1
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
LÊ VĂN NAM
Phát triển kinh tế - xã hội gắn với đảm bảo
quốc phòng, an ninh ở một số tỉnh
biên giới phía Bắc
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 62 31 01 01
Nghiên cứu sinh: LÊ VĂN NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS Võ Văn Đức
2014
2
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, nước ta bước vào thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế, trong bối cảnh thế giới đang
thay đổi rất nhanh, phức tạp, khó lường, như Nghị quyết Đại hội XI chỉ rõ:
“Trên thế giới: Hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, nhưng sẽ có
những diễn biến phức tạp mới, tiềm ẩn nhiều bất trắc khó lường. Những căng
thẳng, xung đột tôn giáo, sắc tộc, ly khai, chiến tranh cục bộ, bạo loạn chính
trị, can thiệp, lật đổ, khủng bố vẫn sẽ diễn ra gay gắt; các yếu tố đe doạ an
ninh phi truyền thống, tội phạm công nghệ cao trong các lĩnh vực tài chính tiền tệ, điện tử - viễn thông, sinh học, môi trường… còn tiếp tục gia tăng. Cục
diện thế giới đa cực ngày càng rõ hơn, xu thế dân chủ hoá trong quan hệ quốc
tế tiếp tục phát triển nhưng các nước lớn vẫn sẽ chi phối các quan hệ quốc tế”
[35, tr.182-183]. Vì thế, Việt Nam đang đứng trước nhiều thời cơ và vận hội
nhận được sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước bằng việc đề ra nhiều chủ
trương, chính sách nhằm phát triển toàn diện kinh tế - xã hội; quốc phòng, an
ninh… đã đạt được nhiều kết quả. Tuy nhiên, trên thực tế, các tỉnh biên giới phía
Bắc có điều kiện địa lý khó khăn, kết cấu hạ tầng thiếu và không đồng bộ, điểm
xuất phát thấp, đặc biệt là phát triển kinh tế… thực trạng đó đã tác động tới mất ổn
định về kinh tế - xã hội; quốc phòng và an ninh không được đảm bảo. Vì vậy, phát
triển kinh tế - xã hội gắn với đảm bảo quốc phòng, an ninh ở một số tỉnh biên giới
phía Bắc vừa là yêu cầu cơ bản, lâu dài của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
nói chung, vừa là đòi hỏi cấp thiết cho nhiệm vụ đảm bảo quốc phòng, an ninh, bảo
vệ Tổ quốc nói riêng. Với lý do đó, tác giả lựa chọn đề tài: “Phát triển kinh tế - xã
hội gắn với đảm bảo quốc phòng, an ninh ở một số tỉnh biên giới phía Bắc” làm
luận án tiến sỹ.
4
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục tiêu:
Trên cơ sở làm rõ lý luận về phát triển kinh tế - xã hội gắn với đảm bảo
quốc phòng, an ninh và phân tích, đánh giá thực trạng ở một số tỉnh biên giới
phía Bắc Việt Nam, luận án đề xuất những quan điểm cơ bản và những giải
pháp chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội gắn với đảm bảo quốc phòng, an ninh
ở một số địa phương.
- Nhiệm vụ: Để đạt được mục tiêu trên, luận án có các nhiệm vụ sau:
+ Tổng quan tình hình nghiên cứu về phát triển kinh tế - xã hội gắn với
đảm bảo quốc phòng, an ninh; chỉ ra những nội dung đã được đề cập nghiên
cứu, cũng như những vấn đề chưa được đề cập, nghiên cứu.
+ Hệ thống hoá và làm rõ khuôn khổ lý thuyết của việc phát triển kinh tế - xã
hội gắn với đảm bảo quốc phòng, an ninh trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam.
+ Phân tích và đánh giá đúng việc thực hiện phát triển kinh tế - xã hội
gắn với đảm bảo quốc phòng, an ninh ở một số tỉnh biên giới phía Bắc, chỉ rõ
các đối tượng có liên quan thuộc nhóm các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển
kinh tế - xã hội gắn với đảm bảo quốc phòng, an ninh.
