CÂU HỎI VÀ CƯƠNG PHẦN THUYẾT TRÌNH HỘI THI “Báo cáo viên, tuyên truyền viên giỏi tuyên truyền Chỉ thị số 05CTTW về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” - Pdf 49

1

CÂU HỎI VÀ ĐỀ CƯƠNG PHẦN THUYẾT TRÌNH
Hội thi “Báo cáo viên, tuyên truyền viên giỏi tuyên truyền
Chỉ thị số 05-CT/TW về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức,
phong cách Hồ Chí Minh”
Câu 1: Đồng chí hãy trình bày tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về
Nhân dân và đại đoàn kết dân tộc ?
Trả lời
* Về phạm trù Nhân dân
Đối với Hồ Chí Minh, Nhân dân là phạm trù cao quý nhất, một phạm trù
chính trị chủ đạo trong học thuyết cách mạng của Người. “Trong bầu trời không
gì quý bằng Nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết
của Nhân dân”. Đó là một minh chứng điển hình về niềm tin vào sức mạnh của
Nhân dân. Người khẳng định, dân khí mạnh thì binh lính nào, súng ống nào
cũng không địch nổi.
Người từng nói với cán bộ: “Nếu lãnh đạo khéo thì việc khó khăn mấy và
to lớn mấy, Nhân dân cũng làm được”. Đó là sự tổng kết thực tiễn cách mạng rất
sâu sắc: phải không ngừng học dân. “Nhân dân ta rất cần cù, thông minh và
khéo léo. Trong sản xuất và sinh hoạt, họ có rất nhiều kinh nghiệm quý báu”, do
vậy cán bộ ta “cần tham gia tổng kết những kinh nghiệm quý báu ấy”.
* Về không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho Nhân dân
Ngày 10-1-1946, tại cuộc họp đầu tiên của Ủy ban nghiên cứu kế hoạch
kiến quốc, Hồ Chí Minh đã nói: “Chúng ta đã hy sinh phấn đấu để giành độc
lập. Chúng ta đã tranh được rồi... Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà
dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ
giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”.
Là công bộc, là đày tớ của dân, thì Đảng, Chính phủ và mỗi cán bộ phải
chăm lo cho đời sống của Nhân dân, không ngừng nâng cao đời sống vật chất,
tinh thần cho Nhân dân. Người nêu rõ mục tiêu của Nhà nước là:
“1. Làm cho dân có ăn.

thiện”, dù nhỏ nhất ở mỗi con người để lôi kéo, tập hợp, quy tụ rộng rãi mọi lực
lượng. Người viết: “Trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác,
nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan
hồng đại độ. Ta phải nhận rằng đã là con Lạc, cháu Hồng thì ai cũng có ít hay
nhiều lòng ái quốc. Đối với những đồng bào lạc lối lầm đường, ta phải lấy tình
thân ái mà cảm hóa họ. Có như thế mới thành đại đoàn kết, có đại đoàn kết thì
tương lai chắc sẽ vẻ vang”. “Bất kỳ ai mà thật thà tán thành hòa bình, thống
nhất, độc lập, dân chủ thì dù những người đó trước đây chống chúng ta, bây giờ
chúng ta cũng thật thà đoàn kết với họ”.
Câu 2: Đồng chí hãy nêu tính tất yếu khách quan của công tác xây
dựng chỉnh đốn Đảng? Những nội dung công tác xây dựng Đảng theo tư
tưởng Hồ Chí Minh?
Trả lời
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Xây dựng Đảng là quy luật tồn tại và
phát triển của Đảng.
1- Tính tất yếu khách quan của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng
Xây dựng, chỉnh đốn Đảng luôn gắn với quá trình phát triển liên tục của
sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo. Trước diễn biến của điều kiện khách
quan, bản thân Đảng phải tự chỉnh đốn, tự đổi mới để vươn lên làm tròn trọng
trách trước giai cấp và dân tộc. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương
trước hết phải xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

2


3

Người chỉ rõ: Đảng sống trong xã hội, là một bộ phận hợp thành cơ cấu
của xã hội. Tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên ở các cấp, giữ các chức vụ
đều chịu ảnh hưởng, tác động của môi trường, các quan hệ xã hội, cả cái tốt và

