Thiết kế trò chơi nhằm nâng cao chất lượng dạy – học luyện từ và câu lớp 3 - Pdf 49

Thiết kế trò chơi nhằm nâng cao chất lượng dạy – học Luyện từ và câu lớp 3

“ THIẾT KẾ TRÒ CHƠI NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC
LUYỆN TỪ VÀ CÂU LỚP 3 ”
I- Phần mở đầu:
1- Lí do chọn đề tài :
Trong chương trình giáo dục Tiểu học, môn Tiếng Việt nói chung, phân
môn Luyện từ và câu nói riêng có một vị trí rất quan trọng vì nó phù hợp với
thực tiễn cuộc sống và là công cụ cần thiết cho các môn học khác đồng thời giúp
học sinh nhận thức thế giới xung quanh một cách dễ dàng hơn. Xuất phát từ vị trí
và nhiệm vụ vô cùng quan trọng đó, vấn đề đặt ra cho người dạy là làm thế nào
để giờ dạy và học Luyện từ và câu có hiệu quả cao, học sinh phát huy tính tích
cực, chủ động sang tạo trong việc chiếm lĩnh kiến thức. Để đáp ứng được những
yêu cầu đó, người giáo viên phải có phương pháp dạy học như thế nào để truyền
đạt kiến thức và khả năng học bộ môn này cho học sinh, đặc biệt là học sinh Tiểu
học.
Dựa vào đặc điểm tâm sinh lí học sinh tiểu học là dễ nhớ nhưng mau quên,
sự tập trung chú ý trong giờ học chưa cao, trí nhớ chưa bền vững: thích học
nhưng chóng chán. Vì vậy người giáo viên phải làm thế nào để khắc sâu kiến
thức cho học sinh và tạo ra bầu không khí vui tươi, sẵn sàng học tập, chủ động
tích cực trong việc tiếp thu kiến thức.
Thực tế, có nhiều thầy cô giáo đã rất thành công từ các trò chơi tưởng chừng
rất đơn giản như các bài tập trong sách giáo khoa được thực hiện dưới hình thức
trò chơi đến các trò chơi giáo viên tự thiết kế hoặc do các chuyên gia, các tác giả
sách giáo khoa biên soạn. Song cũng có các thầy cô giáo không thành công khi
sử dụng phương pháp này. Có những tiết, giáo viên tiến hành 4; 5 trò chơi vận
động; học sinh liên tục vỗ tay reo hò cổ vũ, không còn thời gian để các em lắng
đọng đầu óc mà ngẫm nghĩ, nhận xét, suy luận và ghi nhớ. Lại có nhiều
1



2


Thiết kế trò chơi nhằm nâng cao chất lượng dạy – học Luyện từ và câu lớp 3

đổi mới phương pháp dạy học. Trò chơi học tập là một hình thức tích cực hỗ trợ
đắc lực cho việc đổi mới phương pháp dạy học. Ở Tiểu học hoạt động chơi
không còn là chủ đạo đối với học sinh. Song cùng với học, chơi là nhu cầu không
thể thiếu và nó giữ một vai trò quan trọng và có ý nghĩa đối với các em. Nếu ta tổ
chức cho học sinh vui chơi một cách hợp lí, khoa học thì mang lại hiệu quả giáo
dục cao. Chính vì vậy trò chơi được sử dụng trong các tiết dạy học có tác dụng
tích cực nhằm làm thay đổi hình thức học tập. Thông qua trò chơi không khí lớp
học trở nên thoải mái dễ chịu, việc tiếp thu kiến thức của học sinh tự nhiên, nhẹ
nhàng và hiệu quả hơn. Đặc biệt, trò chơi ô chữ sử dụng phù hợp khi dạy học mở
rộng vốn từ sẽ giúp các em hiểu từ, nhớ từ và sử dụng từ chính xác.
Xuất phát từ lý do trên tôi chọn: " Thiết kế trò chơi nhằm nâng cao chất
lượng dạy học Luyện từ và câu lớp 3" làm đề tài nghiên cứu với mong muốn các
giờ học hấp dẫn, đạt hiệu quả cao.
2. Mục đích nghiên cứu:
Theo tôi dạy học không chỉ truyền thụ những gì có trong sách giáo khoa
tới học sinh mà cần rèn cho học sinh những kiến thức, kĩ năng. Xuất phát từ
những nhận thức tích cực, độc lập sáng tạo tự tìm ra kiến thức đồng thời giáo dục
phong cách làm việc một cách khoa học, hiệu quả cho học sinh, tức là dạy cho
học sinh cách học. Người giáo viên cần phải bám sát chuẩn kiến thức kĩ năng và
chương trình giảm tải, đổi mới phương pháp và cách thức dạy học: Lấy học sinh
làm trung tâm để tìm ra tri thức – Giáo viên chỉ đóng vai trò chỉ đạo, hướng dẫn
để nâng cao hiệu quả trong dạy học. Mục đích chính của tôi là : Nghiên cứu nội
dung dạy học mở rộng vốn từ và luyện tập về từ trong chương trình Luyện từ và
câu lớp 3 để hiểu nội dung chương trình và sự sắp xếp nội dung về từ trong các
bài học. Nghiên cứu SGK, SGV và các tài liệu có liên quan phục vụ cho việc dạy

