80 năm C ĐVN, một chặng đường lịch sử - Pdf 49

CÔNG ĐOàN CƠ Sở TRƯờNG .............................................
BàI Dự THI
Họ và tên: .......................................................
Nm sinh: ......................
Chức vụ: on viờn
Đơn vị công tác: THCS Chu Vn An- ak P- GiaLai
in thoi :
Tháng 4 năm 2009
Câu hỏi 1: Đồng chí hãy cho biết, tổ chức Công đoàn Việt Nam được thành lập
vào ngày, tháng, năm nào? Do ai sáng lập?
Trả lời:
Dưới ảnh hưởng của tư tưởng cách mạng, tư tưởng Công hội đỏ của tổ chức
Thanh niên, từ năm 1926 phong trào công nhân Việt Nam đang tiến tới thành lập
chính đảng cách mạng và tổ chức quần chúng rộng lớn của giai cấp công nhân.
Ngay sau khi thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương, Ban Chấp hành Trung
ương lâm thời của Đảng quyết định thành lập Tổng Công hội đỏ Bắc kỳ vào ngày
28/7/1929 tại số nhà 15 phố Hàng Nón- Hà Nội. Tham dự đại hội có các đại biểu các
Tổng Công hội tỉnh và thành phố: Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng, khu mỏ Đông
Triều, Mạo Khê.
Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương lâm thời Tổng Công hội đỏ do
đồng chí Nguyễn Đức Cảnh, Uỷ viên Ban Chấp hành lâm thời Đảng Cộng sản Đông
Dương đứng đầu. Đại hội cũng đã thông qua chương trình, Điều lệ của Công hội đỏ
Việt Nam và quyết định cho xuất bản tờ Lao động (số đầu ra ngày 14/8/1929 do
chính Nguyễn Đức Cảnh và Trần Học Hải phụ trách). Ban Chấp hành lâm thời còn có
các đồng chí Trần Hồng Vân, Trần Văn Các, Nguyễn Huy Thảo và đặc biệt có đồng
chí Trần Văn Lan (tức Giáp Cóc), một công nhân ưu tú của phong trào công nhân
Nhà máy sợi Nam Định…Việc ra mắt tổ chức Công đoàn đầu tiên của giai cấp công
nhân Việt Nam ngay lúc đó đã thu hút sự chú ý của Quốc tế Công hội đỏ của Đảng
Cộng sản Pháp.
Có thể nói, việc thành lập Tổng Công hội đỏ Bắc kỳ có ý nghĩa hết sức to lớn
đối với phong trào công nhân Việt Nam. Nó vừa là kết quả tất yếu của sự trưởng

- Tổ chức huấn luyện toàn thể công nhân trong vùng tự do và vùng tạm bị địch
chiếm.
- Lãnh đạo công nhân xung phong thi đua ái quốc và chuẩn bị tổng phản công.
- Đi đến tổ chức toàn thể lao động bằng đầu óc cũng như lao động bằng chân tay.
- Giúp đỡ và lãnh đạo nông dân về mọi mặt.
- Liên lạc mật thiết với công nhân thế giới, trước hết là với công nhân Trung Hoa và
công nhân Pháp.
Trong công việc kháng chiến và kiến quốc, trong sự nghiệp xây dựng nền dân
chủ mới, giai cấp công nhân phải là người lãnh đạo”.
Những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh đã cụ thể hoá mục tiêu chính trị của Đại hội là:
Công đoàn Việt Nam chiến đấu cho độc lập dân chủ và hoà bình.
Khẩu hiệu hành động là: “Động viên công nhân, viên chức cả nước, nhất là công
nhân ngành Quân giới sản xuất nhiều vũ khí, khí tài phục vụ cho kháng chiến chống
thực dân Pháp đến thắng lợi”
Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam gồm 21 uỷ
viên chính thức, 4 dự khuyết, trong đó đồng chí Tôn Đức Thắng được bầu làm Chủ
tịch danh dự; đồng chí Hoàng Quốc Việt, Uỷ viên Thường vụ Ban Chấp hành Trung
ương Đảng làm Chủ tịch, đồng chí Trần Danh Tuyên được bầu làm Tổng thư ký. Ban
Thường vụ Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam gồm có 5 đồng chí: Trần Danh
Tuyên, Nguyễn Hữu Mai, Hoàng Hữu Đôn, Nguyễn Duy Tính và Trần Quốc Thảo.
Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ I là sự kiện có ý nghĩa, đánh dấu sự
trưởng thành và lớn mạnh của phong trào công nhân và tổ chức Công đoàn Việt Nam.
Đồng thời Đại hội cũng xác định rõ vị trí, vai trò và nhiệm vụ của giai cấp công nhân
Việt Nam trong công cuộc kháng chiến kiến quốc.
2. Đại hội lần thứ II: diễn ra từ ngày 23/2/1961 đến 27/2/1961 tại Thủ đô Hà
nội.
Đại hội đề ra nhiệm vụ trong giai đoạn này là: “ Đoàn kết, tổ chức giáo dục
toàn thể công nhân viên chức phát huy khí thế làm chủ của quần chúng, làm cho quần
chúng mau chóng nắm đựơc kỹ thuật tiên tiến để hoàn thành thắng lợi sự nghiệp công
3

