BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SỬ DỤNG THỨC ĂN BÁNH DẦU
ĐẬU NÀNH THAY THẾ BỘT CÁ ĐẾN SỨC TĂNG TRƯỞNG
VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG THỨC ĂN CHO CÁ LĂNG NHA
(Mystus wyckioides, Chaux và Fang 1949)
NGÀNH: NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
KHÓA: 2008 – 2012
SINH VIÊN THỰC HIỆN: NGUYỄN HUY LÂM
Tháng 8/2012
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SỬ DỤNG THỨC ĂN BÁNH DẦU ĐẬU NÀNH
THAY THẾ BỘT CÁ ĐẾN SỨC TĂNG TRƯỞNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ
DỤNG THỨC ĂN CHO CÁ LĂNG NHA
(Mystus wyckioides, Chaux và Fang 1949)
Thực hiện bởi
NGUYỄN HUY LÂM
Khóa luận được đệ trình để hoàn tất yêu cầu cấp bằng Kỹ Sư Thủy Sản
Giáo viên hướng dẫn
Ths. VÕ THỊ THANH BÌNH
PGS. TS. LÊ THANH HÙNG
x 1 x 1m. Cá thí nghiệm được cho ăn 2 lần mỗi ngày, vào lúc 8 giờ và 16 giờ với
lượng ăn bằng 10% trọng lượng thân. Sau 12 tuần nuôi, kết quả cho thấy tốc độ tăng
trưởng, tỷ lệ sống và hệ số thức ăn của 4 nghiệm thức không khác nhau có ý nghĩa về
mặt thống kê.
ii
Từ hai thí nghiệm trên cho thấy có thể sử dụng bánh dầu đậu nành đến tỷ lệ
45% thức ăn cộng với bổ sung dầu cá thì cho kết quả tăng trưởng, hệ số thức ăn và tỷ
lệ sống tương đương công thức sử dụng hoàn toàn bột cá trong thức ăn.
iii
LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin gởi lời cảm ơn chân thành đến:
Ban Giám hiệuTrường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh.
Ban Chủ nhiệm Khoa Thủy Sản Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí
Minh.
Quý Thầy Cô Khoa Thủy Sản Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh đã
tận tình dạy bảo, truyền đạt những kiến thức quý giá trong suốt quá trình học tập và
thực hiện đề tài.
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến cô Võ Thị Thanh Bình và thầy
Lê Thanh Hùng đã tận tình hướng dẫn và động viên tôi trong suốt thời gian làm đề tài.
Cảm ơn Ba Mẹ, các anh chị, các bạn bè sinh viên trong và ngoài lớp đã động
viên và giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian làm đề tài tốt nghiệp.
Cám ơn các tác giả những tài liệu mà tôi đã sử dụng trong suốt quá trình thực
hiện khóa luận tốt nghiệp này.
Do có những hạn chế về mặt thời gian và kiến thức nên khóa luận không thể
tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của
Chương 1. GIỚI THIỆU
-1-
1.1 Đặt Vấn Đề
-1-
1.2 Mục Tiêu Đề Tài
2
Chương 2. TỔNG QUAN
3
2.1 Đặc Điểm Sinh Học
3
2.1.1 Vị trí phân loại
4
2.1.2 Phân bố và môi trường sống
4
2.1.3 Đặc điểm hình thái
2.2.4 Vitamin
10
2.2.5 Các chất khoáng
10
2.3 Các Nguồn Nguyên Liệu Cung Cấp Protein Trong Thức Ăn Thủy Sản
12
2.3.1 Protein động vật
12
2.3.2 Protein thực vật
13
2.3.3 Khả năng sử dụng protein thực vật trong thức ăn động vật thủy sản
v
14
2.3.4 Bánh dầu đậu nành
14
22
3.6.2 Các chỉ tiêu theo dõi trên cá thí nghiệm
22
3.7 Phương Pháp Xử Lý Số Liệu
23
Chương 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
24
4.1 Thí Nghiệm 1: Đánh Giá Khả Năng Sử Dụng Bánh Dầu Đậu Nành Thay Thế Bột
Cá Trong Thức Ăn Cá Lăng Nha
24
4.1.1 Nguyên Liệu Và Thành Phần Dinh Dưỡng Của Thức Ăn Trong Thí Nghiệm1 24
4.1.2 Một Số Thông Số Môi Trường Nuôi Cá Tại Các Bể Thí nghiệm
25
4.1.2.1 Hàm lượng Oxy Hòa Tan
25
4.1.2.2 Độ pH Và Nhiệt Độ
33
4.2.3 Tăng Trưởng Và Tỉ lệ Sống Cá Lăng Nha
34
4.3 Kết Quả Thảo Luận Chung Cho Thí Nghiệm 1 và Thí Nghiệm 2
36
Chương 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
38
vi
5.1 Kết Luận
38
5.2 Đề Nghị
38
TÀI LIỆU THAM KHẢO
40
PHỤ LỤC
Bảng 3.2 Thành Phần Nguyên Liệu Trong Khẩu Phần Thức Ăn Thí Nghiệm 1
20
Bảng 3.3 Thành Phần Nguyên Liệu Trong Khẩu Phần Thức Ăn Thí Nghiêm 2
21
Bảng 4.1 Kết Quả Phân Tích Thành Phần Dinh Dưỡng Trong Thức Ăn Của Thí
Nghiệm 1.