đức, có tài. Hồ Chí Minh nhận thức rất rõ vị trí, vai trò của người cán bộ trong
sự nghiệp cách mạng.
Đặc biệt, Hồ Chí Minh phê bình mạnh mẽ việc cất nhắc, bổ nhiệm cán bộ
theo hướng cục bộ, địa phương, “Một người làm quan cả họ được nhờ”.
c) Xây dựng Đảng về đạo đức

3


4

Đảng là đạo đức, là văn minh, nhờ đó Đảng mới trong sạch, vững mạnh.
Trong 12 điều xây dựng Đảng chân chính cách mạng, Người nhấn mạnh, Đảng
là một tổ chức cách mạng chứ không phải tổ chức để “Làm quan phát tài”.
Xây dựng Đảng về đạo đức là cơ hội để mỗi cán bộ, đảng viên tự rèn
luyện, giáo dục và tu dưỡng tốt hơn, hoàn thành các nhiệm vụ mà Đảng và Nhân
dân giao phó, đặc biệt là giữ gìn phẩm chất đạo đức cách mạng. Cán bộ, đảng
viên không phải là thần thánh. Họ là con người, ai cũng có hai mặt tốt - xấu,
thiện - ác thường xuyên đấu tranh với nhau. Trong điều kiện môi trường tốt, nếu
cán bộ, đảng viên nỗ lực tu dưỡng, phấn đấu, rèn luyện thì mặt tốt, mặt thiện sẽ
nổi lên, đẩy lùi mặt ác, mặt xấu và ngược lại.
Hồ Chí Minh đưa ra tiêu chí của một người cán bộ tốt, đó là người cán bộ
đó phải vừa có đức, vừa có tài. Trong đó, đạo đức là gốc, Người viết: “Cũng
như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có
gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo
đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được Nhân dân”.
Câu 3: Đồng chí hãy trình bày những phẩm chất cơ bản của đạo đức
cách mạng theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh?
Trả lời
* Trung với nước, hiếu với dân

kể cả với những người lầm đường, lạc lối, mắc sai lầm, khuyết điểm. Yêu
thương con người là giúp cho mỗi người ngày càng tiến bộ, tốt đẹp hơn. Vì vậy,
phải thực hiện tự phê bình và phê bình, chân thành, giúp nhau sửa chữa khuyết
điểm, phát huy ưu điểm để không ngừng tiến bộ. Yêu thương con người phải
biết và dám dấn thân để đấu tranh giải phóng con người.
* Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư
Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là nền tảng của đời sống mới, là
phẩm chất trung tâm của đạo đức cách mạng trong tư tưởng đạo đức của Hồ Chí
Minh, là mối quan hệ “với tự mình”. Theo Hồ Chí Minh, cần, kiệm, liêm, chính
là bốn đức tính của con người, như trời có bốn mùa, đất có bốn phương. Chí
công vô tư là đặt lợi ích của Tổ quốc, của Nhân dân lên trên hết, trước hết. Phải
trọng lợi ích của cách mạng hơn tính mệnh của mình. Phải hy sinh lợi ích của
mình cho Đảng; việc của cá nhân và lợi ích của cá nhân để lại sau. Theo Bác, chí
công vô tư là đạo đức cao nhất.
Muốn chí công vô tư thì phải chiến thắng được chủ nghĩa cá nhân. Bởi
vậy, Hồ Chí Minh coi đây là chuẩn mực của ngưòi lãnh đạo, người “giữ cán cân
công lý”, không được vì lòng riêng mà chà đạp lên pháp luật.
Cần, kiệm, liêm, chính có quan hệ chặt chẽ với nhau và với chí công vô
tư. cần, kiệm, liêm, chính sẽ dẫn đến chí công vô tư. Ngược lại, đã chí công vô
tư, một lòng vì nước, vì dân, vì Đảng thì nhất định sẽ thực hiện được cần, kiệm,
liêm, chính.
* Tinh thần quốc tế trong sáng
Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế là sự mở rộng những
quan niệm đạo đức nhân đạo, nhân văn của Người ra phạm vi toàn nhân loại, vì
Người là “người Việt Nam nhất”, đồng thời là nhà văn hóa kiệt xuất Việt Nam
mang tầm vóc nhân loại, anh hùng giải phóng dân tộc, chiến sĩ lỗi lạc của phong
trào cộng sản quốc tế.
Quan niệm đạo đức về tình đoàn kết quốc tế trong sáng của Hồ Chí Minh
thể hiện trong các điểm sau: Đoàn kết với Nhân dân lao động các nước vì mục
tiêu chung đấu tranh giải phóng con người khỏi ách áp bức, bóc lột. Đoàn kết

