Tác động của nguồn vốn vay từ ngân hàng chính sách xã hội đối với sinh viên trường đại học tài chính quản trị kinh doanh - Pdf 49

BỘ TÀI CHÍNH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH - QUẢN TRỊ KINH DOANH

BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN

ĐỀ TÀI:
TÁC ĐỘNG CỦA NGUỒN VỐN VAY TỪ NGÂN HÀNG CHÍNH
SÁCH XÃ HỘI ĐỐI VỚI SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI
CHÍNH - QUẢN TRỊ KINH DOANH

Hưng Yên tháng 6, năm 2017


BỘ TÀI CHÍNH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH - QUẢN TRỊ KINH DOANH

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

ĐỀ TÀI:
TÁC ĐỘNG CỦA NGUỒN VỐN VAY TỪ NGÂN HÀNG CHÍNH
SÁCH XÃ HỘI ĐỐI VỚI SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI
CHÍNH - QUẢN TRỊ KINH DOANH
Thuộc nhóm ngành khoa học: Nghiên cứu xã hội
Sinh viên thực hiện: Dương Thị Phương
Lớp: KD2BNam, Nữ: Nữ
Dân tộc: Kinh
Khoa: Kế toán - Kiểm toán

Năm thứ:3 /Số năm đào tạo: 4


nghiên cứu về tín dụng sinh viên, nhưng phần lớn nghiên cứu về thực
trạng cho vay tín dụng sinh viên, từ đó chỉ ra ưu điểm, hạn chế của
nguồn tín dụng. Chưa có đề tài nào nghiên cứu về tác động của nguồn
tín dụng đến sinh viên, đặc biệt là sinh viên trường Đại học Tài chính


– Quản trị kinh doanh. Do đó, tác giả lựa chọn: “Tác động của nguồn
vốn từ ngân hàng chính sách xã hội đối với sinh viên trường Đại học
Tài chính - Quản trị kinh doanh” làm đề tài nghiên cứu.
Qua đề tài này, tác giả phân tích tác động tín dụng của ngân
hàng chính sách xã hội đến sinh viên trường Đại học Tài chính - Quản
trị kinh doanh. Nêu những giải pháp sử dụng hiệu quả hơn tín dụng
sinh viên. Đồng thời, khắc phục những hạn chế của nguồn tín dụng
sinh viên, để sinh viên có thể tiếp cận với nguồn tín dụng thuận lợi
hơn, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và học tập của sinh viên.
4. Kết quả nghiên cứu:
- Bổ sung lý thuyết về những tác động nguồn vốn đối với sinh
viên.
- Chỉ ra thực trạng, tác động vay vốn từ ngân hàng chính sách xã
hội đến sinh viên trường Đại học Tài chính- Quản trị kinh doanh.
- Đưa ra một số giải pháp nhằm tạo điều kiện để sinh viên có cơ
hội tiếp cận với vốn chính sách xã hội.
5. Đóng góp về mặt kinh tế- xã hội, giáo dục và đào tạo, an
ninh, quốc phòng và khả năng áp dụng của đề tài
-Sinh viên: Đưa ra giải pháp phát huy tác động của tín dụng
giúp nhiều sinh viên có cơ hội tiếp cận với tín dụng sinh viên. Nâng
cao nhận thức nguồn vốn vay từ ngân hàng chính sách xã hội đối với
sinh viên.
- Nhà trường: Tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên xin giấy
xác nhận để vay vốn. Đồng thời, tuyên truyền sâu, rộng đến sinh viên