24
Bảng 4.2 Hàm Lượng Oxy Hòa Tan Trong Thời Gian Thí nghiệm 1
26
Bảng 4.3 pH Và Nhiệt Độ Nước Trong Thời Gian Thí Nghiệm 1
27
Bảng 4.4 Hàm Lượng Ammonia Hòa Tan Trong Thời Gian Thí Nghiệm 1
28
Bảng 4.5 Tăng Trưởng và Tỉ Lệ Sống Của Thí Nghiệm 1
29
GIỚI THIỆU
1.1 Đặt Vấn Đề
Cùng với sự phát triển ngày càng đa dạng của các ngành kinh tế thì trong những
năm gần đây ngành nuôi trồng thủy sản cũng đã và đang phát triển mạnh theo hướng
công nghiệp. Việc cho sản xuất giống nhân tạo thành công đã góp phần thúc đẩy và
giải quyết chủ động nguồn giống cho việc nuôi trồng thủy sản của bà con nông dân.
Hiện nay do nhu cầu về thực phẩm của con người ngày càng được chú trọng và quan
tâm đúng mức đã thúc đẩy việc nuôi trồng thủy sản có giá trị và chất lượng cao để đáp
ứng nhu cầu của thị trường trong nước cũng như quốc tế.
Cùng với những loài cá truyền thống như: cá mè, chép, trôi, rô phi… thì các
loài cá bản địa (cá lăng hầm, cá lăng nghệ, cá lăng nha…) có giá trị kinh tế ngày càng
được quan tâm chú trọng hơn. Cá Lăng nha (Mystus wyckioides) là loài cá có chất
lượng thịt thơm ngon, cơ trắng, ít mỡ, không xương dăm và mau lớn, là đối tượng hiện
đang được rất nhiều nhà nghiên cứu cũng như những người làm kinh tế quan tâm.
Trong việc nuôi cá thương phẩm vấn đề mà người nuôi thủy sản quan tâm nhất
là chi phí thức ăn vì nó chiếm tỉ lệ cao trong tổng chi phí sản xuất (> 50% tổng chi
phí). Xét về khía cạnh dinh dưỡng thì trong khẩu phần thức ăn, protein là thành phần
quan trọng mà bột cá là nguồn cung cấp protein chính. Tuy nhiên sản lượng của nguồn
nguyên liệu này hiện ngày càng giảm và giá cả có chiều hướng tăng cao, do đó việc
nghiên cứu nhằm tìm kiếm các nguồn protein khác rẻ và dồi dào hơn để làm giảm bớt
chi phí trong nuôi cá và bảo vệ nguồn lợi cá tự nhiên là điều tất yếu. Một trong nhiều
hướng để giải quyết vấn đề này là sử dụng nguồn protein thực vật để thay thế một
phần bột cá trong chế biến thức ăn thủy sản.