Đảm bảo quốc phòng, an ninh theo nghĩa hẹp là đảm bảo nhu cầu vật chất kỹ thuật, tài chính và nhân lực (xét ở mặt kỹ thuật, thuộc phạm vi chuyên ngành
Kinh tế quân sự - Hậu cần quân sự); theo nghĩa rộng, đảm bảo quốc phòng, an ninh
là chủ quyền quốc gia không bị xâm phạm, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
được đảm bảo (môi trường hoà bình, ổn định được đảm bảo), theo đó luận án
nghiên cứu đảm bảo quốc phòng, an ninh theo nghĩa rộng.
- Về không gian: luận án nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội gắn với
đảm bảo quốc phòng, an ninh ở một số tỉnh biên giới phía Bắc, trong đó tập
trung vào 3 tỉnh: Quảng Ninh, Lạng Sơn và Cao Bằng.
6
- Về thời gian: luận án nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội gắn với
đảm bảo quốc phòng, an ninh ở một số tỉnh biên giới phía Bắc, tập trung vào
3 tỉnh: Quảng Ninh, Lạng Sơn và Cao Bằng từ năm 2001 đến 2013.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phƣơng pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận, thực tiễn
Luận án được nghiên cứu dựa trên những quan điểm cơ bản của chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kinh tế quân sự, học thuyết bảo vệ
Tổ quốc và các văn kiện của Đảng, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam về phát triển kinh tế - xã hội gắn với đảm bảo quốc phòng, an ninh;
những chủ trương, phương hướng phát triển kinh tế - xã hội gắn với đảm bảo
quốc phòng, an ninh vùng biên giới phía Bắc; các chỉ thị, nghị quyết của Bộ
Quốc phòng; các báo cáo tổng kết, số liệu thống kê của các cơ quan, sở, ban,
ngành ở một số tỉnh biên giới phía Bắc; các công trình liên quan đến đề tài đã
được công bố; kết quả điều tra khảo sát nghiên cứu thực tế có liên quan đến
đề tài là cơ sở lý luận, thực tiễn của luận án.
- Phương pháp nghiên cứu
Luận án nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của kinh tế chính
Chương 3, Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội gắn với đảm bảo quốc
phòng, an ninh ở một số tỉnh biên giới phía Bắc. Phương pháp nghiên cứu
trong chương này kết hợp sử dụng các phương pháp: phân tích và tổng hợp,
thống kê so sánh, chuyên gia; sau đó sử dụng phương pháp phân tích và
phương pháp trừu tượng hoá khoa học. Trên cơ sở đó hoàn thành chương 4:
quan điểm và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội gắn với đảm bảo quốc
phòng, an ninh ở một số tỉnh biên giới phía Bắc trong thời kỳ mới.
Trong suốt quá trình viết luận án, nhất là sự chuyển tiếp, kế thừa nội
dung các chương và nội dung toàn luận án cần phải chú ý vận dụng tốt
phương pháp logic và lịch sử.
8
6. Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận án
- Hệ thống hoá và làm rõ hơn một bước cơ sở khoa học về phát triển
kinh tế - xã hội gắn với đảm bảo quốc phòng, an ninh.
- Phân tích, đánh giá thực trạng và nhận diện những vấn đề đang đặt ra
đối với phát triển kinh tế - xã hội gắn với đảm bảo quốc phòng, an ninh ở một
số tỉnh biên giới phía Bắc, đặc biệt là trong tình hình phức tạp hiện nay.
- Đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm phát triển kinh tế - xã hội gắn với
đảm bảo quốc phòng, an ninh ở một số tỉnh biên giới phía Bắc thời gian tới.
7. Kết cấu của luận án
Luận án gồm: phần mở đầu; 4 chương, 12 tiết; kết luận; danh mục các
công trình nghiên cứu của tác giả đã công bố liên quan đến đề tài luận án;
danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.