được hợp tác với bạn bè, đồng đội trong nhóm, trong tổ….thông qua đó, các em
sẽ dần được hoàn thiện những kĩ năng giao tiếp. Đó là kĩ năng được đặt ra hàng
đầu trong mục tiêu của môn Tiếng Việt bậc Tiểu học nói chung và của môn Tiếng
Việt ở lớp 3 nói riêng. Điều đó chứng tỏ: hoạt động vui chơi là hoạt động hỗ trợ
cho việc học. Là một giáo viên trực tiếp đứng lớp, tôi nhận thấy nếu kết hợp sử
dụng hình thức trò chơi trong học tập môn Tiếng Việt sẽ mang lại hiệu quả cao .
4


Thiết kế trò chơi nhằm nâng cao chất lượng dạy – học Luyện từ và câu lớp 3

Bởi vì : Nó là một hình thức hoạt động học tập, tạo ra bầu không khí trong lớp
học dễ chịu, thoải mái làm cho học sinh tiếp thu kiến thức tự giác, tích cực trong
tâm trạng hồ hởi, vui tươi. Giúp học sinh rèn luyện, củng cố, tiếp thu kiến thức
đồng thời, phát triển vốn kinh nghiệm mà các em đã được tích lũy trong cuộc
sống thông qua hoạt động chơi. Phát triển tư duy nhanh nhạy, óc sáng tạo, xử lí
nhanh các tình huống khi tham gia trò chơi. Phát huy năng lực cá nhân, rèn tính
hòa nhập cộng đồng, nâng cao năng lực hợp tác đồng thời giáo dục ý thức tổ
chức kỉ luật, có tính đồng đội khi tham gia trò chơi học tập. Tóm lại, trò chơi
không chỉ là phương tiện mà còn là phương pháp giáo dục. Vậy làm thế nào để tổ
chức được các trò chơi học tập thật sự hiệu quả trong những giờ Tiếng Việt. Đó
là điều tôi luôn suy nghĩ, tìm tòi
1.2. Cơ sở thực tiễn:
Bài tập Tiếng Việt trong sách giáo khoa lớp 3 bao giờ cũng nhằm hình thành
cho học sinh một đơn vị kiến thức hay rèn luyện cho học sinh một kĩ năng sử
dụng kiến thức tiếng Việt đã học vào một tình huống cụ thể. Mỗi bài tập thường
chỉ đề cập đến một khía cạnh của nội dung bài học từ mức độ thấp đến mức độ
cao nhằm rèn luyện các thao tác tư duy cho học sinh. Hầu như các bài tập Tiếng
Việt nào ở lớp 3 cũng là một sự luyện tập để nắm vững một kiến thức tiếng Việt
hoặc rèn luyện một kĩ năng sử dụng tiếng Việt, rèn luyện các thao tác tư duy. Vì

- Kết thúc năm, học 2012- 2013 qua điều tra chất lượng môn Tiếng Việt ( phần
bài kiểm tra có nội dung luyện từ và câu) ở lớp 3G ( Khe Cát) thu được kết quả
như sau:
- Số học sinh đạt điểm Giỏi :

17 / 34 học sinh = 50%.

