Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao thành phố viêng chăn cộng hoà dân chủ nhân dân lào ( Luận án tiến sĩ) - Pdf 49

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

PHÍT SA MÁY BUNVILAY

ph¸t triÓn nguån nh©n lùc
chÊt l-îng cao ë thµnh phè viªng ch¨n,
céng hßa d©n chñ nh©n d©n Lµo

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2014


HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

PHÍT SA MÁY BUNVILAY

ph¸t triÓn nguån nh©n lùc
chÊt l-îng cao ë thµnh phè viªng ch¨n,
céng hßa d©n chñ nh©n d©n Lµo
Chuyên ngành : Quản lý kinh tế
Mã số

: 62 34 01 01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học:

1. PGS. TS NGUYỄN THỊ HƢỜNG
2. TS. LÊ VĂN CHIẾN

của luận án
Chƣơng 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN
NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƢỢNG CAO

2.1. Nhận thức chung nguồn nhân lực chất lượng cao
2.2. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
2.3. Kinh nghiệm quốc tế và bài học rút ra cho Thành phố Viêng
Chăn, nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào về phát triển
nguồn nhân lực chất lượng cao
Chƣơng 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT
LƢỢNG CAO Ở THÀNH PHỐ VIÊNG CHĂN, CỘNG HOÀ
DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO GIAI ĐOẠN 2005 ĐẾN NAY

3.1. Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội có ảnh hưởng đến phát
triển nguồn nhân lực chất lượng cao
3.2. Thực trạng nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao ở Thành phố Viêng Chăn giai đoạn 2005 đến nay
3.3. Đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở
Thành phố Viêng Chăn
Chƣơng 4: ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU PHÁT TRIỂN
NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƢỢNG CAO Ở THÀNH PHỐ
VIÊNG CHĂN, CỘNG HÕA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
ĐẾN NĂM 2020

4.1. Định hướng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Thành phố
Viêng Chăn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào đến năm 2020
4.2. Giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
ở Thành phố Viêng Chăn giai đoạn đến 2020
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN


AFTA

: Khu vực thương mại tự do Châu Á

ASEAN

: Hiệp hội Đông Nam Á

CHDCND

: Cộng hòa Dân chủ Nhân dân

CNH, HĐH

: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

CNKT

: Công nhân kỹ thuật

CMKT

: Chuyên môn kỹ thuật

EU

: Liên minh châu Âu

FDI


NDCM

: Nhân dân cách mạng

NNL, CLC

: Nguồn nhân lực chất lượng cao

ODA

: Hỗ trợ phát triển chính thức

UBND

: Ủy ban nhân dân

UNDP

: Chương trình phát triển quốc gia thống nhất

USD

: Đô-la Mỹ

UNESCO

: Tổ chức văn hóa khoa học giáo dục quốc gia thống nhất

WTO


85
87

Bảng 3.8: Kết quả điều tra về chính sách của Thành phố Viêng Chăn
đối với nguồn nhân lực chất lượng cao

104

Bảng 3.9: Số lượng đào tạo nghề trình độ chuyên môn kỹ thuật tại
Thủ đô Viêng Chăn năm 2005 - 2013

108


DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ TRONG LUẬN ÁN
Trang
Biểu đồ 3.1: So sánh cơ cấu lao động trong các ngành kinh tế ở Thủ
đô giữa giai đoạn 2006 - 2010 và 2010 - 2012

76

Biểu đồ 3.2: Nguồn nhân lực có chuyên môn kỹ thuật ở Thủ đô

86

Biểu đồ 3.3: Cơ cấu trình độ của cán bộ, giáo viên dạy nghề năm 2013

87


CHDCND Lào đã và đang từng bước hội nhập vào nền kinh tế thế giới,
tiếp cận với trình độ khoa học công nghệ cao nên đòi hỏi một lực lượng lao
động có trình độ cao để đáp ứng yêu cầu làm việc trong môi trường mới. Phát
triển nguồn nhân lực chất lượng cao, có trình độ chuyên môn và đặc biệt là có
khả năng thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của công nghệ sản xuất là
yếu tố then chốt thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của CHDCND Lào theo
hướng hiện đại và bền vững. Do vậy, đầu tư vào con người là cơ sở vững chắc
cho sự phát triển nhanh và bền vững trong bối cảnh hiện nay.


