Hợp đồng dịch vụ giá trị gia tăng theo pháp luật Viễn thông Việt Nam từ thực tiễn Vinaphone - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM HIẾU TRUNG

HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ GIÁ TRỊ GIA TĂNG THEO
PHÁP LUẬT VIỄN THÔNG VIỆT NAM TỪ
THỰC TIỄN VINAPHONE

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, Năm 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM HIẾU TRUNG

HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ GIÁ TRỊ GIA TĂNG THEO
PHÁP LUẬT VIỄN THÔNG VIỆT NAM TỪ
THỰC TIỄN VINAPHONE
Chuyên ngành

: Luật kinh tế

Mã số

: 838.01.07

2.1. Các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về hợp đồng dịch vụ giá tăng
trong lĩnh vực viễn thông .......................................................................................... 26
2.2. Đánh giá về thực trạng hợp đồng viễn thông giá trị gia tăng ............................. 50
CHƯƠNG 3. THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VÀ MỘT SỐ KIẾN
NGHỊ, GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIAO KẾT VÀ THỰC
HIỆN HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ GTGT TẠI VNPT VINAPHONE .......................... 60
3.1. Khái quát về hoạt động kinh doanh DVGTGT ở VNPT Vinaphone ................. 60
3.2. Kiến nghị và giải pháp nâng cao chất lượng thực hiện HĐ viễn thông GTGT
của VNPT Vinaphone ............................................................................................... 76
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC CHỮ VIÊT TẮT

ATTTM

: An toàn thông tin mạng

BLDS

: Bộ luật dân sự

CNTT

: Công nghệ thông tin

DVGTGT

: Dịch vụ giá trị gia tăng

DVGTGT đôi khi còn lúng túng, một số quy định tỏ ra không còn phù hợp với
hoàn cảnh đã thay đổi, một số quy định còn thiếu cần đươc bổ sung. Do đó, việc
nghiên cứu, làm sáng tỏ các quy định của pháp luật hiện hành đối với hợp đồng

1


DVGTGT trong lĩnh vực viễn thông để tìm ra những hạn chế, bất cập và hoàn
thiện chúng là một điều cần thiết.
Xuất phát từ những lý do trên, vấn đề Hợp đồng dịch vụ giá trị gia tăng theo
pháp luật Viễn thông Việt Nam từ thực tiễn Vinaphone được tôi lựa chọn nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Pháp luật Việt Nam hiện nay đã có các quy định về những vấn đề chung cho
các loại hợp đồng trong từng mối quan hệ xã hội. Trong lĩnh vực viễn thông cũng
vậy, Pháp luật Việt Nam đã có các quy định về chế định hợp đồng trong lĩnh vực
này, và cũng đã có các một số nghiên cứu chuyên sâu và chi tiết về các loại hợp
đồng theo mẫu nói chung từ các nhà nghiên cứu tại Việt Nam. Tuy nhiên, theo tìm
hiểu của tác giả, hiện nay hầu như chưa có công trình khoa học pháp lý nào nghiên
cứu về Hợp đồng DVGTGT trong lĩnh vực viễn thông theo quy định của pháp luật
Việt Nam. Bản thân chính các doanh nghiệp viễn thông hiện nay, cụ thể là Tổng
Công ty dịch vụ Viễn thông VNPT - Vinaphone cũng chỉ tìm hiểu và mới dừng ở
mức áp dụng các quy định của pháp luật để đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm
quyền về các hợp đồng viễn thông trước khi các mẫu hợp đồng được đưa đến tay
khách hàng. Các loại hợp đồng viễn thông nhìn chung vẫn chưa được nghiên cứu
dưới góc nhìn từ khách hàng, người sử dụng dịch vụ. Qua quá trình nghiên cứu,
cùng với thực tiễn công tác tại đơn vị kinh doanh DVGTGT của VNPT –
Vinaphone, tác giả cho rằng cần thiết phải có một nghiên cứu chuyên sâu về hợp
đồng dịch vụ giá trị gia tăng – loại hình dịch vụ đang ngày càng đa dạng và phổ
biến trong lĩnh vực viễn thông nhưng vẫn chưa có các bài viết và nghiên cứu
chuyên sâu, cụ thể. Ngoài ra, với sự thay thế của Hiến pháp năm 2013 và BLDS