-1-
Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Đánh giá khả năng
sử dụng thức ăn bánh dầu đậu nành thay thế bột cá đến sức tăng trưởng và hiệu
quả sử dụng thức ăn cho cá lăng nha (Mystus wyckioides Chaux và Fang, 1949)”
Cá lăng nha là loài cá ưa tối, sống đáy, hốc đá, hang…chúng sinh sống trong
các thủy vực nước chảy nhẹ thuộc vùng nội địa như: sông, suối, hồ chứa… từ vùng
thượng nguồn cho tới cửa sông. Cá lăng nha phân bố rộng rãi ở Ấn Độ và nhiều nước
Đông Nam Á và thường hịên diện trên những con sông thuộc lưu vực sông Mekông và
Salween (Theo Rainboth, 1996). Chúng thường sống ở những nơi có nền đáy là đá và
ở những độ sâu khác nhau.
Ở Việt Nam, cá lăng nha phân bố nhiều trong các thủy vực tự nhiên, nước chảy
nhẹ như sông, hồ chứa ở miền Đông Nam Bộ và đồng bằng Sông Cửu Long. Chúng
được tìm thấy trong các lưu vực của sông Đồng Nai (lòng hồ Trị An), sông Sài Gòn và
sông Cửu Long. Ở các con sông lớn dọc từ thượng nguồn sông Cửu Long đến tận các
nhánh sông. Theo Mai Đình Yên và ctv. (1992), cá lăng nha phân bố hầu hết rộng rãi
các sông rạch thuộc miền nam Việt Nam.
Theo Ngô Văn Ngọc và Lê Thị Bình (2005), hiện nay ngoài tự nhiên, các loài
cá lăng như lăng vàng (Mystus nemurus), cá lăng hầm (Mystus filamentus), cá lăng nha
(Mystus wyckioides) và cá lăng nghệ (Mystus sp.) ngày càng trở nên quí hiếm do sự
lạm thác và sự suy thoái môi trường sống, đặc biệt là cá lăng nghệ đang có nguy cơ
tuyệt chủng.
Cá lăng nha sống ở vùng nước ngọt và lợ nhẹ độ mặn dưới 6‰. Cá không có
cơ quan hô hấp phụ. Cá thích sống nơi nước trong sạch có dòng nước chảy nhẹ, không
thích hợp ở nơi có dòng nước chảy mạnh, tuy nhiên vẫn sống tốt trong nước tĩnh
(Nguyễn Chung, 2006).
Theo Ngô Văn Ngọc và Lê Thị Bình (2005), các loài cá lăng thuộc giống
Mystus sống và phát triển tốt ở môi trường nước có:
- Nhiệt độ: từ 24 – 340C (tốt nhất: 28 – 300C)
- Độ pH: từ 6 – 8
- Hàm lượng DO: > 3mg/l
- Độ mặn: từ 0 – 7‰
-4-
-5-
Tuy nhiên, trong điều kiện nuôi để cá phát triển tốt, ngoài thức ăn viên có hàm
lượng đạm cao (>35%) thì việc bổ sung nguồn đạm tươi sống từ cá tạp, ốc,… là điều
cần thiết (Ngô Văn Ngọc và Lê Thị Bình, 2005).
2.1.5 Đặc điểm sinh trưởng
Sinh trưởng là sự tăng trưởng về kích thước và khối lượng theo thời gian nhờ
quá trình trao đổi chất. Sinh trưởng cũng là quá trình sử dụng và đồng hoá thức ăn xảy
ra bên trong cơ thể của cá.
Quá trình sinh trưởng đặc trưng tương ứng với từng loài cá và phụ thuộc vào
nhiều yếu tố như: Điều kiện môi trường sống, thuộc tính của loài, giới tính, số lượng
thức ăn có trong thủy vực… Đây là đặc tính thích ứng của loài, đảm bảo cho sự sống
của loài với điều kiện môi trường.
Cá lăng nha là loài cá có kích thước cơ thể lớn nhất trong họ Bagridae. Ngoài tự
nhiên, cá trưởng thành thường có kích thước khoảng 50 cm, đôi khi bắt gặp những cá
thể dài đến 70 cm (FAO, 1996).
Theo Nguyễn Chung (2006), khi còn nhỏ, cá lăng nha tăng trọng rất chậm. Trên
năm tháng tuổi cá mới đạt trọng lượng 230 – 250 gr/con dài từ 18 – 20 cm. Tuy nhiên,
kể từ tháng thứ sáu, thứ bảy thì cá lại tăng trọng rất nhanh, cá 10 – 12 tháng tuổi có thể
đạt chiều dài 35 – 40 cm, nặng 1 – 1,5 kg/con.