2
Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước Lào đã rất quan tâm đến việc
xây dựng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Văn kiện Đại hội Đại
biểu toàn quốc lần thứ VIII năm 2006 đã khẳng định: "Con người là yếu tố
quyết định cho sự phát triển và coi con người là đối tượng ưu tiên của sự
nghiệp phát triển. Việc phát triển đất nước có hiệu quả hay không, ít hay nhiều
luôn phụ thuộc vào yếu tố con người" [172, tr.56]. Song cho đến nay, đội ngũ
lao động chất lượng cao ở CHDCND Lào còn ít, chưa đáp ứng yêu cầu phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước. Vì vậy, phát triển đội ngũ nhân lực chất
lượng cao có đủ năng lực giải quyết các vấn đề phát triển của đất nước trong
bối cảnh hiện nay là một yêu cầu cấp bách.
Thành phố Viêng Chăn, nước CHDCND Lào có vị trí chiến lược rất
quan trọng, là trái tim của cả nước; đầu não chính trị, hành chính quốc gia,
trung tâm lớn nhất về văn hoá, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc
tế. Viêng Chăn là một trong những địa phương có tốc độ phát triển cao về
kinh tế, văn hoá, xã hội so với cả nước. Sự phát triển của thành phố phải trở
thành động lực lan toả và là đầu tàu lôi kéo sự phát triển của các địa phương
khác trong cả nước. Muốn vậy, yếu tố có ý nghĩa quyết định chính là nguồn
lực con người.
Nhận thức được vai trò quan trọng của nguồn nhân lực nói chung, nguồn

phương của các nước trong khu vực Châu Á. Từ đó, rút ra một số bài học kinh
nghiệm về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Thành phố Viêng Chăn,
CHDCND Lào.
- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
ở Viêng Chăn từ 2005 đến 2013.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao ở Thành phố Viêng Chăn, CHDCND Lào trong bối cảnh hiện nay và
tầm nhìn 2020.


4
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu của Luận án là phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao thành phố - cấp tỉnh.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Luận án tập trung nghiên cứu nguồn nhân lực chất lượng cao của
Thành phố Viêng Chăn giới hạn trong đội ngũ công chức của thành phố và
một số cơ sở đào tạo trên địa bàn thành phố.
- Về nội dung: Luận án nghiên cứu động thái của sự phát triển nguồn
nhân lực chất lượng cao và chính sách của thành phố nhằm thúc đẩy sự phát
triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
- Thời gian nghiên cứu của luận án từ 2005 - 2013 và định hướng
đến năm 2020.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu của luận án
- Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp với nghiên cứu đường lối, chủ
trương đổi mới của Đảng, Nhà nước Lào, cùng các phương pháp phân tích,
tổng hợp, thống kê, so sánh và tiếp cận hệ thống để nghiên cứu và giải quyết
các vấn đề đặt ra.

mình con người quyết định mức độ hiệu quả của khai thác và sử dụng các
nguồn lực khác. Đặc biệt trong thời đại ngày nay, cùng với sự phát triển nhanh
chóng của cách mạng khoa học và công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao
trở thành nhân tố đặc biệt quan trọng, tạo nên sức mạnh của mỗi quốc gia trong
quá trình phát triển.
Vai trò quan trọng của nguồn nhân lực nói chung, nguồn nhân lực chất
lượng cao nói riêng đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà
khoa học, các chuyên gia hoạch định chính sách trên thế giới và ở nước
CHDCND Lào. Trong chương này, Luận án sẽ tổng quan một số công trình
nghiên cứu có liên quan đến nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao.
1.1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU NGUỒN NHÂN LỰC VÀ PHÁT
TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