9
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
giặc rồi thì lo xây dựng đất nước, lúc nào cũng phải sẵn sàng đối phó với mọi kẻ
thù, nhiệm vụ đánh giặc giữ nước gắn với nhiệm vụ xây dựng đất nước. Thực chất,
đây là sự nhận thức về tính tất yếu của việc kết hợp KT với QP trên cơ sở nhận thức
mối quan hệ chặt chẽ giữa KT với chiến tranh, KT với QP: “Thực túc, bình cường”,
“Phú quốc, binh cường”; đất nước giàu mạnh là cơ sở vật chất tạo ra sức mạnh QP
đủ sức ngăn ngừa, đẩy lùi, làm thất bại các âm mưu, kế hoạch xâm lược của kẻ thù;
QP mạnh tạo ra môi trường hoà bình cho xây dựng, phát triển đất nước. Kế sách
“Dựng nước đi đôi với giữ nước” của ông cha ta trong thời kỳ phong kiến được
biểu hiện tập trung ở những nội dung sau:
Một là, nhiều triều đại phong kiến Việt Nam đã đề ra nhiều kế sách giữ
nước sáng tạo, linh hoạt; thể hiện sự gắn kết chặt chẽ KT với QP, tiêu biểu là
kế sách “Ngụ binh ư nông” dưới các triều đại phong kiến Lý, Trần và Lê Sơ;
“Lấy dân làm gốc”, dân giàu nước mạnh, quốc phú binh cường... “Ngụ binh ư
nông” là gửi một bộ phận quân vào nông dân, nông thôn, kết hợp quân với
dân cùng xây dựng quân đội, chỉ duy trì một số lượng quân thường trực hợp
lý. Kế sách “Ngụ binh ư nông” là sản phẩm của nhận thức coi trọng việc binh
với vai trò quan trọng của nông nghiệp nhằm bảo đảm sự cân đối, hợp lý giữa
phát triển KT và củng cố QP, giữa xây dựng LLVT thường trực với LLVT dự
bị. Khi Bàn về kế sách “Ngụ binh ư nông”, nhà sử học Ngô Thì Sĩ đánh giá:
“Chế độ binh lính của nhà Lý… mỗi tháng lên cơ ngũ một lần, gọi là đi canh,
hết canh lại về quê làm ruộng, quân không phải cấp lương… không có phí tổn
nuôi lính, mà có công hiệu dùng sức lính, cũng là chế độ hay” [63, tr.27]. Nhà
sử học Phan Huy Chú cũng đưa ra lời bình: “Đời xưa binh lấy nghề nông là
có ý phục việc nguy hiểm vào nơi thuận tiện… Trong thành vua có quân Túc
vệ, đội ngũ đông nghiêm. Còn quân ở ngoài thì vẫn theo ý nghĩa đời xưa, lúc
vô sự thì về làm ruộng, khi có động thì chiếu sổ gọi ra hết. Cho nên binh vẫn
đủ mà không phải tiêu phí nhiều, càng thêm hăng hái chống thù. Cái chiến
11
12
lưỡng dụng, tiêu biểu là các ngành thủ công nghiệp trong nước, nhất là các
ngành nghề có liên quan đến QP để vừa đáp ứng nhu cầu dân sinh, vừa đảm
bảo nhu cầu QP của đất nước.
Trên thực tế, từ thế kỷ XI, ở nước ta (Đại Việt) đã hình thành và phát triển
các xưởng thủ công của triều đình vừa sản xuất các sản phẩm mang tính chất KT
như sản xuất các sản phẩm dân sinh dùng trong hoàng gia, cung đình, vừa sản
xuất sản phẩm trực tiếp đảm bảo cho các nhu cầu QS như: đảm bảo nhu cầu xây
dựng LLVT, quân đội, thuyền chiến, vũ khí… Thời Lý đã sản xuất được thuyền
lớn đảm bảo cho thuỷ quân tác chiến trên sông lớn và biển gần; vũ khí hạng nặng
như máy bắn đá… Thời Trần đã sản xuất được “Thần cơ song pháo” là một loại
hoả pháo có uy lực mạnh. Thời Lê đã sản xuất ra các loại thuyền chiến, vũ khí rất
phong phú và có tác dụng chiến đấu rất cao… Các lò thủ công gia đình cũng được
quan tâm phát triển, thời bình tập trung sản xuất các sản phẩm dân sinh đáp ứng
nhu cầu sinh hoạt của nhân dân địa phương; thời chiến sẵn sàng chuyển sang sản
xuất các sản phẩm đảm bảo nhu cầu QS như: khai mỏ, đúc đồng, rèn sắt, đóng
thuyền, sản xuất vũ khí… Đây là các cơ sở sản xuất cung cấp chủ yếu các loại vũ
khí cho các lực lượng dân binh, thổ binh và còn đảm bảo cung ứng, sửa chữa vũ
khí cho cả quân triều đình khi chiến tranh xảy ra. Những nội dung trên cho thấy,
các triều đại phong kiến nước ta đã quan tâm phát triển nhiều ngành KT có tính
lưỡng dụng, vừa đáp ứng nhu cầu dân sinh, vừa đáp ứng nhu cầu tăng cường khả
năng đảm bảo QP, AN của đất nước.