2.1.6 Đặc điểm sinh sản
Theo Rainboth, 1996 (trích bởi Lê Đại Quan, 2004) thì vào mùa sinh sản, cá
lăng tìm vào các cánh rừng ngập nước để bắt cặp sinh sản. Ở Tonlé Sap, cá con được
tìm thấy từ tháng tám và đến tháng 10 – 12 chúng trở ra sông chính.
Mai Thị Kim Dung (1998) cho rằng cá có chiều dài từ 30 cm trở lên có thể
tham gia sinh sản. Cá vào bờ sinh sản sau khi nước lên. Mùa sinh sản từ tháng sáu đến
tháng bảy và chỉ sinh sản một lần trong năm.
Tuy nhiên, theo Ngô Văn Ngọc và Phùng Cẩm Hà (2006), trong điều kiện nhân
của nguyên sinh chất tế bào. Trong thành phần hoá học của protein thường chứa:
carbon (51 – 55%), hydro (6,5 – 7,3%), oxy (21,5 – 23,5%), và đặc biệt Nitrogen có tỉ
lệ ít thay đổi khoảng 16%. Ngoài ra, còn một lượng nhỏ các nguyên tố khác như lưu
huỳnh (0,5-2%) và phosphorus (0,5-1,5%).
Trong phân tử protein, các acid amin kết hợp với nhau trong những liên kết
khác nhau, chúng tạo thành các phân tử protein khác nhau về thành phần và tính chất.
Giá trị dinh dưỡng của mỗi loại protein khác nhau là ở số lượng và chất lượng các acid
-7-
amin tạo thành. Quá trình tiêu hoá đã phân giải protein trong thức ăn thành acid amin.
Các acid amin thấm qua thành ruột chuyển tới các tổ chức cơ thể, tại đây chúng được
sử dụng để tổng hợp nên protein đặc hiệu cho cơ thể.
Trong protein có khoảng 20 loại acid amin phổ biến trong đó có 10 acid amin
thiết yếu mà cá không có khả năng tự tổng hợp, cần phải được cung cấp qua thức ăn
bao gồm: Arginine, methionine, lysine, leucine, isoleucine, valine, histidine, threonine,
tryptophan và phenylalanine. Trong số này thì lysine và methionine thường thiếu và
cần được bổ sung nhiều hơn.
Protein có giá trị cao khi thành phần của nó có đầy đủ các acid amin cần thiết
với tỉ lệ thích hợp. Sự mất cân đối acid amin sẽ dẫn đến lãng phí acid amin. Việc thiếu
hay thừa bất kỳ acid amin nào cũng đều làm giảm hiệu quả sử dụng protein. Thiếu một
trong các acid amin thiết yếu sẽ dẫn đến rối loạn cân bằng đạm và rối loạn sử dụng tất
cả các acid amin còn lại.
Protein đặc biệt ảnh hưởng đến tốc độ lớn của cá. Cá khi ăn thiếu protein sẽ dễ
nhạy cảm với sự nhiễm trùng đường ruột và đường hô hấp, chậm lớn và dễ bị bệnh.
Thiếu protein kéo dài sẽ kéo theo các triệu chứng thiếu các chất dinh dưỡng khác gây
ảnh hưởng đến tình trạng chung của cơ thể và sự phát triển của cá.
Nhu cầu protein của cá thường rất cao, dao động trong khoảng 24 – 54% của
thức ăn với mức trung bình 30% (Lê Thanh Hùng, 2000).
Nhu cầu protein ở cá ăn thực vật và ăn tạp thường thấp hơn ở cá ăn động vật.
Ngoài vai trò sinh năng lượng, ở mức độ nhất định, glucid có cả vai trò tạo hình vì có
mặt trong tế bào và tổ chức thịt tôm cá. Chuyển hóa glucid liên quan chặt chẽ với
chuyển hóa protid và lipid. Cung cấp đủ glucid trong thức ăn sẽ làm giảm phân hủy
protid đến mức tối thiểu.