- Số học sinh đạt điểm Khá :

10 / 34 học sinh = 29,4 %

- Số học sinh đạt điểm Trung bình :

7 / 34 học sinh

= 20, 6 %

Như vậy theo kết quả điều tra tôi đã thống kê ở trên chúng ta đều nhận thấy:
chất lượng không đồng đều. Cần phải ra tìm ra nguyên vì sao có những tồn tại
như đã nêu ở trên. Từ đó tìm ra biện pháp thích hợp để áp dụng vào trong quá
trình giảng dạy, giúp cho học sinh học đều hơn.
2.2. Các giải pháp:
Qua quá trình nghiên cứu, tìm hiểu thực tế việc dạy và học Luyện từ và
6


Thiết kế trò chơi nhằm nâng cao chất lượng dạy – học Luyện từ và câu lớp 3

câu bằng những hiểu biết của bản thân, quá trình giảng dạy, sự học hỏi kinh
nghiệm của đồng nghiệp, tôi mạnh dạn đề xuất một số biện pháp khi dạy phân

những con vật nuôi trong nhà…), Giáo viên (người dẫn trò) nêu yêu cầu:
+ Hãy kể ra những từ chỉ sự vật (hoặc những từ nói về tình cảm gia đình…).
+ Từng nhóm ghi lại những từ đó vào bảng phụ (đã được chia theo số lượng
nhóm), hoặc ghi vào giấy nháp để đọc lên. Thời gian viết khoảng 2- 3 phút.
+ Mỗi từ viết đúng được tính 1 điểm; mỗi từ viết sai bị trừ 1 điểm; nhóm
nào có số điểm cao nhất sẽ đứng ở vị trí số 1, các nhóm khác dựa theo số điểm
để xếp vào các vị trí 2, 3, 4…
Chú ý: Trò chơi này có thể được sử dụng ở các bài Luyện từ và câu:
- Trong sách giáo khoa Tiếng việt 3, tập 1:
+ Tìm từ chỉ sự vật trong đoạn văn, thơ (tuần 1).
+ Từ ngữ chỉ đức tính tốt của thiếu nhi (tuần 2).
+ Tìm những sự vật được so sánh với nhau trong khổ thơ ( tuần 3).
- Trong sách giáo khoa TV 3, tập 2:
+ Tìm những sự vật được nhân hóa với nhau trong khổ thơ ( tuần 19).
+ Tìm các từ ngữ nói về lễ hội (tuần 25).
+ Tìm những từ ngữ chỉ người trí thức (tuần 21);
2.2.2. Trò chơi: Tìm nhanh các từ có nghĩa giống nhau.
* Mục đích:
- Nhận biết nhanh các từ ngữ có nghĩa gần giống nhau, làm giàu vốn từ của học
sinh
- Luyện trí thông minh, nhanh mắt, nhanh, tay.
* Chuẩn bị:
- Từ 2 đến 4 bộ quân bài có nội dung như nhau nhưng khác màu để khỏi bị lẫn
(xanh, đỏ, vàng…) tương tự quân bài trong cỗ tam cúc. Mỗi bộ có 10 hoặc 12
quân bài đã ghi sẵn các từ.
- Một bộ quân bài dành cho người cầm cái (trọng tài) khác màu với các bộ quân