đình đến nhà trường, tập thể và toàn xã hội. Người đã phát động cuộc thi đua “ba
xây, ba chống”, viết sách “Người tốt, việc tốt” để tuyên truyền, giáo dục về đạo
đức, lối sống.
* Phải tu dưỡng đạo đức suốt đời
Hồ Chí Minh khẳng định, đạo đức cách mạng phải qua đấu tranh, rèn
luyện bền bỉ mới thành. Tu dưỡng đạo đức, tự rèn luyện hằng ngày có vai trò rất
quan trọng. Người khẳng định, đã là người thì ai cũng có chỗ hay, chỗ dở, chỗ
xấu, chỗ tốt, ai cũng có thiện, có ác ở trong mình. Vấn đề là dám nhìn thẳng vào
con người mình, không tự lừa dối, huyễn hoặc; thấy rõ cái hay, cái tốt, cái thiện
để phát huy và thấy rõ cái dở, cái xấu, cái ác để khắc phục. Tu dưỡng đạo đức
phải được thực hiện trong mọi hoạt động thực tiễn, trong đời tư cũng như trong
sinh hoạt cộng đồng, trong mọi mối quan hệ của mình.
Câu 5: Nêu và phân tích quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh
về suy thoái tư tưởng chính trị?
Trả lời
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ những dấu hiệu suy thoái về tư tưởng chính
trị, trước hết là những biểu hiện phai nhạt lý tưởng cách mạng. Ngay từ tháng
10/1947, hai năm sau khi giành được chính quyền, Người đã yêu cầu cán bộ,
đảng viên sửa đổi lối làm việc, chỉ rõ phải đấu tranh với những hiện tượng thờ ơ
trước những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái: “Nghe những lời bình luận
không đúng, cũng làm thinh, không biện bác. Thậm chí nghe những lời phản
6


7

cách mạng cũng không báo cáo cho cấp trên biết. Ai nói sao, ai làm gì cũng
mặc kệ”.
Người phê phán những đảng viên dao động, thiếu lý tưởng cách mạng:
Người kiên quyết chống những nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng


Câu 6: Nêu và phân tích quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh
về suy thoái đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”?
Trả lời
Chủ tịch Hồ Chí Minh bàn khá nhiều về suy thoái đạo đức, lối sống,
7


8

Người thẳng thắn đấu tranh với mọi biểu hiện cá nhân chủ nghĩa, sống ích kỷ,
thực dụng, cơ hội, vụ lợi; chỉ lo thu vén cá nhân, không quan tâm đến lợi ích tập
thể; ganh ghét, đố kỵ, so bì, tị nạnh, không muốn người khác hơn mình. Người
gọi đó là các căn bệnh: "Óc hẹp hòi" - Ở trong Đảng thì không biết cất nhắc
những người tốt, sợ người ta hơn mình. Ở ngoài Đảng thì khinh người, cho ai
cũng không cách mạng, không khôn khéo bằng mình. Vì thế mà không biết liên
lạc hợp tác với những người có đạo đức tài năng ở ngoài Đảng. Vì thế mà người
ta uất ức và mình thành ra cô độc”; và “Bệnh tham lam - Những người mắc phải
bệnh này thì đặt lợi ích của mình lên trên lợi ích của Đảng, của dân tộc, do đó
mà chỉ “tự tư tự lợi”. Dùng của công làm việc tư. Dựa vào thế lực của Đảng để
theo đuổi mục đích riêng của mình. Sinh hoạt xa hoa, tiêu xài bừa bãi. Tiền bạc
đó ở đâu ra? Không xoay của Đảng thì xoay của đồng bào.
Người kiên quyết chống “Bệnh hẹp hòi
Người cũng đấu tranh với các biểu hiện che giấu khuyết điểm:
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng sớm chỉ ra các bệnh có các biểu hiện quan
liêu, xa rời quần chúng, không sâu sát cơ sở, thiếu kiểm tra, đôn đốc, không nắm
chắc tình hình:
- Óc quân phiệt quan liêu. Khi phụ trách ở một vùng nào thì như một ông
vua con ở đấy, tha hồ hách dịch, hoạnh họe.
- Làm việc lối bàn giấy. Thích làm việc bằng giấy tờ thật nhiều. Ngồi một