Glucid theo nhu cầu dinh dưỡng tôm cá chủ yếu là tinh bột. Tinh bột là thành
phần dinh dưỡng chính của các loại hạt ngũ cốc và đậu. Nhưng có một thành phần
quan trọng khác là cenluloza. Cenluloza có khả năng điều hòa bài tiết và kích thích các
hệ vi khuẩn có lợi cho đường ruột, tạo điều kiện tốt nhất cho chức phận tổng hợp của
chúng (Nguyễn Văn Thoa và Bạch Thị Quỳnh Mai, 1996).
-9-
2.2.4 Vitamin
Vai trò của vitamin là rất to lớn đối với cơ thể, nó cần thiết cho sự chuyển hóa
chủ yếu của cơ thể, trong đó có quá trình đồng hóa và sử dụng các chất dinh dưỡng
cũng như quá trình lớn, xây dựng tế bào và tổ chức cơ thể.
Vitamin phần lớn không được tổng hợp trong cơ thể mà được cung cấp từ nguồn thức
ăn động vật và thực vật. Thiếu vitamin sẽ là nguyên nhân của nhiều rối loạn chuyển
hóa quan trọng. Vì vậy trong thành phần thức ăn cần cung cấp đầy đủ vitamin cho cơ
thể (Nguyễn Văn Thoa và Bạch Thị Quỳnh Mai, 1996).
Vitamin là chất không thể thiếu được trong đời sống của sinh vật. Nếu thiếu
vitamin thì hoạt động của một số nhóm enzym sẽ bị mất khả năng, dẫn đến việc rối
loạn tiêu hóa,… làm cho sinh trưởng chậm, sức đề kháng kém dẫn đến bệnh tật và tử
vong.
Trong số các vitamin thì vitamin C giữ vai trò quan trọng nhất nhờ khả năng
chống oxy hóa và hỗ trợ hệ miễn dịch của cá. Vitamin C rất cần thiết cho sự tạo thành
các mô liên kết, làm lành các vết thương. Vitamin C giúp sự hấp thụ sắt trên cá nên
giúp cá tránh hiện tượng xuất huyết. Ngoài ra, vitamin C còn tham gia với vitamin E
phòng chống sự oxy hóa các lipid trong các mô tế bào.
− Một sự cân bằng giữa các thức ăn năng lượng và sinh trưởng (carbohydrate,
lipid và protein) nhằm đảm bảo sự cung cấp vật liệu năng lượng cho hoạt động
đồng hóa tối hảo và vật liệu sống cho sự phát triển bao gồm kiến tạo mô, sinh
sản và thành lập các sản phẩm (hemoglobin, hormone, enzyme,…).
− Sự hiện diện của các nguyên tố (khoáng chất), nhất là nguyên tố vi lượng và
chất xúc tác cần thiết (vitamin).
− Sự cung cấp đầy đủ thức ăn bổ sung.
Ngoài ra, giá trị dinh dưỡng của khẩu phần thức ăn còn được xác định bởi khả
năng cá có thể tiêu hóa và hấp thụ tốt nhất. Nó phụ thuộc vào trạng thái vật lý của thức
ăn, loại và số lượng của enzyme trong ống tiêu hóa.
Theo Nguyễn Văn Thoa và Bạch Thị Quỳnh Mai (1996), vai trò của các chất
khoáng đối với tôm cá rất đa dạng, chủ yếu là quá trình tạo hình mà đặc biệt là vỏ, vây,
xương, tham gia quá trình tạo protid, các quá trình enzyme, điều hòa chuyển hóa nước,
duy trì tính ổn định môi trường bên ngoài và sức đề kháng của cơ thể đối với nhiễm
trùng. Các chất khoáng có trong nguyên liệu thức ăn với hàm lượng lớn từ hàng trăm
- 11 -
đến hàng triệu mg có khi g gọi là các yếu tố đa lượng trong đó là canxi, phospho, kali,
natri, clo, sunfua.
Lượng chất khoáng chiếm 2 – 4% trọng lượng cơ thể, một nửa chất khoáng là
yếu tố tạo hình. Cơ thể tôm cá không thể sản xuất được các chất khoáng, vì vậy mà các
chất khoáng phải được cung cấp từ bên ngoài mà nguồn cung cấp chính là thức ăn và
một phần chất khoáng có từ môi trường nước được cá hấp thụ qua mang.