1.1.1. Những công trình nghiên cứu nguồn nhân lực và vai trò của
nguồn nhân lực đối với phát triển kinh tế - xã hội
Ngày nay hầu như tất cả các nghiên cứu về nguồn nhân lực đều thống
nhất với nhau ở một luận điểm là nguồn nhân lực ngày càng đóng vai trò
quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, vai trò quan trọng
này được thể hiện như thế nào, quan trọng đến đâu thì vẫn là vấn đề còn
tranh cãi. Đó chính là lý do khiến chủ đề vai trò của nguồn nhân lực trong
phát triển kinh tế - xã hội nhận được sự quan nghiên cứu của nhiều nhà khoa


7
học, nhiều tổ chức ở tất cả các quốc gia. Ngân hàng thế giới (World Bank)
đã tiến hành nhiều cuộc điều tra về nhân lực dưới nhiều góc độ tại rất nhiều
quốc gia trên thế giới. Trang web của World Bank có thể cung cấp cho
chúng ta rất nhiều tài liệu về nguồn nhân lực, trong đó có một số ấn phẩm
đáng chú ý như Meeting human resources needs (Đáp ứng các nhu cầu về

development report), cung cấp một cách đầy đủ và cập nhật chỉ số phát triển con
người của hầu hết các quốc gia trên thế giới được sắp xếp theo thứ tự từ cao xuống
thấp. Đặc biệt, UNDP đã đề ra 5 nhân tố của sự phát triển nguồn nhân lực, đó là
giáo dục và đào tạo, sức khoẻ và dinh dưỡng, môi trường, việc làm và sự giải
phóng con người; trong đó giáo dục và đào tạo là bộ phận cơ bản nhất, quan
trọng nhất để phát triển nguồn nhân lực. Một số tổ chức quốc tế quan trọng
khác, như WHO - tổ chức Y tế thế giới cũng có những nghiên cứu quan tâm tới
nguồn nhân lực từ khía cạnh sức khoẻ; ILO - Tổ chức Lao động quốc tế cũng
phát hành những những ấn phẩm về chủ đề nguồn nhân lực và vấn đề đào tạo
(Human development and training, ILO, Geneva, 2003, 2004)... [212].
Một số công trình đã nghiên cứu về vai trò của nguồn nhân lực trong
phát triển kinh tế - xã hội đã coi nguồn nhân lực như một loại hình vốn, nó
là một yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, góp phần vào sự tăng trưởng
của một nền kinh tế.
Vốn con người là một khái niệm xuất phát từ kinh tế học dùng để chỉ
học vấn, tay nghề, kỹ năng lao động của người lao động. Khái niệm này đã
được Adam Smiths chỉ ra từ rất sớm và được nhắc đến thường xuyên trong các
tài liệu kinh tế từ cuối thế kỷ 19. Sự ra đời của khái niệm vốn con người được
xem như sự khai sinh cho một tân lý thuyết về vốn, bởi trước đó, nói đến vốn
người ta chỉ nghĩ đến vốn tài chính. Tổng thống Hoa Kỳ Theodore W. Schutlz
đã trình bày quan điểm có hệ thống đầu tiên về vốn con người, ông cho rằng:
Sự thất bại trong sử dụng nguồn vốn con người rõ ràng với tư cách là
một loại hình vốn, một loại phương tiện sản xuất và một sản phẩm của đầu tư
được duy trì bởi khái niệm cổ điển về lao động chỉ với tư cách một dạng năng


9
lực mà với nó, theo định nghĩa này, tất cả người lao động đều được trả lương
ngang nhau [209, tr.15].
Tuyên bố của Schultz đã định hình những nét cơ bản cho lý thuyết về

