bộ lao động- Thương binh và xã hội
- Các Bộ có cơ sở giáo dục và dạy nghề trực thuộc
- Ủy ban nhân dân tỉnh
- Sở giáo dục và đào tạo
- Sở Lao động- Thương binh và xã hội


- Ủy ban nhân dân huyện
- Phòng giáo dục và đào tạo
- Ủy ban nhân dân cấp xã
TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC
I.


UBND HUYỆN

BỘ GD&ĐT

bộ gd&đt
QLNN
về GD trên địa bàn

Chịu trách nhiệm trước Chính phủ
thực hiện QLNN về

Bảo đảm các điều kiện:
- Đội ngũ nhà giáo.

Trường thuộc Bộ khác

Giáo dục và Đào tạo.
Viện nghiên cứu Khoa
học giáo dục

- Tài chính, cơ sở vật chất,
trang thiết bị.

SỞ GD&ĐT
PHÒNG GD&ĐT

Cơ quan sản xuất, kinh
doanh


pháp lý đã được đổi mới ở mức độ nhất định song còn mang nặng quan điểm pháp
lý đơn thuần, chưa chú ý đến sự vận động khách quan của hoạt động giáo dục và
những điều kiện thực tế đảm bảo thực hiện pháp luật trong đời sống. Trong lĩnh
vực giáo dục và đào tạo, đặc biệt là đối với một số loại hình đào tạo mới như đào


tạo sau đại học, đào tạo từ xa, đào tạo ngoài công lập…, văn bản pháp luật còn tản
mạn, thiếu tính hệ thống và đồng bộ. Phần lớn các lĩnh vực trong hệ thống giáo dục
quốc dân được điều chỉnh bằng các văn bản dưới luật của Chính phủ, của Bộ Giáo
dục và Đào tạo, của các cơ quan quản lý hành chính.
Thứ sáu, quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục chưa được coi trọng, còn buông
lỏng quản lý. Chất lượng đào tạo của ngành giáo dục là một trong những vấn đề
nổi cộm nhất hiện nay được dư luận quần chúng và các phương tiện truyền thông
quan tâm.
Thứ bảy, công tác quy hoạch, kế hoạch giáo dục và đào tạo còn mang nặng tính
hình thức, chất lượng khônng cao.
3. Nguyên nhân của những yếu kém, bất cập của giáo d
3.1. Nguyên nhân mang yếu tố chủ quan
Bao gồm các yếu tố như: Trình độ quản lý giáo dục chưa theo kịp với thực tiễn và
nhu cầu phát triển khi nền kinh tế đang chuyển từ kế hoạch hóa tập trung sang thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa; cơ chế quản lý của ngành giáo dục - đào tạo
chưa hợp lý; Nội dung, phương pháp giáo dục còn nhiều bất cập.
3.2. Nguyên nhân khách quan
Thứ nhất, trong những năm qua, giáo dục - đào tạo nước ta chịu một sức ép rất lớn
về nhu cầu học tập ngày càng tăng do dân số và trình độ dân trí tăng, song lao động
dư thừa nhiều, khả năng sử dụng lao động của nền kinh tế còn hạn chế, khả năng
đầu tư cho giáo dục còn hạn hẹp.
Thứ hai, những chậm trễ trong việc cải cách hành chính nhà nước, trong việc đổi
mới quản lý kinh tế, tài chính, sử dụng lao động, chính sách tiền lương… là những