phục vụ cho nhu cầu học tập của mình. Tín dụng sinh viên có tác động
rất lớn đến nhận thức, kết quả học tập và động lực tìm kiếm việc làm của
sinh viên. Vậy nên, cần có giải pháp mở rộng nguồn tín dụng đến tất cả
sinh viên có nhu cầu vay vốn. Tạo cơ hội cho sinh viên tiếp cận với
nhiều nguồn vốn ưu đãi từ ngân hàng chính sách xã hội. Đồng thời, thấy
được những hạn chế của tín dụng sinh viên, để nâng cao hiệu quả của tín
dụng trong xã hội.
2. Về sự hợp lý, độ tin cậy và tính hiện đại của phương pháp nghiên
cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận đúng đắn về vốn,
chức năng, nhiệm vụ của ngân hàng chính sách xã hội. Nghiên cứu đề tài
tác giả dựa trên nguồn tư liệu phong phú, đáng tin cậy, bao gồm nhiều
đầu tài liệu là các văn bản, quyết định, các sách chuyên khảo, bài nghiên
cứu có liên quan và trang phụ lục về kết quả khảo sát.
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứunhư: phân tích, thống kê,
so sánh.... Bố cục đề tài, ngoài phần mở đầu, kết luận có 3 chương với
nội dung chính cơ bản hợp lý. Hình thức trình bày khoa học, văn phong
mạnh lạc, sử dụngbảng biểusố liệu để minh họa cho nhận định một cách
khoa học.
3. Về kết quả nghiên cứu đạt được và những đóng góp mới của đề
tài
Chương 1: Đưa ra cơ sở lý luận và thực tiễn phục vụ nghiên cứu
đề tài. Nhóm nghiên cứu đã đưa ra một số khái niệm, đặc điểm và vai trò


của vốn. Trên cơ sở đó đưa ra bài học của ngân hàng chính sách xã hội
khi cho sinh viên vay vốn.
Chương 2: Phân tích thực trạng vay vốn từ ngân hàng chính sách
xã hội của sinh viên, chỉ ra tác động của nguồn vốn vay từ ngân hàng
chính sách xã hội đến sinh viên.

Ảnh 4x6

Họ và tên: Dương Thị Phương
Sinh ngày:
Nơi sinh: Hưng Yên
Lớp: KD2B

Khóa: 2015- 2018

Khoa: Kế toán - Kiểm toán
II. QUÁ TRÌNH HỌC TẬP (kê khai thành tích của sinh viên từ năm
thứ 1 đến năm đang học):
* Năm thứ 1:
Ngành học: Kế toán

Khoa: Kế toán - kiểm

toán
Kết quả xếp loại học tập: Khá
* Năm thứ 2:
Ngành học: Kế toán

Khoa: Kế toán- kiểm

toán
Kết quả xếp loại học tập: Khá

Hưng Yên, ngày 30 tháng 5 năm 2017
Xác nhận của trường đại học


doanh”.Để tìm hiểu những tác động nguồn vốn vay ngân hàng chính
sách xã hội đối với sinh viên trường Đại học Tài chính- Quản trị kinh


doanh. Đồng thời, đề ra những giải phápgiúp sinh viên có cơ hội tiếp
cận với các nguồn vốn ưu đãi của ngân hàng chính sách xã hội.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Cho sinh viên vay vốn là một chủ đề được nhiều nhà nghiên cứu
trong nước nghiên cứu dưới những góc độ chính sách, điều kiện cho
vay, quản lý nguồn vốn, khả năng hoàn trả vốn vay, các chế tài áp dụng
đối với việc vay trả của sinh viên, có thể liệt kê các công trình sau:
Nguyễn Hải Minh,“một số vấn đề chính sách xã hội ở nước ta
hiện nay” [7, Tr. 45-49]. Nhóm tác giả cho rằng, sinh viên là một bộ
phận của tầng lớp tri thức. Chính sách xã hội phải tạo điều kiện vật chất
và tinh thần cho sự hình thành những chính sách xã hội cần thiết nhằm
duy trì sự ổn định tương đối vị trí của họ trong cơ cấu xã hội, có nghĩa
làm giảm bớt khả năng di động nghề nghiệp. Cần có chính sách đãi ngộ
tốt hơn cho nhóm đối tượng sinh viên.
Tác giả Việt Hải, “cần có một cơ chế giúp sinh viên nghèo vượt
khó”[9,Tr.56-60], đã chỉ ranguồn tín dụng đào tạocủa nhà nước trong
những năm qua đã tạo điều kiện cho hơn 4 vạn học sinh, sinh viên có
điều kiện tiếp tục theo học. Tuy nhiên, về phía ngân hàng hiện nay vẫn
gặp một số khó khăn về thu hồi nợ. Tại Hà Nội, hàng trăm sinh viên tốt
nghiệp trên 1 năm vẫn không chịu trả nợ, mặc dù đã thông báo về gia
đình. Chỉ một số ít sinh viên vì chưa xin được việc đã được gia đình làm
đơn xin giãn nợ. Số nợ quá hạn tại quỹ tín dụng tăng cao. Vì vậy cần có
sự phối hợp các bên liên quan tạo điều kiện tốt nhất để sinh viên được
vay vốn yên tâm học tập. Góp phần nâng cao chất lượng ngưồn nhân lực
thúc đẩy sự phát triển chung của xã hội.
Tác giả, Đỗ Thanh Hiền, “Vốn vay ngân hàng chính sách xã hội



Nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu về thực trạng vay vốn ưu đãi sinh
viên. Nhưng ít tác giả nghiên cứu về tác động của tín dụng sinh viên đến
sinh viên. Đặc biệt, chưa có công trình nghiên cứu về tác động của
nguồn vốn ưu đãi từ ngân hàng chính sách xã hội đến sinh viên trường
Đại học Tài chính- Quản trị kinh doanh. Vì vậy, nhóm tác giả lựa chọn
đề tài: “Tác động của nguồn vốn vay từ ngân hàng chính sách xã hội
đối với sinh viên trường Đại học Tài chính-Quản trị kinh doanh” để
nghiên cứu.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Nhằm mục đích tìm hiểu tác động của nguồnvốn vay từ ngân hàng
chính sách xã hội đối với sinh viên trường Đại học Tài chính-Quản trị
kinh doanh. Qua đó, đưa ranhững giải pháp để sinh viên trường Đại học
Tài chính - Quản trị kinh doanh có thể tiếp cận với các nguồn vốn chính
sách xã hội.
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Tác động của nguồn vốn vay từ ngân hàng chính sách xã hội đối
với sinh viên trường Đại học Tài chính - Quản trị kinh doanh
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Khảo sát thực trạng vay vốn, tác động của nguồn vốn từ ngân
hàng chính sách xã hội đối với sinh viên trường Đại học Tài chính
-Quản trị kinh doanh (khóa K2,K3,K4).
5. Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng chủ yếu các phương
pháp nghiên cứu sau:Phân tích, tổng hợp, điều tra bảng hỏi, thống kê
6. Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài
6.1. Về mặt lý luận


ngày càng hoàn thiện. Những nhà kinh tế học khi nghiên cứu lại tiếp cận
từ những góc độ nghiên cứu khác nhau. Do đó, mỗi nhà kinh tế lại đưa
ra những khái niệm về vốn khác nhau:
Các nhà kinh tế học cổ điển rằng, vốn là một trong những yếu tố
đầu vào trong quá trình sản xuất kinh doanh. Cách hiểu này phù hợp với
trình độ quản lý kinh tế còn sơ khai- giai đoạn kinh tế học mới xuất hiện
và bắt đầu phát triển.
Các nhà tài chính cho rằng, vốn là tổng số tiền do những người có
cổ phần trong công ty đóng góp và họ nhận được phần thu nhập chia
cho các chứng khoán của công ty. Như vậy, các nhà tài chính đã chú ý
đến mặt tài chính của vốn, làm rõ được nguồn vốn cơ bản của doanh


nghiệp đồng thời cho các nhà đầu tư lợi ích của việc đầu tư, khuyến
khích họ tăng cường đầu tư vào mở rộng và phát triển sản xuất.
Theo David Begg, Standley Fischer, Rudige Darnbusch trong
cuốn “Kinh tế học”: “Vốn là một loại hàng hoá nhưng được sử dụng
tiếp tục vào quá trình sản xuất kinh doanh tiếp theo. Có hai loại vốn là
vốn hiện vật và vốn tài chính. Vốn hiện vật là dự trữ các loại hàng hoá
đã sản xuất ra các hàng hoá và dịch vụ khác. Vốn tài chính là tiền mặt,
tiền gửi ngân hàng”[2,tr.56].
Một số nhà kinh tế học khác cho rằng,“Vốn là lượng của cải vật
chất khả dụng mà con người tạo ra và tích lũy. Để thực hiện đầu tư - là
hoạt động chi tiêu để làm tăng hoặc duy trì tài sản vật chất trong một
thời kỳ nhất định, cần sử dụng vốn được hình thành từ các nguồn khác
nhau”[3, tr.63].
Khái niệm vốn trong giáo trình Tài chính doanh nghiệp của
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân thì được chia thành hai phần: Tư bản
là giá trị mang lại giá trị thặng dư. Vốn được quan tâm đến khía cạnh
giá trị nào đó của nó mà thôi. Bảng cân đối kế toán phản ánh tình hình

vẫn có sinh viên bên cạnh số tiền hàng tháng gia đình cho thì vay vốn từ
ngân hàng Chính sách xã hội để đảm bảo điều kiện học tập.
Khi nghiên cứu về nguồn vốn, các nhà kinh tế học đưa ra nhiều
quan điểm khác nhau.
Đối với ngân hàng thương mại, nguồn vốn là toàn bộ các nguồn
tiền tệ mà ngân hàng tạo lập, huy động được để vay, đầu tư và thực thi
các dịch vụ ngân hàng. Nguồn vốn của ngân hàng thương mại bao gồm:
chủ sở hữu, vốn huy động, vốn đi vay và một số vốn khác [7, tr.9].