đã lấy ví dụ minh chứng từ sự phát triển kinh tế mạnh mẽ của các nước khu
vực Đông Á. Tác phẩm The East Asian Miracle: economic growth and public
policy (Thần kỳ Đông Á: Phát triển kinh tế và chính sách công) của World
Bank (1993) [213], hay bài viết Inequality and growth reconsidered: lesson
from East Asia (Xem xét lại sự bất bình đẳng và tăng trưởng: những bài học
từ Đông Á) của 3 tác giả Nancy Birdsal, David Ross, và Richarch Sabot
(1995; 1996) [199], đều đi tới một kết luận rằng, một trong những nguyên
nhân quan trọng tạo nên thần kỳ Đông Á, khiến cho các nước này có giai
đoạn phát triển kinh tế với tốc độ gấp hai, gấp ba lần các nước phát triển ở Âu
- Mỹ chính là chính sách phát triển nguồn nhân lực với mức đầu tư và tích
luỹ vốn nhân lực cao ở các nước này. Bài viết Asia's four little dragons: a
comparison of the role of education in their development [214] (Bốn con
rồng nhỏ châu Á: một sự so sánh về vai trò của giáo dục trong phát triển)
của Paul Moris (1996; 2000) và Another look at East Asia Miracle (Một cái
nhìn khác về thần kỳ Đông Á) của Ranis G (1996) [215], đều đề cập tới
Đông Á dưới góc độ giáo dục và nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục
trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ quá trình xây dựng và
phát triển đất nước. Nhiều quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore…
đã trở thành những con rồng Châu Á ở những thập kỷ cuối thế kỷ 20 và tạo
ra sự tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao, phát triển bền vững trong những
năm đầu của thế kỷ XXI, cũng là nhờ chiến lược đúng đắn trong việc phát
triển nguồn nhân lực quốc gia.
Ở Việt Nam, vai trò quyết định của nguồn nhân lực đã và đang được
khẳng định trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Trong chiến lược


11
phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 (Văn kiện đại hội Đảng lần IX), Đảng
Cộng sản Việt Nam đã nêu rõ: giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn
nhân lực được coi là một trong những bước đột phá quan trọng.

nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam [56]. Công trình đã trình bày nội dung,
đặc điểm và tính tất yếu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam; phân
tích vai trò của nguồn lực con người - yếu tố quyết định sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá; từ đó, đề ra một số giải pháp cơ bản nhằm khai thác và phát
triển nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở
Việt Nam.
Trần Thọ Đạt, Đỗ Tuyết Nhung (2008), Tác động của vốn con người
đối với tăng trưởng kinh tế các tỉnh thành phố Việt Nam [31]. Công trình đã
phân tích các tác động của vốn con người đến quá trình tăng trưởng kinh tế
thông qua việc xem xét các nền kinh tế cấp tỉnh, thành phố của Việt Nam.
Mặc dù vốn con người bao gồm cả giáo dục, sức khoẻ cũng như nhiều khía
cạnh khác của vốn xã hội nhưng nghiên cứu này chỉ tập trung vào giáo dục
coi nó như là nhân tố cơ bản nhất của vốn con người. Tác phẩm cũng cho thấy
vốn con người là nhân tố quan trọng khi giải thích sự tăng trưởng kinh tế các
tỉnh, thành phố ở Việt Nam cũng như giải thích khoảng cách chênh lệch giữa
các vùng kinh tế ở Việt Nam. Tác giả cũng đưa ra những kiến nghị chính sách
nhằm thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế trong đó nhấn mạnh sự gia
tăng đầu tư vào giáo dục, đồng thời, chú ý tới tác động khác nhau của vốn con
người ở những vùng kinh tế khác nhau.
Cù Chí Lợi (chủ biên) (2009), Tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng
kinh tế tại Việt Nam [70]. Trong cuốn sách này, các tác giả trình bày các
nguồn lực tăng trưởng (bao gồm các nguồn vốn đầu tư, nhân lực và các nguồn
lực khác); Thực trạng tăng trưởng kinh tế; Đánh giá và luận giải tăng trưởng ở
Việt Nam (bao gồm các đánh giá chung và trình bày một số nguyên nhân về


13
tình trạng hiệu quả thấp của nền kinh tế; Tăng trưởng kinh tế và vấn đề chất
lượng sống (việc làm, thu nhập, đói nghèo, giáo dục, y tế, chỉ số phát triển
con người và một số vấn đề cần được cải thiện). Nghiên cứu cũng trình bày