dựng, tổ chức quản lý, giám sát mọi hoạt động Bộ máy của nhà nước phục vụ nhân
dân Cơ sở xây dựng cho việc xây dựng Nhà nước: lấy giai cấp công nhân, nhân
dân lao động, giai cấp tri thức làm nền tảng. Bộ máy Nhà nước do Đảng CSVN
lãnh đạo. Tổ chức bộ máy Nhà nước trên cơ sở học thuyết Nhà nước pháp quyền
VN. Đảng CS Việt Nam nhất quán xây dựng nhà nước theo quan điểm quyền lực
của Nhà nước là thống nhất, có sự phân công phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan
nhà nước trong việc thực quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp (Văn kiện Đại hội đại
biểu toàn quốc lần 8) Về bản chất chính trị và nguồn gốc của việc tổ chức nhà nước
đó là nhà nước của dân, co dân, vì dân; nhân dân là chủ thể duy nhất lập nên nhà
nước Việt Nam, khẳng định tính chất nhất nguyên chính trị trong xã hội Việt Nam
hiện nay. Quan điểm phân công phấn phối chặt chẽ giữa các cơ quan là nhận thức
khoa học và thực tế; phạm trù phân công thể hiện 2 tư tưởng: phân công được bắt
nguồn từ một cơ sở, 1 nguồn gốc quyền lực (từ một chủ thể tối cao) và tính nhất
quán chính trị. Có sự nghiên cứu, vận dụng một cách chọn lọc các mô hình tổ chức
bộ máy nhà nước có thể chế dân chủ khác. Tăng cường hơn nữa quản lý xã hội
bằng pháp luật và theo pháp luật; kết hợp và sử dụng các phương pháp giáo dục
thuyết phục và rèn luyện phẩm chất đạo đức. Luật pháp, dân trí và nền tảng đạo
đức là các công cụ và phương tiện cần thiết và có ưu thế khác nhau; tính đa dạng
của đời sống xã hội về chính trị, kinh tế, văn hóa, tập quán khiến cho nhà nước
phải lựa chọn công cụ quản lý phù hợp. Trong giai đoạn chuyển snag nền kinh tế
thị trường, các thành phần kinh tế đều bình đẳng trong sản xuất và kinh doanh,


luôn cạnh tranh để phát triển hơn nữa cơ chế mở cửa của nhà nước ta, tạo ra sự hợp
tác liên doanh với các đối tượng bên ngoài thuộc các quốc gia có chế độ kinh tế
chính trị khác nhau. Sự kết hợp giữa quản lý xã hội bằng pháp luật với tăng cường
giáo dục, rèn luyện đạo đức là sự kết hợp biện chứng. Người có ý thức là người
biết giá trị và sức mạnh của luật pháp, biết tôn trọng và làm cho pháp chế được xác
lập; ngược lại, pháp luật lgops phần ngăn chặn, vô hiệu hóa những hành vi vi phạm
pháp luật và đạo đức của một số ít các nhân trong xã hội, góp phần làm cho xã hội

mở rộng quyền cho đối tượng quản lý nhằm phát huy trí tuệ tập thể. Nguyên tắc
này quy định sự lãnh đạo dựa trên cơ sở tôn trọng và thực hiện quyền của mọi
người được tham gia bàn bạc và giải quyết công việc chung, phát huy quyền dân
chủ của mọi người.
4. Nguyên tắc 4: Pháp chế Quy phạm là những quy định chặt chẽ, yêu cầu mọi
người phải tuân theo (quy phạm đạo đức). Pháp luật là những quy phạm về hành
vi, do nhà nước ban hành mà mọi người dân buộc phải tuân theo, nhằm điều chỉnh
các quan hệ XH và bảo vệ trật tự XH. Pháp chế là những quy định về nghĩa vụ, về
trách nhiệm trong đời sống và hoạt động XH được bảo đảm bằng pháp luật.
Câu hỏi 3: Trình bày chức trách, nhiệm vụ, yêu cầu về trình độ giáo viên
PTTH (là giáo viên trong tương lai anh/ chị sẽ phấn đấu ntn để làm tốt nhiệm
vụ của người giáo viên).
1. Chức trách: là công chức chuyên môn, chuyên trách giảng dạy và giáo dục ở
trường PTTH công lập.