Thư ký.
4. Đại hội lần thứ IV: diễn ra từ ngày 8/5/1978 đến 11/5/1978 tại Thủ đô Hà
Nội.
Đại hội đã xác định nhiệm vụ của Công đoàn trong nhiệm kỳ mới là:
“Bồi dưỡng năng lực và phát huy quyền làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa của
công nhân, viên chức, dấy lên phong trào cách mạng rộng lớn thực hiện thắng lợi
đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, kết hợp xây dựng kinh tế quốc
phòng, thường xuyên nâng cao tinh thần cách mạng, sẵn sàng làm tròn nghĩa vụ bảo
vệ Tổ quốc; thực hiện đồng thời ba cuộc cách mạng; cách mạng về quan hệ sản xuất,
cách mạng khoa học kỹ thuật, cách mạng tư tưởng văn hoá, trong đó cách mạng khoa
học kỹ thuật là then chốt; tích cực hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở
miền Bắc và hoàn thành cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Nam; thi đua lao động, sản
xuất, cần kiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội, thi đua phục vụ nông nghiệp, thực hiện
4
công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa nước nhà, trước mắt là hoàn thành và hoàn thành
vượt mức kế hoạch 5 năm lần thứ hai (1976- 1980), chăm lo đời sống và bảo vệ lợi
ích chính đáng của công nhân, viên chức; ra sức đào tạo và bồi dưỡng cán bộ Công
đoàn; cải tiến tổ chức và phương pháp công tác nâng cao năng lực hoạt động, năng
lực tham gia quản lý kinh tế, tham gia vào công việc của Nhà nước và kiểm tra hoạt
động của Nhà nước; góp phần tăng cường đoàn kết và thống nhất của phong trào
công nhân và của lao động thế giới trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc,
chủ nghĩa thực dân cũ và mới và các thế lực phản động khác, vì quyền lợi của người
lao động, vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, và chủ nghĩa xã hội”
Khẩu hiệu hành động là: “Động viên giai cấp công nhân và những người lao
động khác thi đua lao động sản xuất, phát triển kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hoá
trong phạm vi cả nước”
Đại hội đã bầu BCH mới gồm 155 Uỷ viên. Đ/c Nguyễn Văn Linh, UV Bộ
Chính trị Trung ương Đảng được bầu làm Chủ tịch Tổng Công đoàn Việt Nam. Đ/c
Nguyễn Đức Thuận làm Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký.
5. Đại hội lần thứ V: diễn ra từ ngày 16/11/1983 đến ngày 18/11/1983 tại Thủ