nguyên nhân của cuộc khủng hoảng là do chưa chú ý đúng mức đến phát huy
nội lực trong phát triển, thiếu sự độc lập về trí tuệ và năng lực quản lý nguồn
nhân lực và thị trường lao động tại chính đất nước mình.
Tác giả Phạm Minh Hạc (1996), Phát triển giáo dục, phát triển con
người phục vụ phát triển kinh tế- xã hội [40], đã làm rõ vai trò quan trọng của
giáo dục - đào tạo trong việc phát triển con người trong sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá và xây dựng hệ thống giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng giáo dục Việt Nam để phục vụ hiệu quả việc phát triển con người.
Mai Quốc Chính (chủ biên) (1996), Nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [13], đã phân tích
vai trò của nguồn nhân lực và sự cần thiết phải nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực, từ đó đề xuất những giải pháp chính sách chủ yếu nhằm nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước.
Nguyễn Hữu Dũng (2003), Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở
Việt Nam [18]. Trong cuốn sách này, tác giả đã trình bày có tính hệ thống một
số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến phát triển, phân bố, sử dụng nguồn
lực con người trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam; đồng thời, đề xuất các chính sách và giải pháp nhằm phát
triển, phân bố hợp lý và sử dụng có hiệu quả nguồn lực con người trong quá
trình phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam.
Ngoài ra, còn một số luận văn Thạc sĩ nghiên cứu về nguồn nhân lực
phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội tại một số địa phương của Việt
Nam. Các nghiên cứu này, đã vận dụng lý luận về nguồn nhân lực vào phân


16
tích, đánh giá thực trạng nguồn nhân lực của các địa phương, từ đó đưa ra các
giải pháp phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội
của các địa phương này trong thời gian tới. Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu
này là Trương Tuấn Dũng (2009), Nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế tỉnh

dục đào tạo, vấn đề phát triển con người Lào trở thành người tốt, có lòng yêu
nước, yêu chế độ dân chủ nhân dân, yêu chủ nghĩa xã hội; chính sách và giải
pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; phải đầu tư nhiều hơn nữa
vào giáo dục - đào tạo để nâng cao chất lượng các bậc học; phải đảm bảo dịch
vụ y tế và bảo hiểm xã hội cho nhân dân các dân tộc Lào, đặc biệt là những
người nghèo và gia đình chính sách xã hội; về lao động và tạo công ăn việc
làm phải đầu tư nhiều hơn nữa xây dựng các trường trung học chuyên nghiệp
trên cả nước. Cuối cùng, đề tài đề xuất các giải pháp phát triển nguồn nhân
lực gồm: chiến lược và chính sách đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng và
phải dành ngân sách thoả đáng cho chiến lược này hơn nữa... để đẩy mạnh
phát triển nguồn nhân lực ở Lào đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước.
Xư Lao Xô Tu Ky (2007), Nguồn nhân lực cho công nghiệp hiện đại
hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Viênhoáhăn [130]. Trong công trình này, tác giả đã
trình bày khái niệm, những yêu cầu về nguồn nhân lực trong quá trình CNH,
HĐH; trình bày kinh nghiệm của Việt Nam về phát triển nguồn nhân lực phục
vụ sự nghiệp CNH, HĐH. Đồng thời, tác giả đã phân tích, đánh giá khá rõ nét
thực trạng nguồn nhân lực ở tỉnh Viêng Chăn, qua đó đề ra mục tiêu và các
giải pháp nâng cao hiệu quả chiến lược phát triển nguồn nhân lực của tỉnh đáp
ứng yêu cầu phát triển của địa phương và đất nước trong giai đoạn mới.
Nguyễn Hải Hữu (2011), Một số vấn đề về phát triển nguồn nhân lực ở
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào [175]. Ở đây, tác giả đã nhấn mạnh những
thay đổi cơ bản về nhận thức và tư duy đối với phát triển nguồn nhân lực
trong thời kỳ đổi mới (1986 - 2009). Đặc biệt, tác giả nhấn mạnh công cuộc


18
đổi mới ở CHDCND Lào đã đạt được những thành tựu to lớn, góp phần đưa
đất nước Lào đi nhanh hơn vào quá trình CNH, HĐH. Tuy nhiên, quá trình
này cũng gặp không ít khó khăn, thách thức, nhất là vấn đề phát triển nguồn
nhân lực. Lực lượng lao động qua đào tạo nghề còn thấp chưa đáp ứng được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status