2. Nhiệm vụ: Giảng dạy môn học theo mục tiêu, nội dung, chương trình và kế
hoạch đào tạo do bộ GD ban hành. Thực hiện đầy đủ các chương trình bồi dưỡng,
sinh hoạt chuyên môn, hội thảo chuyên đề, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ. Đảm nhận các hoạt động giáo dục (chủ nhiệm,lao động
hướng nghiệp, văn nghệ, thể dục thể thao, luyện tập quân sự, hoạt động ngoại khóa
...) theo nội dung chương trình và phân công của hiệu trưởng Thực hiện đầy đủ các
quy chế chuyên môn, soạn bài, giảng bài, thực hành, phụ đạo, coi chấm thi, đánh
giá, xếp loại học sinh các nội quy, quy định của trường và của Bộ GD –ĐT rèn
luyện đạo đức phẩm chất của người giáo viên, gương mẫu tham gia công tác xã
hội, đoàn thể trong và ngoài trường; phối hợp với các giáo viên xây dựng tập thể sư
phạm vững mạnh.
3.Hiểu biết: Nắm được mục tiêu các cấp học, nắm bắt kịp thời các quan điểm, chủ
trương đường lối, chính sách của nhà nước và các quy định của ngành về công tác
giáo dục đào tạo. Năm được kiến thức cơ bản lý luận dạy học, phương pháp giảng

2.5. Cơ sở vật chất kỹ thuật nhà trường còn thiếu thốn và lạc hậu.
Câu hỏi 5: Nêu cơ hội & thách thức của nền GD VN đầu thế kỉ 21
1. Các cơ hội:
1.1. Quá trình hội nhập với các trào lưu đổi mới mạnh mẽ trong giáo dục đang diễn
ra ở quy mô toàn cầu tạo cơ hội thuận lợi cho nước ta có thể nhanh chóng tiếp cận


với các xu thế mới, tri thức mới, những mô hình giáo dục hiện đại, tận dụng các
kinh nghiệm quốc tế để đổi mới và phát triển làm thu hẹp khoảng cách phát triển
giữa nước ta với các nước khác. Hợp tác quốc tế được mở rộng tạo điều kiện tăng
đầu tư của các nước, các tổ chức quốc tế và các doanh nghiệp nước ngoài, tăng nhu
cầu tuyển dụng lao động qua đào tạo, tạo thời cơ để phát triển giáo dục.
1.2. Sau hơn 20 năm đổi mới, những thành tựu đạt được trong phát triển kinh tế xã
hội, sự ổn định chính trị làm cho thế và lực nước ta lớn mạnh lên nhiều so với
trước. Sự đóng góp về nguồn lực của nhà nước và nhân dân cho phát triển giáo dục
ngày càng được tăng cường.
1.3. Những người Việt Nam ở nước ngoài với nhiều tiềm năng đang hướng về tổ
quốc và dân tộc, sẵn sàng đóng góp cho sự nghiệp giáo dục nước nhà.
2. Các thách thức:
2.1. Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ trên thế giới
có thể làm cho khoảng cách kinh tế và tri thức giữa Việt Nam và các nước ngày
càng lớn hơn, nước ta có nguy cơ bị tụt hậu xa hơn. Hội nhập quốc tế không chỉ tạo
cho giáo dục cơ hội phát triển mà còn chứa đựng nhiều hiểm họa, đặc biệt là nguy
cơ xâm nhập của những giá trị văn hóa và lối sống xa lạ làm xói mòn bản sắc dân
tộc. Khả năng xuất khẩu giáo dục kém chất lượng từ một số nước có thể gây nhiều
rủi ro lớn đối với giáo dục Việt Nam, khi mà năng lực quản lý của ta đối với giáo
dục xuyên quốc gia còn yếu, thiếu nhiều chính sách và giải pháp thích hợp để định
hướng và giám sát chặt chẽ các cơ sở giáo dục có yếu tố nước ngoài.
2.2. Ở trong nước, sự phân hóa trong xã hội có chiều hướng gia tăng. Khoảng cách
giàu nghèo giữa các nhóm dân cư, khoảng cách phát triển giữa các vùng miền ngày