2.3 Các Nguồn Nguyên Liệu Cung Cấp Protein Trong Thức Ăn Thủy Sản
Không giống như động vật nuôi trên cạn, hầu hết các loài cá nuôi có nhu cầu
protein khá cao (30 – 50%). Nhu cầu này thay đổi tùy theo loài và tùy theo từng giai
đoạn phát triển. Cá con có nhu cầu cao về protein, lipid, vitamin và khoáng chất cần
thiết cho sự phát triển của hệ xương và các cơ quan. Ở giai đoạn trưởng thành, cá cần
nhiều năng lượng từ nguồn lipid và cacbohydrate để đáp ứng cho các quá trình biến
ly trích khô dầu được trích triệt để nên khô dầu chỉ còn một tỉ lệ thấp chất béo (1-2%),
trong khi ép cơ học cho bánh dầu có hàm lượng béo 3-5%. Như vậy bã dầu (oil meal)
thường hiểu theo nghĩa là sản phẩm ép dầu bằng phương pháp ly trích như bã dầu nành
(soybean meal). Trái lại bánh dầu (oil cake) chỉ sản phẩm ép dầu bằng phương pháp ép
cơ học như bánh dầu đậu phộng (groundnut cake).
Ở Việt Nam, những protein thực vật phổ biến như bánh dầu phộng, bánh dầu
nành, bánh dầu dừa. Ngoài ra, hàng năm Việt Nam phải nhập khẩu một lượng lớn các
protein gốc thực vật khác để cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy thức ăn gia súc và
thủy sản như bã dầu bông dải, bã dầu cọ, bã dầu nành, bã dầu cải, bã dầu hướng
dương.
Đây là nguồn nguyên liệu ngày càng được quan tâm nghiên cứu nhằm thay thế
các nguồn protein động vật, nhất là bột cá vốn hạn chế về số lượng và giá cả. Do đó
xuất hiện nhu cầu thay thế bột cá bằng nguồn protein thực vật giàu protein nhưng rẻ
tiền so với bột cá, trong đó có thể kể đến các nguồn protein thực vật như: bánh dầu đậu
nành, bánh dầu đậu phộng, bánh dầu bông vải, bánh dầu cao su…
Việc sử dụng các sản phẩm từ đậu nành thay thế bột cá trong khẩu phần thức ăn
của cá đều cho kết quả tốt.
Tuy nhiên, những nghiên cứu về việc sử dụng các nguồn protein thực vật khác
như: bánh dầu đậu phộng, bánh dầu hạt hướng dương, bánh dầu bông vải… trong dinh
dưỡng cho cá thì rất hạn chế. Mặc dù vậy chúng được biết là có thể sử dụng ở mức
thấp trong thức ăn cho cá rô phi O.mossambicus (Jackson và ctv, 1982; trích bởi
- 13 -
Fagbenno và Davies, 1998), O.aureus (Robinson và ctv, 1984, trích bởi Fagbenro và
Davies, 1998) cá rô phi đỏ (Hashim và ctv, 1994; trích bởi Fagbenro và Davies, 1998)
và cá trê phi Clarias gariepirus (Olokunle và Falaye, 1998; trích bởi Fagbenro và
Davies, 1998).
2.3.3 Khả năng sử dụng protein thực vật trong thức ăn động vật thủy sản
Xu hướng hiện nay là thay thế bột cá bằng protein thực vật. Tuy nhiên việc sử
tấn, tăng 14% so với năm 2003. Argentina va Ấn Độ là hai nguồn cung cấp chính
trong khi đó Mỹ là quốc gia có sản lượng bánh dầu nành cao nhất thế giới (Bùi Thu
Hương,2005; trích bởi Lê Thanh Hùng, 2005)
Protein của bánh dầu đậu nành chứa tương đối đầy đủ các acid amin thiết yếu.
Các acid amin thiết yếu tương đối cân đối so với nhu cầu và tốt nhất trong các protein
thực vật. Hàm lượng các acid amin thiết yếu có trong bánh dầu đậu nành được liệt kê ở
bảng 2.1
Bảng 2.1 Hàm lượng 10 acid amin thiết yếu trong bánh dầu đậu nành (% vật chất khô)
Thành phần acid amin
Hàm lượng (% vật chất khô)
Arginine
6,94
Histidine
2,64
Isoieucine
5,01
Leucine
7,54
Lysine
- 15 -