1.1.2. Phát triển kinh tế - xã hội gắn với đảm bảo quốc phòng, an
ninh từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo
1.1.2.1. Trong thời kỳ Cách mạng Tháng Tám và kháng chiến chống
thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược
Ngay từ khi thành lập và trong suốt quá trình lãnh đạo cách cách mạng
Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác -
14
quốc, và lập nền kinh tế tự túc”; “Thực hành việc bộ đội tăng gia sản xuất”
[26, tr.180-181, 185]. Hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ III (15/6/1947), tiếp
tục khẳng định vị trí, tầm quan trọng của nhiệm vụ tăng gia sản xuất của quân
đội: “Các chính trị viên cần làm cho bộ đội hiểu rằng tăng gia sản xuất là một
nhiệm vụ quan trọng” [25, tr.172]; mặc dù trong thời kỳ này, thực hiện chức
năng, nhiệm vụ chiến đấu là chủ yếu, nhưng quân đội đã quán triệt và nhận
thức sâu sắc nhiệm vụ sản xuất. Tiếp tục chủ trương vừa kháng chiến vừa kiến
quốc, Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá II (tháng 3 năm
1951) xác định: Muốn kháng chiến trường kỳ, phải luôn luôn bồi dưỡng lực lượng
KT, tài chính, phải coi nhiệm vụ KT, tài chính là một nhiệm vụ rất quan trọng. Đây
chính là những phát triển mới trong nhận thức phù hợp với thực tiễn của Đảng ta về
mối quan hệ giữa KT với chiến tranh và QP; đồng thời, thể hiện sự nhất quán trong
thực hiện chủ trương kết hợp KT với QP ở nước ta trong giai đoạn này.
Kể từ khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược thắng lợi,
nhân dân ta thực hiện công cuộc khôi phục KT đất nước sau gần 2 năm, Ban
Chấp hành Trung ương Đảng khoá II đã họp Hội nghị lần thứ 12 (mở rộng),
ra Nghị quyết về kế hoạch nhà nước năm 1957. Nghị quyết xác định: “Trong
khi thực hiện nhiệm vụ kinh tế, các ngành công tác còn phải kết hợp chặt chẽ
với nhiệm vụ củng cố các khu vực tự trị, nhiệm vụ củng cố quốc phòng,
nhiệm vụ đấu tranh chính trị để thực hiện thống nhất nước nhà” [27, tr.262].
Qua đó cho thấy, Đảng, Nhà nước có nhận thức đúng đắn về nhiệm vụ khôi
phục, phát triển KT gắn với đảm bảo QP trong thời kỳ mới.
Trong thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, có thể thấy rằng,
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9/1960), thể hiện sự nhận thức
hoàn chỉnh của Đảng về đường lối, chủ trương kết hợp KT với QP xuyên suốt thời
kỳ này. Nghị quyết Đại hội xác định, cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện tại
có hai nhiệm vụ chiến lược: “Một là, tiến hành cách mạng XHCN ở Miền Bắc.
16
Tuy nhiên, khi mọi việc mới bắt đầu được vạch ra với mục tiêu phục vụ
nền KT đất nước sau chiến tranh, thì chúng ta phải đương đầu với những khó
khăn, phức tạp mới; trong đó nổi lên là hai cuộc chiến tranh xâm lược biên
giới Tây Nam và biên giới phía Bắc của các thế lực thù địch. Trước tình hình
đó, Đại hội V của Đảng tiếp tục có nhận thức sâu sắc về kết hợp KT với QP:
“Kết hợp chặt chẽ KT với QP, QP với KT, từng bước phát triển kinh tế quốc
phòng đi đôi với tăng cường tiềm lực KT của đất nước”.