Giới hạn trong các quy định của pháp luật hiện hành điều chỉnh về vấn đề này
cụ thể là BLDS 2015, Luật thương mại 2005, Luật viễn thông 2009, Luật công nghệ
thông tin 2006, Luật an toàn thông tin mạng 2015 và các văn bản hướng dẫn thi
hành và các văn bản pháp luật khác có liên quan;
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Cùng với việc sử dụng phương pháp luận chung nhất của phép biện chứng duy
vật, đề tài được thực hiện bằng việc sử dụng kết hợp các phương pháp
nghiên cứu chuyên ngành luật như phương pháp mô tả, phân tích, so sánh, tổng
hợp, chứng minh, thống kê…

3


5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận chung, phân tích, so sánh
được sử dụng chủ yếu để đánh giá, nhận xét về các quy định pháp luật hiện hành về
chế tài trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng viễn thông ở việt nam
hiện nay trong tương quan so sánh với các quy định trước đây. Ngoài ra, tác giả
cũng sử dụng phương pháp thống kê, phương pháp lịch sử để đánh giá sự phát triển
và những hạn chế cần khắc phục của pháp luật hiện hành.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa về lý luận
Từ phân tích và đánh giá các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về
hợp đồng dịch vụ giá trị gia tăng theo pháp luật viễn thông, luận văn trình bày
những điểm hợp lý cũng như những hạn chế, bất cập của pháp luật trong lĩnh vực
viễn thông hiện hành. Từ đó, luận văn đưa ra các kiến nghị để hoàn thiện các quy
định của pháp luật trong chế định hợp đồng này, đảm bảo tính pháp lý đúng đắn cho
việc ký kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ giá trị gia tăng trong lĩnh vực viễn thông.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn

DVGTGT thường là những dịch vụ phụ thuộc vào nó. Tên gọi giá trị gia tăng chính
là xuất phát từ tính chất gia tăng các giá trị cho các dịch vụ cơ bản mà nó phụ trợ.
Dịch vụ giá trị gia tăng là những dịch vụ bổ sung, tạo ra những giá trị phụ trội
thêm cho khách hàng, làm cho khách hàng có sự cảm nhận tốt hơn về dịch vụ cơ bản.
Mặc dù mang chức năng chính là phụ trợ cho các dịch vụ cơ bản, tuy nhiên
dich vụ giá trị gia tăng không phải là tương đồng hoàn toàn với các dịch vụ cơ bản.
Chúng có những đặc tính riêng, duy nhất và có liên quan tới các dịch vụ khác bởi
những cách hoàn toàn khác. Đồng thời chúng cung cấp cho khách hàng những lợi
ích mà các dịch vụ cơ bản không thể mang lại được.
Đặc điểm
Ngoài các đặc điểm cơ bản chung của dịch vụ: tính vô hình; tính không chia
cắt được; không ổn định về chất lượng; không lưu giữ được, mọi DVGTGT chia sẻ
cùng một số đặc điểm sau:
- Dịch vụ giá trị gia tăng được xây dựng dựa trên cơ sở vật chất và nguồn lực
vốn có trong việc cung cấp các dịch vụ cơ bản, nhằm hướng tới nâng cao khả năng