phong cách Chủ tịch Hồ Chí Minh?
Trả lời
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, phong cách dân chủ hay “cách làm việc
dân chủ” là phong cách hàng đầu mà người cán bộ cần phải có. Người chỉ rõ:
Đảng ta thực hiện “ Nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản
của các cơ quan nhà nước trong chế độ ta” và “chế độ ta là chế độ dân chủ, tư
tưởng phải được tự do”. Vì thế, người cán bộ, đảng viên phải tạo ra được không
khí dân chủ thực sự trong nội bộ bằng cách thành tâm lắng nghe và khơi gợi cho
cán bộ, đảng viên, quần chúng, cấp dưới nói hết quan điểm, ý kiến của mình.
Được như vậy thì cấp dưới và quần chúng mới hăng hái đề ra sáng kiến, “học
hỏi sáng kiến của quần chúng để lãnh đạo quần chúng”. Những sáng kiến đó
được coi trọng, được khen ngợi thì những người có sáng kiến càng thêm hăng
hái làm việc. Phong cách dân chủ của người cán bộ không chỉ khơi nguồn sáng
tạo, phát huy tinh thần cống hiến của cấp dưới và quần chúng nhân dân mà còn
làm cho tổ chức cơ quan, đoàn thể thêm gắn bó.
Người có phong cách dân chủ là thực hành tốt nguyên tắc “tập thể lãnh
đạo, cá nhân phụ trách”. Làm như vậy thì chắc chắn người cán bộ sẽ được nhân
dân yêu mến, cấp dưới nể trọng, sẵn sàng đóng góp sáng kiến.
Phong cách dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh là dân chủ có định
hướng, có lãnh đạo, dân chủ phải đi đến sự tập trung chứ không phải dân chủ
quá trớn, dân chủ vô tổ chức.Một trong những nguyên tắc cơ bản trong tổ chức
và sinh hoạt Đảng là “tập trung dân chủ”.
Phong cách dân chủ yêu cầu người cán bộ, đảng viên phải sâu sát quần
chúng, chú ý tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của quần chúng, quan tâm đến mọi
mặt đời sống nhân dân; tin yêu và tôn trọng con người, chú ý lắng nghe ý kiến
và giải quyết những kiến nghị chính đáng của quần chúng, sẵn sàng tiếp thu phê
bình của quần chúng và sửa chữa khuyết điểm của mình.
Gắn bó mật thiết với phong cách dân chủ là phong cách quần chúng.
Người yêu cầu cán bộ phải có phong cách làm việc quần chúng, xuất phát từ vấn
đề có tính nguyên tắc về vai trò của quần chúng nhân dân: “Dễ mười lần không

phải biết cách kiểm tra, giám sát công việc và cấp dưới một cách hiệu quả, qua
đó thấy được việc thi hành đường lối, nghị quyết của Đảng như thế nào và cần
điều chỉnh cái gì…Người nói: “tình hình khách quan thay đổi hàng giờ hàng
phút, một chủ trương của ta hôm nay đúng, hôm sau đã không hợp thời, nếu ta
không tỉnh táo kiểm điểm những tư tưởng hành vi của ta để bỏ đi những cái quá
thời, sai hỏng, nhất định ta sẽ không theo kịp tình thế”. Kiểm tra còn có tác dụng
phân loại, đánh giá cán bộ, vì “Có kiểm tra… mới biết rõ năng lực và khuyết
điểm của cán bộ, mới sửa chữa và giúp đỡ kịp thời”. Cán bộ lãnh đạo làm việc
khoa học, chặt chẽ thì cấp dưới không thể “qua mặt”.
Phong cách khoa học đòi hỏi người cán bộ sau mỗi công việc phải biết rút
ra kinh nghiệm cho lần sau và cho người khác.
Câu 9: Đồng chí hãy nêu và phân tích phong cách nêu gương theo tư
tưởng, đạo đức, phong cách Chủ tịch Hồ Chí Minh?
Trả lời
Theo Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên đều phải làm gương trong mọi
công việc, từ nhỏ đến lớn, thể hiện thường xuyên về mọi mặt; phải cần, kiệm,
liêm, chính, chí công vô tư, nói phải đi đôi với làm. Người yêu cầu tất cả cán bộ,
đảng viên đều phải nêu gương về đạo đức.
Về vai trò của nêu gương, Người nhắc nhở cán bộ, đảng viên: “Trước mặt
quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu
mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức: "Muốn hướng
dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước. Tự mình phải
chính trước mới giúp người khác chính. Mình không chính, mà muốn người
khác chính là vô lý".
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là
phẩm chất đạo đức cách mạng chủ yếu, là nhân cách của con người. Người viết:
“Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông.
Đất có bốn phương Đông, Tây, Nam, Bắc.
Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính.
Thiếu một mùa, thì không thành trời,