Những năm đầu của thập kỷ 80, thế kỷ XX, đất nước vừa có hoà bình,
vừa xảy ra chiến tranh, nhiệm vụ đẩy mạnh sản xuất, ổn định và bảo đảm đời
sống của nhân dân trở nên cấp bách. Để phát huy vai trò của quân đội, Bộ
Chính trị đã ra Nghị quyết bổ sung về nhiệm vụ quân đội làm KT trong 5 năm
(1981 - 1985). Theo đó, quân đội tập trung vào thực hiện một số nhiệm vụ cụ
thể trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, công nghiệp, xây
dựng cơ bản, hàng không dân dụng, hợp tác KT với Lào, Campuchia... đảm
bảo kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ QS với nhiệm vụ xây dựng KT; ưu tiên lựa
chọn các công việc có tính cấp bách, các công trình có giá trị KT lớn và có
quan hệ chặt chẽ giữa KT với QP, tính toán kỹ và quản lý chặt chẽ, từng bước
nâng cao hiệu quả KT, chống tham ô, lãng phí. Mặc dù từ đầu thập kỷ 80 đến
cuối năm 1986, tình hình KT - XH Việt Nam gặp nhiều khó khăn, tình trạng
lạm phát gia tăng, Đảng, Nhà nước vẫn kiên trì đường lối xây dựng KT kết
hợp với củng cố QP, phát huy tốt nhất những kết quả xây dựng KT đảm bảo
cho QP. Theo đó, việc kết hợp KT với QP trong các hoạt động của quân đội
tiếp tục được duy trì, có những bước phát triển mới.
1.1.2.3. Thời kỳ đổi mới, tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
và hội nhập quốc tế
Kế thừa và phát triển chủ trương chiến lược kết hợp KT với QP trong thời kỳ
mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã chỉ ra phương hướng cơ
18
xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp quân đội”. Nghị
quyết số 21, 37, 39, 53 của Bộ Chính trị (Khoá IX) về phát triển KT - XH và
đảm bảo QP, AN của 4 vùng (đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam bộ và
vùng KT trọng điểm phía Nam, Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung, trung
du và miền núi phía Bắc) và Nghị quyết 54 - NQ/TW ngày 14/9/2005 về phát
triển KT - XH và đảm bảo QP, AN vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2010
và định hướng đến năm 2020. Những định hướng cơ bản đó đảm bảo về chính
trị và cơ sở khoa học cho giải quyết quan hệ phát triển KT gắn với QP - AN
trong từng khu vực.
Thực tiễn nêu trên đã được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng
tiếp tục chỉ rõ: “Tiếp tục phát triển các khu KT - QP, xây dựng các khu QP - KT
với mục tiêu tăng cường QP, AN là chủ yếu, tập trung vào các địa bàn chiến lược
và những khu vực nhạy cảm trên biên giới đất liền, biển đảo” [43, tr.110]. Đại
hội cũng chỉ ra: “Xây dựng CNQP trong hệ thống công nghiệp quốc gia dưới sự
chỉ đạo, quản lý điều hành trực tiếp của Chính phủ, đầu tư có chọn lọc theo
hướng hiện đại, vừa phục vụ QP vừa phục vụ dân sinh” [34, tr.110].
Kết hợp KT với QP, AN vừa là chủ trương, đường lối, quan điểm, vừa là
giải pháp để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Qua mỗi thời kỳ, nhận thức và tổ chức
thực hiện nội dung kết hợp đó đều được bổ sung, phát triển phù hợp với yêu cầu
mới. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã chỉ ra những
vấn đề cơ bản cần nắm vững về kết hợp KT với QP, AN trong thời kỳ hội nhập
quốc tế. Đây là chủ trương chiến lược hết sức quan trọng, được thể hiện nhất quán
và xuyên suốt trong các văn kiện Đại hội XI của Đảng. Cương lĩnh xây dựng đất
nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) xác định:
“Kết hợp chặt chẽ KT với QP - AN, QP - AN với KT trong từng chiến lược, quy
hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển KT - XH và trên từng địa bàn” [35, tr.82].