Đối với ngân hàng Chính sách xã hội, nguồn vốn là vốn điều lệ do
ngân sách nhà nước cấp khi thành lập và được bổ sung trong quá trình
hoạt động. Ngân hàng Chính sách xã hội được bổ sung vốn điều lệ hàng
năm tương ứng với tỷ lệ tăng trưởng tín dụng được Thủ tướng Chính phủ
giao. Các quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ đầu tư phát triển nghiệp
vụ, quỹ dự phòng tài chính, quỹ dự phòng rủi ro tín dụng, quỹ khen
thưởng, quỹ phúc lợi. Vốn ngân sách nhà nước (bao gồm ngân sách
Trung ương, ngân sách địa phương) để cho vay xóa đói giảm nghèo, tạo
việc làm và thực hiện chính sách xã hội khác. Chênh lệch thu chi được
để lại chưa phân bổ cho các quỹ (nếu có). Vốn tài trợ không hoàn lại của
các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước và vốn khác (nếu có).
Đối với sinh viên, nguồn vốn để đảm bảo chi phí sinh hoạt và học
tập phần lớn đều do gia đình cung cấp, bên cạnh đó nhiều sinh viên vay
vốn từ ngân hàng để phục vụ cho học tập.
Như vậy, nguồn vốn được hiểu là khoản tiền để đầu tư, khoản tiền
đó có thể là vốn chủ sở hữu, huy động và đi vay... đối với sinh viên học
tập cũng là một đầu tư cho tương lai, do vậy nhiều bạn sinh viên đi vay
vốn từ ngân hàng Chính sách xã hội để phục vụ cho học tập, bên cạnh
số tiền hàng tháng gia đình cung cấp.
- Khái niệm sinh viên

hội đối với sinh viên
1.1.2.1. Khái quát về ngân hàng chính sách xã hội
Ngân hàng chính sách xã hội là một Tổ chức tín dụng Nhà nước,
là một pháp nhân, có vốn điều lệ, có con dấu, được mở tài khoản tại
ngân hàng nhà nước, kho bạc Nhà nước và các tổ chức tín dụng khác.
Ngân hàng chính sách xã hội có chức năng


Thứ nhất, tạo điều kiện để mở rộng thêm các đối tượng phục vụ là
hộ nghèo, học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, các đối tượng
chính sách cần vay vốn để giải quyết việc làm, đi lao động có thời hạn ở
nước ngoài và các tổ chức kinh tế, cá nhân hộ sản xuất, kinh doanh
thuộc các xã đặc biệt khó khăn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, khu vực II
và III (khu vực III là xã có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn nhất;
xã khu vực II là xã có điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn nhưng đã
tạm thời ổn định)
Thứ hai, ngân hàng Chính sách xã hội được thành lập để thực hiện
chính sách tín dụng ưu đãi đối với người nghèo và các đối tượng chính
sách khác.
Hoạt động của ngân hàng chính sách xã hội không vì mục đích lợi
nhuận, được Nhà nước bảo đảm khả năng thanh toán, tỷ lệ dự trữ bắt
buộc bằng 0%, không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi, được miễn thuế
và các khoản phải nộp ngân sách Nhà nước.
Ngân hàng chính sách xã hội được thực hiện các nghiệp vụ như
huy động vốn, cho vay, thanh toán, ngân quỹ và được nhận vốn uỷ thác
cho vay ưu đãi của chính quyền địa phương, các tổ chức kinh tế, chính
trị - xã hội, các hiệp hội, các hội, các tổ chức phi Chính phủ, các cá nhân
trong và ngoài nước đầu tư cho các chương trình dự án phát triển kinh tế
xã hội.
Thứ ba, ngân hàng Chính sách xã hội là một trong những công cụ