dục là một trong những động lực phát triển giáo dục.
6. Giáo dục phải đảm bảo chất lượng tốt nhất trong điều kiện chi phí còn hạn hẹp
Trong 6 quan điểm trên tôi nhận thấy quan điểm thứ 4 là quan trọng nhất Toàn cầu
hóa mang đến nhiều cơ hội cùng với không ít thách thức, trong đó có nguy cơ văn
hóa dân tộc bị lu mờ bởi việc du nhập những lối sống và giá trị xa lạ, cực đoan,
thậm chí phi nhân tính. Cần vận dụng những kinh nghiệm giáo dục của nhiều nước
tiên tiến trên thế giới để tiết kiệm thời gian, công sức, tiền của, rút ngắn khoảng
cách phát triển giữa nước ta và các nước trên thế giới. Tuy nhiên, việc tiếp nhận
những mô hình giáo dục của nước ngoài phải được xem xét thận trọng để phù hợp
với trình độ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo tính khả thi đồng thời không làm
tổn hại đến những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Vận dụng những bài
học kinh nghiệm của quốc tế phải được tiến hành đồng thời với việc nhấn mạnh
hơn những yếu tố dân tộc trong nội dung và phương pháp giáo dục, giúp người học
hiểu biết sâu sắc về văn hóa Việt Nam, biết tự hào về truyền thống dân tộc, có ý
thức và trách nhiệm gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc.
*Giá trị văn hóa truyền thống dân tộc + Văn hóa Việt Nam kết tinh lâu đời thành hệ
giá trị chân – thiện – mỹ +Các giá trị văn hóa truyền thống được thể hiện thành tâm
lý và ý thức, phong tục, tập quán và lối sống, tạo nên tính cách con người và cộng
đồng dân tộc. +Nói cách khác, các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc kết tinh
trong quan niệm, tư tưởng, triết lý, đạo đức và cách thức ứng xử, phản ánh diện
mạo tinh thần, tâm hồn, và tình cảm của cả một dân tộc trong đó có các sản phẩm
vật thể và phi vật thể của văn hóa.
*Nền giáo dục mang tính nhân văn +Phát huy đầy đủ bản sắc dân tộc VN, truyền
thụ nền văn hóa dân tộc (chú trọng quốc ngữ, quốc văn, quốc sử) +GD truyền


thống lịch sử, CM của dân tộc +GD giúp người học hiểu biết sâu sắc về văn hóa
Việt Nam, biết tự hào về truyền thống dân tộc, có ý thức trách nhiệm giữ gìn văn
hóa dân tộc
*Nền giáo dục mang tính tiên tiến hiện đại +Nền GD bắt kịp đà phát triển của XH


để

trở

thành

vốn

quý

của

đất

nước.

Đối với giáo dục tiểu học: năng lực đọc hiểu và làm toán của học sinh được nâng
cao rõ rệt, tỷ lệ học sinh đạt yêu cầu trong các đánh giá quốc gia về đọc hiểu và
tính toán là 90% vào năm 2020. Tất cả học sinh tiểu học được học 2 buổi ngày vào
năm 2020. Học sinh tiểu học được học chương trình tiếng Anh mới từ lớp 3 và
70% số này đạt mức độ 1 theo chuẩn năng lực ngoại ngữ quốc tế vào năm 2020.
Đối với giáo dục trung học: học sinh được trang bị học vấn cơ bản, kỹ năng sống,
những hiểu biết ban đầu về công nghệ và nghề phổ thông, được học một cách liên
tục và hiệu quả chương trình ngoại ngữ mới để đến cuối thập kỷ thứ hai của thế kỷ
21 có trình độ ngoại ngữ ngang bằng với các nước trong khu vực. c. Giáo dục nghề
nghiệp Sau khi hoàn thành các chương trình giáo dục nghề nghiệp, học sinh có
năng lực và có đạo đức nghề nghiệp, kỷ luật lao động và tác phong lao động hiện
đại, khả năng sử dụng ngoại ngữ, nhất là tiếng Anh trong học tập và làm việc tương
đương với học sinh ở các nước phát triển trong khu vực, đáp ứng được yêu cầu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status