Tiếp đó, chiến lược phát triển KT - XH 10 năm (2011 - 2020) chỉ rõ: “Gắn kết QP
20
quan về QP và phát triển KT mà tăng trưởng KT được đưa ra xem xét là yêu
cầu cần thiết. Nghiên cứu này về cơ bản sẽ mở ra những nghiên cứu nghiêm
túc cả về lý thuyết và thực nghiệm; trong bối cảnh này, kết luận rằng những lý
do chính cho những sai sót về tri thức chủ yếu là do thiếu những nghiên cứu
tổng quan toàn diện về QP và nền KT, hoặc phát triển KT sẽ cung cấp cơ sở
cho những nghiên cứu chuyên sâu mà có thể lấp khoảng trống trong kiến thức
về QP và phát triển KT.
Wolfgang-Peter Zingel với tác phẩm: “An ninh quốc gia và phát triển kinh
tế: phát triển an ninh - an ninh đang phát triển” [89] đã đi từ quan niệm phát
triển KT, các chỉ báo, chiến lược, sự hỗ trợ, tái cấu trúc và thay đổi; quan niệm
AN, những mối đe doạ, sự thống nhất và toàn vẹn quốc gia, sự can thiệp, AN và
lý thuyết KT, những rủi ro và sự thất bại của nhà nước trên các lĩnh vực như:
hàng hoá, dịch vụ, hạ tầng cơ sở, nhà ở, tài chính, tiền tệ, lao động, giáo dục, y tế
và các dịch vụ XH. Công trình nghiên cứu đã đưa ra các trường hợp can thiệp
của một số nước Nam và Đông Nam Á, chỉ ra những ảnh hưởng KT và XH của
sự can thiệp. Những ảnh hưởng KT của một sự can thiệp phụ thuộc vào: thứ
nhất, hoàn cảnh tại thời điểm can thiệp; thứ hai, loại can thiệp; thứ ba, bối cảnh
đi cùng với sự can thiệp và thứ tư, có thể được coi là quan trọng nhất, sự chấp
nhận can thiệp của nhân dân sở tại.
Trong công trình nghiên cứu của Adam Posen và Daniel K. Tarullo: “Báo
cáo của nhóm nghiên cứu về kinh tế và an ninh quốc gia” [80], các tác giả đã đi
vào làm sáng tỏ đâu là những đúng đắn và sai lầm trong tư duy hiện nay về KT
và AN quốc gia. Trong trường hợp nước Mỹ, toàn cầu hoá KT đã làm tăng cả
năng lực lẫn nguy cơ bị tổn thương của nước Mỹ. Khả năng của Mỹ hạn chế sự
dịch chuyển công nghệ và thương mại sang các nước khác bị suy giảm so với
vác thập kỷ trước; trong dài hạn sự hợp nhất và phát triển KT quốc tế sẽ nâng
cao AN quốc gia Mỹ. Một vài quan điểm sai lầm cho rằng AN KT và quốc gia
22
chắc chắn sẽ thúc đẩy các biện pháp kiểm soát việc sản sinh các loại vũ khí và sự
bất ổn của xung đột, từ đó đóng góp cho phúc lợi và tương lại của nhân loại.
Trong cuốn “Sách tra cứu về kinh tế quốc phòng” của Sandler Todd và
Hartley Keith [88], các ông đã đi sâu vào ba vấn đề lớn: thứ nhất, chi tiêu
quân sự trên thế giới nhằm giải quyết các vấn đề xung đột, khủng bố, liên
minh quân sự và chạy đua vũ trang, thứ hai, phân tích chi tiêu QP và tăng
trưởng KT; khảo sát chi tiêu quân sự ở các nước đang phát triển, đi sâu phân
tích các mặt cụ thể của KTQP như: các mô hình khuyến khích quá trình cung
ứng QP, các vấn đề KT của nguồn nhân lực quân sự, cơ sở công nghiệp QP,
KTQP dưới giác độ nghiên cứu và phát triển, chính sách công nghiệp trong
lĩnh vực QP, tác động đến khu vực của chi tiêu QP; thứ ba, nhìn nhận QP và
KTQP trong bối cảnh toàn cầu hoá, từ đó đi vào các nội dung cụ thể như tổng
quan vấn đề KT của xung đột, vấn đề KT chính trị của gìn giữ hoà bình, chủ
nghĩa khủng bố tiếp cận từ lý thuyết trò chơi và phân tích thực chứng; KT
chính trị của các biện pháp trừng phạt KT; các vấn đề KT của chạy đua vũ
trang; thương mại, công nghiệp QP và một khảo sát về nền KT hoà bình.