Trong các nội dung nêu gương, cán bộ, đảng viên phải luôn luôn nêu
gương về tinh thần phục vụ nhân dân. Vì vậy mà cán bộ, đảng viên phải xông
xáo, nhiệt tình, sâu sát nhân dân, gương mẫu và dám chịu trách nhiệm trước dân
cả về lời nói và việc làm.
Câu 10: Đồng chí hãy nêu và phân tích phong cách lãnh đạo dân chủ,
nhưng quyết đoán theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Chủ tịch Hồ Chí
Minh?
Trả lời
Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ lãnh đạo phải “gom góp mọi ý kiến
rời rạc, lẻ tẻ của quần chúng, rồi phân tích nó, nghiên cứu nó, sắp đặt nó thành
những ý kiến có hệ thống. Rồi đem nó tuyên truyền, giải thích cho quần chúng,
làm nó thành ý kiến của quần chúng, và làm cho quần chúng giữ vững và thực
hành ý kiến đó.Đồng thời nhân lúc quần chúng thực hành, ta xem xét lại, coi ý
kiến đó đúng hay không.Rồi lại tập trung ý kiến của quần chúng, phát triển
những ưu điểm, sửa chữa những khuyết điểm, tuyên truyền, giải thích, làm cho
quần chúng giữ vững và thực hành.
Cứ như thế mãi thì lần sau chắc đúng mực hơn, hoạt bát hơn, đầy đủ hơn
lần trước.
Đó là cách lãnh đạo cực kỳ tốt”.
12


13

Phong cách lãnh đạo dân chủ là phải dựa vào quần chúng; là cán bộ lãnh
đạo, nhất là người đứng đầu không được quan liêu, hách dịch, coi thường quần
chúng nhân dân. Phải biết đời sống thực của nhân dân như thế nào, khả năng
thực của nhân dân ra sao? Họ đang nghĩ và đang mong muốn những gì? Mỗi lời
nói, mỗi việc làm của người cán bộ phải phù hợp với quần chúng, phản ánh
đúng được khát vọng của quần chúng. Cán bộ phải biết được những băn khoăn

tập thể với tính quyết đoán, dám chịu trách nhiệm cá nhân trước tập thể, kịp thời
đưa ra những quyết định đúng. Trong những thời điểm quyết định, người lãnh
đạo, quản lý phải dám nghĩ, dám làm, dám quyết… điều đó liên quan trực tiếp
đến việc tận dụng được thời cơ.
13