5


khai thác các nguồn lực vốn có đó, cũng như thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của
khách hàng, từ đó tạo ra được hiệu quả cao trong kinh doanh của Doanh nghiệp.
Với chức năng phụ trợ cho dịch vụ cơ bản, theo như đúng tên gọi của mình,
các DVGTGT tăng cường tính toàn diện cho dịch vụ cơ bản, qua đó gia tăng giá trị
cho nó.
- Độc lập về lợi nhuận với các dịch vụ cơ bản.
Trong một số trường hợp, một DVGTGT sẽ được cung cấp tới cho khách hàng
mà không phát sinh phí hoặc cước. Trong một số trường hợp khác, các DVGTGT sẽ
được cung cấp cho một khách hàng hiện tại với một khoản phí hoặc mức cước bổ
sung. Cơ cấu giá thực và mức phí hoặc cước phát sinh của các DVGTGT thường sẽ
phụ thuộc vào việc các nhà cung cấp coi các dịch vụ này như những tiện ích nhằm

nghệ hiện đại khác. Các dịch vụ viễn thông đầu tiên theo nghĩa này là điện báo và điện
thoại, sau dần phát triển thêm các hình thức truyền đưa số liệu, hình ảnh …
Như vậy, dịch vụ viễn thông nói chung là một tập hợp các hoạt động bao gồm
các nhân tố không hiện hữu, tạo ra chuỗi giá trị và mang lại lợi ích tổng hợp. Do đó,
thực thể dịch vụ viễn thông thường được phân làm 2 loại: dịch vụ cơ bản (dịch vụ
cốt lõi) và dịch vụ giá trị gia tăng (dịch vụ phụ thêm).
Dịch vụ cơ bản là dịch vụ chủ yếu của doanh nghiệp cung cấp cho thị trường.
Dịch vụ cơ bản thỏa mãn một loại nhu cầu nhất định vì nó mang lại một loại giá trị
sử dụng (hay là giá trị lợi ích) cụ thể. Dịch vụ cơ bản quyết định bản chất của dịch
vụ, nó gắn liền với công nghệ, hệ thống sản xuất và cung ứng dịch vụ. Nói một cách
cụ thể hơn viễn thông cơ bản là dịch vụ để kết nối và truyền tín hiệu số giữa các
thiết bị đầu cuối.
Các dịch vụ cơ bản của viễn thông bao gồm dịch vụ thoại và dịch vụ truyền số
liệu. Dịch vụ thoại bao gồm dịch vụ điện cố định, di động; Dịch vụ truyền số liệu
gồm: dịch vụ kênh thuê riêng, dịch vụ truyền dẫn tín hiệu truyền hình …
Dịch vụ giá trị gia tăng là những dịch vụ bổ sung, tạo ra những giá trị phụ trội
thêm cho khách hàng, làm cho khách hàng có sự cảm nhận tốt hơn về dịch vụ cơ
bản. Dịch vụ giá trị gia tăng của dịch vụ viễn thông là các dịch vụ làm tăng thêm
các giá trị thông tin của người sử dụng dịch vụ bằng cách khai thác thêm các loại
hình dịch vụ mới nhằm đáp ứng nhu cầu của người sử dụng dịch vụ.

7


Luật viễn thông hiện hành không nêu cụ thể định nghĩa của DVGTGT, tuy
nhiên, theo Pháp lệnh về Bưu chính, viễn thông 2002 có ghi “Dịch vụ giá trị gia
tăng là dịch vụ làm tăng thêm giá trị thông tin của người sử dụng dịch vụ bằng cách
hoàn thiện loại hình, nội dung thông tin hoặc cung cấp khả năng lưu trữ, khôi phục
thông tin trên cơ sở sử dụng mạng viễn thông hoặc Internet”[24, Điều 27]. Các
DVGTGT là tính năng làm tăng thêm tiện ích cho khách hàng ngoài các dịch vụ cơ