Intriligator trong bài viết, “Về bản chất và phạm vi của kinh tế quốc
phòng” [83] cho rằng: KTQP được xem xét như là một bộ phận của nền KT
gắn liền với những vấn đề liên quan đến QP, bao gồm mức độ chi tiêu QP, cả
trong tổng thể và trong bộ phần của toàn bộ nền KT; tác động của chi tiêu QP
tới sản phẩm và lao động ở cả trong nước và tác động tới các nước khác trên
trường quốc tế; các lý do cho sự tồn tại và quy mô của lĩnh vực QP; quan hệ
của chi tiêu QP tới sự thay đổi công nghệ, các hạng mục chi tiêu QP và quan
hệ giữa lĩnh vực QP với sự ổn định hoặc bất ổn định quốc tế.
Reppy Judith trong bài viết: “Về bản chất và phạm vi của kinh tế quốc
phòng: một bình luận” [85] đã xác định bản chất và phạm vi của KTQP trên cơ sở
hợp nhất quan niệm của Intriligator nhưng tập trung vào các đặc điểm về mặt thể
24
Trần Thái Bình trong bài “Quan hệ giữa kinh tế và QP - AN trong sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc” [8] đã xác định: Quan hệ giữa KT và QP,
AN là mối quan hệ cơ bản, được hình thành từ trong quá trình dựng nước và
giữ nước của dân tộc. Ngày nay, mối quan hệ này có vị trí đặc biệt quan trọng,
nhất là trong bối cảnh nước ta đang xây dựng, phát triển nền KT thị trường
định hướng XHCN và mở cửa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng. Vì vậy,
giải quyết tốt mối quan hệ giữa KT và QP, AN là đòi hỏi tất yếu khách quan
trong suốt quá trình thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc. Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước, nhân dân ta hết sức coi trọng
việc thực hiện tốt mối quan hệ này và đã thu được những kết quả quan trọng,
tương đối toàn diện, cả về nhận thức, tổ chức thực hiện. Bên cạnh kết quả đã
đạt được, nhận thức và thực tiễn giải quyết mối quan hệ giữa KT với QP, AN
còn hạn chế ở một số vấn đề. Để nâng cao chất lượng mối quan hệ giữa KT
với QP, AN đáp ứng yêu cầu hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc cần tập trung vào những vấn đề chủ yếu đó là: nâng cao nhận thức cho
cán bộ các cấp, các ngành về mối quan hệ giữa KT với QP, AN; nâng cao hiệu
quả vận hành cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng, quản lý của Nhà nước trong giải quyết mối quan hệ giữa KT với QP,
AN; xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách có liên quan đến
mối quan hệ giữa KT với QP, AN; coi trọng kết hợp phát triển KT với củng cố
QP, AN trong hoạt động KT đối ngoại. Tuy nhiên, bài viết chưa có điều kiện
đi vào nghiên cứu mối quan hệ giữa KT với QP, AN; các lĩnh vực đặc thù hay
ở từng khu vực cụ thể.
Tác giả Trần Trung Tín, luận án tiến sĩ kinh tế “kết hợp kinh tế với quốc
phòng ở nước ta hiện nay” [66] đã góp phần làm sáng tỏ thêm lý luận kết hợp
KT với QP trong thời kỳ mới ở Việt Nam; làm rõ mối quan hệ giữa phát triển
KT với củng cố QP, từ đó xác định quan điểm mang ý nghĩa chỉ đạo và đề ra