14

Câu 11: Đồng chí hãy nêu và phân tích phong cách lãnh đạo sâu sát,
khéo dùng người, trọng dụng người tài theo tư tưởng, đạo đức, phong cách
Chủ tịch Hồ Chí Minh?
Trả lời
*Phong cách lãnh đạo sâu sát
Trong thực tiễn, Hồ Chí Minh là tấm gương sáng về phong cách lãnh đạo
sâu sát. Theo tài liệu thống kê của Bảo tàng Hồ Chí Minh, chỉ tính trong 10 năm
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc (1955-1965), không quản tuổi cao, công
việc bề bộn, Người đã thực hiện hơn 700 lượt đi thăm các địa phương, công
trường, xí nghiệp, hợp tác xã, đơn vị bộ đội…, từ miền núi đến hải đảo, để thăm
hỏi chiến sĩ và đồng bào, xem xét tình hình, kiểm tra công việc. Ngoài ra, hằng
ngày qua đọc báo, đọc thư của nhân dân gửi lên, thấy có những ý kiến hay, cần
tiếp thu, những việc gấp cần giải quyết, Người đều dùng bút đỏ đóng khung lại,
chuyển tới các cơ quan có trách nhiệm, yêu cầu nghiên cứu và giải quyết.
Lãnh đạo sâu sát sẽ nâng cao được tính khách quan, minh bạch, tăng
cường được công tác kiểm tra, giám sát, từ đó kiểm soát tốt hơn đối với việc
thực thi quyền lực, kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc sử dụng tài sản của Nhà
nước, của nhân dân, góp phần phòng chống tham nhũng có hiệu quả. Hồ Chí
Minh yêu cầu dựa vào quần chúng nhân dân để giám sát, kiểm tra, nhằm loại trừ
các hành vi trục lợi, ăn cắp, tham ô, đục khoét, biến của công thành của riêng…
Theo Người sau khi nghị quyết đã được ban hành, phải tổ chức tốt việc

Việc trọng dụng nhân tài là phải làm thường xuyên, liên tục như “người
làm vườn vun trồng những cây cối quý báu. Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ,
trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta". Chủ tịch Hồ Chí
Minh cho rằng, trọng dụng nhân tài phải biết tuỳ tài mà dùng người: “Tài to ta
dùng làm việc to, tài nhỏ ta cắt làm việc nhỏ, ai có năng lực về việc gì, ta đặt
ngay vào việc ấy. Biết dùng người như vậy, ta sẽ không lo gì thiếu cán bộ”. Bởi
vậy, ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được thành lập, trong lúc
còn bộn bề khó khăn, thù trong, giặc ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm
tìm người tài để xây dựng đất nước và Người chính là tấm gương sáng cho việc
tìm nhân tài và trọng dụng nhân tài.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, một quốc gia, một đất nước không biết
sử dụng nhân tài là một khuyết điểm to, làm lãng phí một vốn quý của Đảng và
Nhà nước trong xây dựng và kiến thiết.
Câu 12: Đồng chí hãy nêu và phân tích phong cách cách mạng, khoa
học, năng động, sáng tạo theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Chủ tịch Hồ
Chí Minh?
Trả lời
Một yêu cầu quan trọng trong phong cách của người đứng đầu, người lãnh
đạo là phải có sự thống nhất giữa tính đảng, tính nguyên tắc cao với tính năng
động, sáng tạo, sự nhạy cảm với cái mới. “Trung với Đảng”, “trung với nước,
hiếu với dân” là phẩm chất chính trị cơ bản, thể hiện trong mọi hoạt động của
người lãnh đạo, quản lý. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, điều chủ chốt trong
phong cách làm việc của cán bộ lãnh đạo là phải: “Ra sức làm việc cho Đảng,
giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng. Đặt
lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá
nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh
quên mình, gương mẫu trong mọi việc”.
Nhiệt tình cách mạng là yếu tố cơ bản trong phẩm chất của người cán bộ
đứng đầu, người lãnh đạo. Vì có nhiệt tình cách mạng, người cán bộ lãnh đạo
mới say mê, tận tuỵ với công việc để tìm ra những phương án sáng tạo nhằm

của Đảng một mặt phải xuất phát từ tình hình cụ thể,giải thích cho quần chúng
hiểu và thực hiện các chủ trương, chính sách đó như thế “lý luận mới không tách
rời thực tế”.
Trong mọi công tác, tùy theo hoàn cảnh cụ thể, người lãnh đạo có thể sử
dụng nhiều hình thức, biện pháp khác nhau để hoàn thành chức trách, nhiệm vụ
của mình.
Cùng với kiên định về nguyên tắc, những vấn đề chiến lược, thì sách lược
cách mạng, các hình thức, phương pháp, biện pháp, cách thức tiến hành phải
mềm dẻo, linh hoạt, phù hợp với thực tế để có thể đạt kết quả cao nhất.
Theo Hồ Chí Minh, mục tiêu đặt ra phải được cụ thể trong từng giai đoạn.
Tính bất biến, mục tiêu trong tất cả các giai đoạn của cách mạng là độc lập,
thống nhất cho Tổ quốc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân.

16




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status