tái sản xuất. Từ đặc điểm này, về chất lượng dịch vụ viễn thông phải có yêu cầu tiêu
chuẩn cao nếu không sẽ ảnh hưởng trực tiếp ngay đến tiêu dùng. Hơn nữa, để sử
dụng dịch vụ viễn thông người sử dụng phải có mặt ở những địa điểm xác định của
nhà cung cấp dịch vụ hoặc nơi có thiết bị của nhà cung cấp dịch vụ.
Đặc điểm thứ ba: sư truyền dẫn, đưa tin tức rất đa dạng, nó xuất hiện không
đồng đều về không gian và thời gian. Thông thường, nhu cầu truyền đưa tin tức phụ
thuộc vào nhịp độ sinh hoạt của xã hội, vào những giờ ban ngày, giờ làm việc của
các cơ quan, doanh nghiệp, vào các kỳ hội, lễ tết thì lượng nhu cầu rất lớn. Trong
điều kiện yêu cầu phục vụ không đồng đều, để thoả mãn tốt nhu cầu của khách
hàng, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông phải dự trữ đáng kể năng lực
sản xuất và lực lượng lao động.
Đặc điểm thứ tư: đó là sự khác biệt so với các ngành sản xuất công nghiệp
thông thường khác, nơi mà đối tượng chịu sự thay đổi vật chất (về mặt vật lý, hoá
học,..), còn trong sản xuất viễn thông, thông tin là đối tượng lao động chỉ chịu tác
động dời chỗ trong không gian. Thậm chí, nếu thông tin trong quá trình truyền tải
nhờ các thiết bị viễn thông được biến đổi thành các tín hiệu thông tin điện, thì ở các
nơi nhận tín hiệu phải được khôi phục trở lại trạng thái ban đầu của nó. Mọi sự thay
đổi thông tin, đều có nghĩa là sự méo mó, mất đi giá trị sử dụng và dẫn đến tổn thất
lợi ích của khách hàng.
Đặc điểm thứ năm: là quá trình truyền dẫn thông tin và đưa tin tức luôn mang
tính hai chiều giữa người gửi và người nhận thông tin. Nhu cầu truyền đưa tin tức
có thể phát sinh ở mọi điểm dân cư, điều đó đòi hỏi phải hình thành một mạng lưới
cung cấp dịch vụ rộng khắp vàcó độ tin cậy.
Ngoài ra, do đặc điểm không hiện hữu (vô hình) của dịch vụ viễn thông nên
việc quản lý chất lượng và tính đồng bộ là rất khó khăn, đồng thời người sử dụng
dịch vụ cũng sẽ rất khó khăn trong việc đánh giá chất lượng dịch vụ. Để đánh giá

9



10


nên phổ cập và “nhàm chán” do chức năng thoại, nhắn tin đều có thể có thể sử dụng
được như nhau ở hầu hết các loại điện thoại không phân biệt giá tiền, kiểu dáng…
khiến cho nhu cầu sử dụng thoại qua dịch vụ di động của khách hàng dần dần tiễn
tới ngưỡng bão hòa. Do đó, việc đưa ra các DVGTGT trên điện thoại đến với thị
trường khiến cho khách hàng không chỉ được tận hưởng thêm các dịch vụ với nhiều
tính năng mới đáp ứng được các nhu cầu cá nhân cũng như phục vụ cho nhu cầu
công việc, xã hội… mà ngoài ra còn tận dụng được hết các tiện ích và chức năng mà
những chiếc điện thoại hiện đại – những thiết bị không ngừng phát triển và đổi mới
có thể hỗ trợ như dịch vụ VoD, Video Call…
Các dịch vụ giá trị gia tăng tăng hiệu quả trong công việc: ngày nay, với sự
thay đổi và tiến bộ không ngừng của khoa học công nghệ, việc sử dụng các
DVGTGT trong công việc, sẽ giúp cho khách hàng có thể dễ dàng trong việc quản
lý thời gian, quản lý công việc, rút ngắn khoảng cách địa lý, công sức và chi phí…
từ đó nâng cao được hiệu quả công việc.
- Đối với doanh nghiệp viễn thông:
Chất lượng dịch vụ giá trị gia tăng góp phần tăng khả năng cạnh tranh cho
các doanh nghiệp viễn thông: chất lượng các dịch vụ cơ bản (thoại và nhắn tin; tốc
độ truyền dẫn internet, dung lượng lưu trữ của hạ tầng database…) giữa các nhà
mạng đang gần như không có sự chênh lệch đáng kể khi các doanh nghiệp viễn
thông đều coi việc phát triển mạng lưới là kế hoạch căn bản ban đầu, là chiến lược
và là hoạt động quan trọng nhất trong quá trình phát triển của doanh nghiệp viễn
thông nói chung. Do đó, để tạo ra sự khác biệt nhằm giữ chân các khách hàng hiện
có và thu hút các khách hàng mới trong thị trường tham gia hoặc chuyển qua sử
dụng dịch vụ của doanh nghiệp mình, việc đưa ra các dịch vụ gía trị gia tăng hiệu
quả, đa dạng chính là định hướng đúng đắn với mục đích nâng cao khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp viễn thông.
Dịch vụ giá trị gia tăng nâng cao doanh thu cho nhà cung cấp. Trong tổng