8



9


Thiết kế trò chơi nhằm nâng cao chất lượng dạy – học Luyện từ và câu lớp 3

- Luyện kỹ năng quan sát tinh, óc tưởng tượng, liên tưởng giỏi.
* Chuẩn bị :
- Phóng to tranh có trong hai bài luyện từ và câu ở tuần 16 - sách giáo khoa TV
3 tập 1.
- Mỗi nhóm chơi (4; 5 học sinh ) cần chuẩn bị giấy, bút (ghi sẵn tên nhóm vào
giấy khổ to đã chuẩn bị. VD: Nhóm Mực tím; nhóm Tuổi thơ…)
- Băng dính hoặc hồ dán.
* Cách tiến hành :
1. Giáo viên nêu yêu cầu: Nêu tên các hình ảnh được vẽ ẩn trong tranh (gọi là kẻ
trú ẩn) rồi ghi ra giấy đã chuẩn bị. Trong khoảng 3 phút, nhóm nào tìm được đủ
số lượng đồ vật (tìm hết được những kẻ trú ẩn) là nhóm đạt giải nhất.
2. Các nhóm chơi cùng quan sát bức tranh do giáo viên đưa ra (hoặc trong sách
giáo khoa TV 2) ghi lại các từ gọi tên các đồ vật đã quan sát được và số lượng
mỗi loại đồ vật đó vào giấy khổ to có ghi tên nhóm (thời gian 3 phút)
3. Hết thời gian, các nhóm lên đính tờ giấy ghi kết quả lên bảng. Giáo viên
hướng dẫn cả lớp hô ''đúng'' (hoặc ''sai'', hoặc ''thiếu'') giáo viên trợ giúp việc xác
nhận kết quả của từng nhóm.
- Khi các nhóm đọc xong kết quả, giáo viên cùng cả lớp dựa vào số lượng đồ vật
tìm được để xếp giải nhất, nhì, ba (có thể xếp đồng giải nhất, nhì, ba hoặc yêu
cầu trả lời thêm câu hỏi phụ để phân rõ thứ hạng).
2.2.4. Trò chơi : Thi ghép tiếng thành từ có nghĩa.
* Mục đích:
- Mở rộng vốn từ bằng cách ghép tiếng.
- Rèn khả năng nhận ra từ, rèn tác phong nhanh nhẹn. Đặc biệt là các em học
sinh yếu kém.

- Ghép đúng mỗi từ được 1 điểm; đúng cả 12 từ được 12 điểm.
- Dựa vào điểm số, ban giám khảo xếp giải nhất, nhì, ba, (hoặc đồng giải nhất,
nhì, ba)
2.2.5. Trò chơi: Xếp từ theo nhóm.
* Mục đích:
11


Thiết kế trò chơi nhằm nâng cao chất lượng dạy – học Luyện từ và câu lớp 3

- Nhận biết nghĩa của từ bằng cách tìm ra những điểm giống nhau của sự vật mà
từ gọi tên.
- Rèn trí thông minh, khả năng phân tích, khái quát nhanh của đối tượng.
* Chuẩn bị :
- Làm các thẻ quân bài trên mỗi thẻ ghi một từ cần phân nhóm.
VD: Chia các từ sau thành 2 nhóm:
+ Ngô, khoai, bắp cải, bí.
+ Ngô, lúa, su su, sắn, mướp
- Số lượng người chơi là 2 nhóm chơi; mỗi người chơi đều có bút để đánh dấu.
* Cách tiến hành :
1. Giáo viên phát cho mỗi người (nhóm) chơi một bộ bài hoặc một bảng từ, nêu
luật chơi. VD: Dựa vào những đặc điểm của các loại cây được gọi tên trong bộ
bài (bảng từ) hãy sắp xếp các từ trong bộ bài thành 2; 4 nhóm.
2. Mỗi người (nhóm) chơi cầm bảng từ hoặc bày các quân bài ra, đọc một lượt
các từ rồi dựa đặc điểm giống nhau của sự vật, hành động….(cũng là nghĩa của
từ ghi trong bảng hoặc trong các quân bài); Xếp các quân bài theo các nhóm
hoặc dùng bút đánh dấu các từ trong bảng theo nhóm (1; 2)
3. Hết thời gian quy định (khoảng 3 phút) cá nhân (nhóm) nào phân loại được
đúng và nhanh sẽ được tính điểm và được khen thưởng (mỗi từ phân loại đúng
được tính 1 điểm)

* Chuẩn bị :
Phần mềm PowerPoint để trình chiếu ô chữ
Hoặc: Kẻ trên giấy rôki loại to để hoạt động cả lớp và in phiếu học tập tới từng
HS. ( Phần chuẩn bị để thực hiện giải các ô chữ giống nhau)
Dựa vào từ hàng dọc trong ô chữ hãy tìm các từ hàng ngang, mỗi hàng
ngang là là từ chỉ đức tính tốt của trẻ em.
Gợi ý: Các từ ở hàng ngang số 1, 4, 6 được ghi trong " 5 điều Bác Hồ
dạy". Nếu HS gặp khó khăn khi giải ô chữ, GV có thể gợi ý bằng chữ cái.