Nguyễn Đức Thuận Uỷ viên BCH Trung ương Đảng làm Chủ tịch. Đ/c Phạm Thế
Duyệt làm Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Tổng Công đoàn Việt Nam.
6. Đại hội lần thứ VI: diễn ra từ ngày 17 đến 20/10/1988 tại Hà Nội
Đại hội đã xác định khẩu hiểu “Việc làm và đời sống, dân chủ và công bằng xã
hội” là mục tiêu trong hoạt động của công đoàn các cấp.
Công đoàn phải động viên công nhân, lao động đi đầu trong việc đổi mới cơ chế quản
lý kinh tế, thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới của Đảng, đồng thời kiên quyết đấu
tranh thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, công bằng xã hội.
Đại hội đã quyết định đổi tên Tổng Công đoàn Việt Nam thành Tổng Liên đoàn lao
động Việt Nam. Các chức danh Thư ký công đoàn gọi là Chủ tịch công đoàn, Đại hội
bầu đồng chí Nguyễn Văn Tư- Uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng
– làm Chủ tịch Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam.
Đại hội VI công đoàn là Đại hội đổi mới của phong trào công nhân và tổ chức công
đoàn Việt Nam.
Ngày 30/6/1990, Quốc hội khoá VIII, kỳ họp thứ 17 đã thông qua Luật công
đoàn. Luật này thay thế Luật công đoàn đã công bố ngày 5/11/1957.
7. Đại hội lần thứ VII: họp từ ngày 09 đến ngày 12/11/1993 tại Hà Nội.
Năm 1992, Quốc hội khoá VII kỳ họp thứ 11 đã thông qua Hiến pháp nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Điều 10 Hiến pháp 1992 quy định rõ về vai trò, vị trí của
tổ chức Công đoàn Việt Nam.
Đại hội đánh giá cao phong trào công nhân, viên chức lao động trong tất cả các
cơ sở sản xuất, kinh doanh, phục vụ an ninh và quốc phòng, các cơ quan quản lý,
nghiên cứu khoa học trong các trường học, bệnh viện, các đơn vị hành chính sự
nghiệp, đã góp phần xứng đáng vào những thành tựu chung của đất nước, tô thắm
thêm truyền thống yêu nước và cách mạng của giai cấp công nhân và tầng lớp tri thức
Việt Nam.
Nghị quyết Đại hội VII Công đoàn Việt Nam khẳng định “Trong bước ngoặt đầy thử
thách, giai cấp công nhân nước ta đã tỏ rõ bản lĩnh chính trị vững vàng, vượt qua mọi
khó khăn trong bước đầu chuyển sang cơ chế thị trường, hăng hái đi đầu trong công
cuộc đổi mới, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế xã hội, củng cố quốc

xác định như sau:
“Xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh, xứng đáng là lực lượng nòng cốt, đi
đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và vai trò lãnh đạo cách
mạng trong thời kỳ mới; củng cố và phát triển sâu rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc
trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trên cơ sở liên minh vững chắc giai cấp công nhân
với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức; tổ chức các phong trào thi đua yêu nước sôi
nổi, rộng khắp, thiết thực và có hiệu quả trong CNVC-LĐ; tham gia quản lý, chăm lo
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của CNVC-LĐ; đẩy mạnh phát triển
đoàn viên và tổ chức Công đoàn trong các thành phần kinh tế; nâng cao năng lực và
trình độ cán bộ công đoàn ; đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, xây dựng tổ
chức Công đoàn vững mạnh; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững
mạnh; mở rộng và tăng cường hợp tác quốc tế, góp phần xây dựng Đảng, Nhà nước
trong sạch, vững mạnh; mở rộng và tăng cường hợp tác quốc tế, góp phần thực hiện
thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ
quốc Việt Nam XHCN”
Khẩu hiệu hành động của tổ chức Công đoàn trong thời kỳ mới là:
“Xây dựng giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn vững mạnh, chăm lo bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của CNVC-LĐ, góp phần tăng cường đại
đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước.”
Đại hội đã bầu lại đ/c Cù Thị Hậu làm Chủ tịch Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam.
7
10.Đại hội lần thứ X: họp từ ngày 2 đến ngày 5/11/2008 tại Hà Nội
Mục tiêu, phương hướng hoạt động công đoàn trong 5 năm (2008-2013)
“Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của công đoàn các cấp; hướng về
cơ sở, lấy cơ sở làm địa bàn hoạt động chủ yếu, lấy đoàn viên, công nhân, viên chức
lao động làm đối tượng vận động; chuyển mạnh hoạt động công đoàn vào việc tổ
chức thực hiện chức năng đại diện, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp, chính đáng của
đoàn viên, công nhân, viên chức, lao động; xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn
định, tiến bộ; góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước”

hoạch 5 năm 1986-1990 không phải là đẩy mạnh đầu tư mà là đổi mới cơ chế quản lý
kinh tế.
Nhà nước đã có nhiều chính sách để từng bước xác lập cơ chế quản lý mới.
Trong nông nghiệp với cơ chế khoán theo hộ, hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ ở
nông thôn, đã tạo ra bước phát triển đáng kể về sản xuất lương thực. Từ chỗ lương
8


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status