có hoàn cảnh khó khăn theo học tại các trường đại học (hoặc tương
đương đại học), cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và tại các cơ sở đào


tạo nghề được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt
Nam, gồm:
Thứ hai, sinh viên mồ côi cả cha lẫn mẹ hoặc chỉ mồ côi cha hoặc
mẹ nhưng người còn lại không có khả năng lao động. Sinh viên là thành
viên của hộ gia đình thuộc một trong các đối tượng:Hộ nghèo theo tiêu
chuẩn quy định của pháp luật; hộ gia đình có mức thu nhập bình quân
đầu người tối đa bằng 150% mức thu nhập bình quân đầu người của hộ
gia đình nghèo theo quy định của pháp luật.
Thứ ba, sinh viên mà gia đình gặp khó khăn về tài chính do tai
nạn, bệnh tật, thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh trong thời gian theo học có
xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú.
Thủ tục để sinh viên vay vốn từ ngân hàng chính sách xã hội
Bước 1: Xin giấy xác nhận là sinh viên tại trường học
Đối với sinh viên năm thứ nhất phải có giấy báo trúng tuyển hoặc
giấy xác nhận được vào học của nhà trường.
Đối với sinh viên từ năm thứ hai trở đi phải có xác nhận của nhà
trường về việc đang theo học tại trường và không bị xử phạt hành chính
trở lên về các hành vi: cờ bạc, nghiện hút, trộm cắp, buôn lậu.
Bước 2: Làm thủ tục vay vốn, duyệt hồ sơ và giải ngân
Như vậy, nếu đảm bảo đầy đủ các điều kiện cho vay của ngân
hàng chính sách xã hội thì sinh viên được vay với mức vốn cho vay tối
đa1.100.000 đồng/tháng/HSSV (áp dụng từ ngày 01/8/2014). Đồng thời,
ngân hàng chính sách xã hội quy định mức cho vay cụ thể đối với sinh
viên căn cứ vào mức thu học phí từng trường và sinh hoạt phí theo vùng
nhưng không vượt quá mức cho vay.
1.1.2.3. Tác động của nguồn vốn vay từ ngân hàng chính sách

các dịch vụ học tập của sinh viên sẽ rất hạn chế. Do đó, khi có nguồn
vốn vay từ ngân hàng chính sách xã hội sinh viên có điều kiện mua sắm
thêm dụng cụ học tập, sử dụng đầy đủ các dịch vụ học tập như học thêm,
đi thực tế… đã tác động rất lớn đến kết quả học tập.
Tác động đến nhận thức của sinh viên
Thông qua nguồn vốn vay từ ngân hàng chính sách xã hội đã có
tác động đến giải quyết vấn đề an sinh xã hội. Từ đó, giúp sinh viên có
cái nhìn tích cực hơn về chế độ, chính sách của nhà nước đối với sinh
viên thuộc đối tượng chính sách nói riêng và những đối tượng chính sách
xã hội nói chung. Sinh viên nhận thấy chế độ mà họ đang sống, học tập
và rèn luyện là một chế độ trọng nhân tài. Đặc biệt, sinh viên nhận thấy
chính sách của Đảng và Nhà nước đã tạo sự công bằng trong nhu cầu
học tập của mọi người dân. Từ đó,họ cảm thấy được coi trọng và phấn
đấu tích cực bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang xây
dựng.
Tác động đến động lực tìm kiếm việc làm của sinh viên sau khi ra
trường.
Sinh viên được vay vốn từ ngân hàng chính sách xã hội đều xuất
thân từ gia đình chính sách xã hội. Phần lớn gia đình các em gặp khó
khăn về tài chính. Do đó, nó tác động rất lớn đến nhận thức của sinh
viên. Không chỉ trong quá trình học tập mà khi các em ra trường nó cũng
tác động lớn đến động lực tìm kiếm việc làm của bản thân. Từ vay vốn
ngân hàng chính sách xã hội để phục vụ cho học tập, các em đang trở
thành “con nợ” của ngân hàng chính sách xã hội. Bởi vậy, nó thôi thúc ý
chí tìm kiếm việc làm, tạo thu nhập để tự nuôi sống bản thân cũng như


trả nợ. Nhất là khi thời hạn 12 tháng sau khi ra trường phải trả khoản nợ
vay từ ngân hàng chính sách xã hội càng khiến sinh viên nhanh tìm kiếm
việc làm.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status