1

M
13


Thiết kế trò chơi nhằm nâng cao chất lượng dạy – học Luyện từ và câu lớp 3

2

Ă

3

N

4

G
5




Thiết kế trò chơi nhằm nâng cao chất lượng dạy – học Luyện từ và câu lớp 3

1

C
2



3

N
4

G

5

Đ

6



7

N
8

C

15


Thiết kế trò chơi nhằm nâng cao chất lượng dạy – học Luyện từ và câu lớp 3

6

A

Đáp án: Các từ hàng ngang lần lượt là: đồng ý, đồng tình, đồng lòng, đồng
diễn, cộng tác, đồng thanh.
CHỦ ĐIỂM THÀNH THỊ , NÔNG THÔN
Ô chữ: THÀNH PHỐ
Mục tiêu: Củng cố từ và mở rộng vốn từ ngữ về thành thị, nông thôn cho HS
đồng thời rèn trí thông minh và khả năng phản ứng nhanh.
Từ ngữ ở hàng ngang là các từ ngữ chỉ sự vật ở nông thôn và thành phố,
các em hãy dựa vào các chữ cái ở từ hàng dọc và các gợi ý để tìm nhang từ ngữ ở
hàng ngang.
1. Cửa hàng rất lớn bán thực phẩm và hàng hoá đủ loại, người mua tự vào
chọn hàng rồi ra quầy thanh toán.
2. Nơi để cho mọi người ở tạm.
3. Nơi ở của các gia đình.
4. Vườn công công cộng, mọi người thường đến thư giãn, vui chơi.
5. Nơi để học tập
6. Nơi mọi người đi lại
7. Tủ hoặc giá quây quanh người bán hàng
8. Người ta trồng nhiều làm xanh, đẹp phố





Đáp án: Các từ hàng ngang lần lượt là: siêu thị, khách sạn, nhà cửa, công
viên, trường học, đường phố, quầy hàng, cây cối.
* Ô chữ: NÔNG THÔN
Hãy tìm bí mật trong từng hàng ngang, mỗi hàng ngang là từ ngữ chỉ các
sự vật có ở nông thôn.
1. Chỗ đào sâu để lấy nước mạch
2. Loài cây lương thực có bắp
3. Tên gọi khác của đồng ruộng
4. Nơi mọi người đi lại
5. Con vật nuôi để cày ruộng
6. Nhà dân làng đến cúng tế, hội họp hay bầu cử
7. Gần nghĩa với xóm làng
8. Khu đất xung quanh nhà hoặc khu đất rộng trồng cây ăn quả

1

N
2

Ô

3

N

4


của mỗi hàng ngang trong trường hợp HS gặp khó khăn. HS chọn hàng ngang
bất kì để giải ô chữ chứ không nhất thiết phải chọn lần lượt.

1

V

H
2

3

S

O


6
7

K

4

H

T

5


để tìm đáp án.
1. Nghiên cứu về lịch sử
2. Thiết kế những ngôi nhà
3. Chế thuốc chữa bệnh
4. Làm báo
5. Vẽ đồ hoạ nhà cửa
6. Hiểu biết rất rộng
7. Sáng tác thơ
8. Sáng tác âm nhạc
9. Dạy học

1

S

2


3

S

4

Á
5

N

6

4. Hội thường được tổ chức ở Tây Nguyên
5. Hội có sự góp công của các chú ngựa
6. Hội là dịp để các liền anh, liền chị đua tài

1

H

2



3

I

4

V
5

6

U
I

Đáp án: Các hội được nhắc đến trong ô chữ lần lượt là: Thả diều, hội vật,
bơi trải, đua voi, đua ngựa, hội lim.
Ô chữ: HOẠT ĐỘNG
Mỗi hàng ngang là một số hoạt động và trò chơi thường được tổ chức


Đ
6

7


N

8

G

Đáp án: Các từ ngữ hàng ngang lần lượt là: Chọi gà, kéo co, đua xe đạp, chơi
cờ tướng, đánh đu, đội lễ, múa rối nước, cúng phật.
ĐIỂM BẢO VỆ TỔ QUỐC
Ô chữ : ANH HÙNG
Mục tiêu :
- Củng cố và hệ thống hoá từ ngữ về bảo vệ Tổ quốc
- Rèn khả năng ghi nhớ các anh hùng của dân tộc và giáo dục truyền thống
dân tộc.
Mỗi hàng ngang có ghi tên một anh hùng, em hãy dựa vào gợi ý để tìm
đúng tên các anh hùng đó.
1. Triệu Việt Vương
2. Nữ tướng cưỡi voi đánh giặc
21


Thiết kế trò chơi nhằm nâng cao chất lượng dạy – học Luyện từ và câu lớp 3


- Qua thời gian đưa trò chơi vào trong các tiết dạy ôn tập về từ, các ô chữ phát
huy năng lực các đối tượng học sinh giỏi khá, trung bình yếu trong lớp. Học
sinh thực hiện tìm từ một cách chắc chắn. Từ đó việc ứng dụng viết câu viết
đoạn văn của các em đã khắc phục được các thiếu sót về sử dụng từ không đúng
mà trước đây các em thường mắc phải.
- Tạo không khí thi đua sôi nổi giưã các tổ, nhóm và cá nhân trong lớp học.
Không khí lớp học sôi nổi, hào hứng học sinh tự giác học tập.
Hiệu quả của đôi bạn học tập được phát huy một cách tối đa qua cách làm việc
theo từng cặp;
22


Thiết kế trò chơi nhằm nâng cao chất lượng dạy – học Luyện từ và câu lớp 3

- Khả năng giao tiếp, năng lực tự học của học sinh đựơc phát huy một cách
triệt để. Trước kia, đối với những học sinh TB, các em rất ngại tìm từ theo chủ
đề, sau khi được giải các ô chữ các em bớt tự ti và chủ động làm được bài và
mạnh dạn hơn trong học tập;
- Tạo điều kiện cho học sinh thể hiện khả năng vận dụng kiến thức vào việc
thực hành rèn luyện và phát triển tư duy sáng tạo trong quá trình học tập.
Kết quả cuối học kì I với câu hỏi Luyện từ và câu :
- Số học sinh đạt điểm Giỏi :

19 / 34 học sinh = 55,9 %.

- Số học sinh đạt điểm Khá :

8 / 34 học sinh

= 23,5 %

các hoạt động lớp và tổ chức các hoạt động đó sao cho khoa học phù hợp mọi đối
tượng học sinh.
23


Thiết kế trò chơi nhằm nâng cao chất lượng dạy – học Luyện từ và câu lớp 3

2.4.3. Vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học:
Giáo viên nắm vững các phương pháp, các hình thức tổ chức dạy học, để lựa
chọn phối hợp linh hoạt các phương pháp và hình thức cho phù hợp với nội
dung của bài dạy và chủ điểm của bài học đó.
2.4.4. Tổ chức hoạt động lên lớp.
Giáo viên cần khéo léo sử dụng linh hoạt các phương pháp, các hình thức tổ chức
dạy học.
Các hoạt động của tiết dạy không tách rời nhau, mà phải có sự đan xen, liên kết
và hỗ trợ lẫn nhau.
Bên cạnh đó giáo viên cần phải có dự kiến về các câu trả lời của học sinh và các
tình huống sư phạm xảy ra trong mỗi hoạt động, có biện pháp giải quyết và điều
chỉnh kịp thời.
- Trong giảng dạy nghiên cứu người giáo viên phải kiên trì, bền bỉ tránh nôn
nóng khi chưa thấy kết quả. Tìm cách khắc phục những điểm yếu, những điểm
chưa phù hợp để lựa chọn được phương pháp tối ưu.
2.4.5. Đa dạng hoá các hình thức tổ chức dạy học:
Giáo viên có thể vận dụng linh hoạt các hình thức tổ chức dạy học theo
nhóm,dạy học cá nhân,.....có thể tổ chức học sinh dưới hình thức trò chơi để kích
thích sự hứng thú học tập của học sinh, nhằm đạt kết quả cao trong giờ học mà
học sinh không nhàm chán.
- Khi thiết kế và tổ chức các trò chơi học tập phải đảm bảo các yêu cầu: Mỗi
trò chơi học tập phải góp phần vào việc thực hiện mục tiêu dạy học; phải được
chuẩn bị chu đáo và phù hợp với đối tượng học sinh; phải tổ chức sao cho tất cả

em trong học tập rất nhiều. Nhưng theo tôi, để nâng cao chất lượng các môn học
cũng như môn Toán cho học sinh, Nhà trường và các cấp cần mở rộng và tạo
điều kiện hơn nữa cho học sinh tiếp cận, mở mang kiến thức thông qua các hình
thức sân chơi “học vui – vui học”, các buổi toạ đàm, giao lưu , … tạo hứng thú,
niềm say mê cho học sinh trong quá trình học tập và rèn luyện.
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status