chính của khách hàng, các dịch vụ giá trị gia tăng VAS đang nở rộ ở rất nhiều nơi
trên thế giới trong đó có Việt Nam. Các DVGTGT đang ngày càng đóng vai trò
quan trọng và chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng doanh thu của các nhà cung
cấp dịch vụ viễn thông. Điều đó chứng tỏ tầm quan trọng của loại hình sản phẩm
này, các nhà mạng không thể sống mà không có VAS. Song song với tỷ lệ đó là

12


mức doanh thu hàng năm khổng lồ mà các nhà khai thác mạng thu được; các dịch
vụ mới luôn nằm sẵn trên giấy chỉ chờ triển khai cho thấy sự phát triển rất mạnh mẽ
của loại hình này.
Xu thế phát triển DVGTGT là tất yếu của tất cả các doanh nghiệp kinh doanh
dịch vụ viễn thông trên thế giới nói chung, cũng như tại VN nói riêng. Khách hàng
không chỉ hướng đến sử dụng các dịch vụ cơ bản của viễn thông như thoại, nhắn
tin, truyền dẫn internet... Mà hiện tại nhu cầu sử dụng dịch vụ của người tiêu dùng
ngày càng tăng theo sự phát triển của công nghệ và xã hội.
1.1.2. Hợp đồng dịch vụ giá trị gia tăng trong lĩnh vực viễn thông
1.1.2.1. Khái niệm
Khái niệm về hợp đồng thương mại nói chung và khái niệm hợp đồng thương
mại dịch vụ không được quy định trong pháp luật thương mại Việt Nam. Điều này
có nghĩa là pháp luật của Việt Nam hiện hành không đưa ra khái niệm về hợp đồng
thương mại dịch vụ mà chỉ đưa ra khái niệm về hợp đồng dân sự, tại Điều 385
BLDS 2015 quy định: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập,
thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.”
Điều 3 Luật thương mại 2005 quy định: “Cung ứng dịch vụ là hoạt động thương
mại, theo đó một bên (gọi là bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho
bên khác và nhận thanh toán. Bên sử dụng dịch vụ (gọi là khách hàng) có nghĩa vụ
thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận.”
Từ khái niệm hợp đồng dân sự và khái niệm cung ứng dịch vụ, hợp đồng cung

điều kiện về chứng chỉ chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc chứng chỉ chứng nhận
đầu tư kinh doanh dịch vụ viễn thông; có đủ khả năng về tài tính, nhân lực phù hợp
với quy mô của các dự án; có phương án kỹ thuật, phương án kinh doanh khả thi
phù hợp với chiến lược, quy hoạch phát triển viễn thông quốc gia, các quy định về
tài nguyên viễn thông, kết nối, giá cước, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng
mạng và dịch vụ viễn thông; chuẩn bị đầy đủ các biện pháp bảo đảm an toàn cơ sở
hạ tầng viễn thông và an ninh thông tin.
Doanh nghiệp viễn thông có thể được chia thành 2 loại, bao gồm doanh nghiệp
cung cấp dịch vụ có hạ tầng mạng và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ không có hạ
tầng mạng.
- Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ có hạ tầng mạng:

14


Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ có hạ tầng mạng là doanh nghiệp nhà nước
hoặc doanh nghiệp mà vốn góp của Nhà nước chiếm cổ phần chi phối hoặc cổ phần
đặc biệt, được thành lập theo quy định của pháp luật để thiết lập hạ tầng mạng và
cung cấp dịch vụ viễn thông. sản phẩm của doanh nghiệp này là dịch vụ cho thuê
những yếu tố thuộc mạng viễn thông như đường truyền, cổng kết nối… khách hàng
là các công ty trong ngành hoặc ngoài ngành có nhu cầu.
Theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam, doanh nghiệp cung cấp dịch
vụ mạng phải là doanh nghiệp nhà nước hoặc doanh nghiệp mà vốn góp của Nhà
nước chiếm trên 50% mới được xem xét cấp giấy phép lập hạ tầng mạng và cung
cấp dịch vụ mạng.
- Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ không có hạ tầng: sản phẩm của doanh
nghiệp này là các dịch vụ viễn thông. Các quy định của pháp luật đối với những
doanh nghiệp này thường được nới lỏng hơn doanh nghiệp cung cấp dịch vụ có hạ
tầng mạng, tuy nhiên do bản chất là chỉ kinh doanh và phân phối các dịch vụ viễn
thông nên tính cạnh tranh giữa các doanh nghiệp này diễn ra gay gắt hơn rất nhiều.

trải nghiệm thử dịch vụ thông qua các kênh quảng bá dịch vụ phi truyền thống như
website, ứng dụng phần mềm hoặc các app trên thiết bị di động… Điều này làm cho
việc tiếp cận dịch vụ của khách hàng trở nên dễ dàng hơn, tuy nhiên cũng đòi hỏi
nhà cung cấp dịch vụ có các nền tảng và ứng dụng công nghệ thông tin phù hợp…
Các yếu tố có tính chất công nghệ thông tin vào việc ký kết và thực hiện các hợp
đồng thương mại điện tử cũng có tác động rất nhiều đến pháp luật về hợp đồng cung
cấp dịch vụ viễn thông.
Mục đích của hợp đồng:
Tùy thuộc vào mục đích sử dụng dịch vụ của khách hàng mà việc ký kết các
hợp đồng dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng có các mục tiêu khác nhau, tuy nhiên
tựu chung lại là 2 mục đích chính:
- Mục đích kinh doanh: khách hàng sử dụng dịch vụ cho hoạt động sản xuất và
kinh doanh, ví dụ như dịch vụ thư điện tử; chạy website nhằm bán hàng hoặc quảng
bá thương hiệu; xây dựng tổng đài chăm sóc khách hàng 1800, 1900; gửi tin nhắn
quảng cáo hoặc chăm sóc khách hàng; tìm kiếm tập khách hàng từ ứng dụng của
đơn vị cung ứng dịch vụ;…hướng tới các lợi ích dịch vụ mang lại nhằm mục đích
sinh lợi, và vì thế chủ thể thực hiện hợp đồng với mục đích này là các thương nhân.

16


- Mục đích tiêu dùng: khách hàng sử dụng dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng
hướng tới các lợi ích tiêu dùng hoặc nâng cao trải nghiệm dịch vụ, đa phần là các
như các dịch vụ giá trị tăng trên nền thoại như nhạc chờ, trả lời tự động, tin nhắn
thoại…
Là hợp đồng theo mẫu do doanh nghiệp viễn thông đăng ký
Hợp đồng là công cụ chủ yếu để xác lập quan hệ giữa các cá nhân, tổ chức
trong đời sống thường ngày và là một chế định điển hình trong pháp luật dân sự
nói riêng và pháp luật nói chung. Hợp đồng được giao kết hàng ngày, với nhiều
hình thức, giữa nhiều chủ thể khác nhau, trong nhiều lĩnh vực khác nhau và phong

loại chính tương ứng với từng lĩnh vực dân sự - kinh tế là hợp đồng dân sự và
hợp đồng thương mại. Các loại hợp đồng này có rất nhiều điểm chung và chủ yếu
được phân biệt bởi yếu tố chủ thế và mục đích giao kết. Theo đó, hợp đồng dân sự
được giao kết giữa các cá nhân với nhau hoặc giữa tổ chức với cá nhân vì mục đích
tiêu dùng, sử dụng hàng ngày. Ngược lại, hợp đồng thương mại được giao kết giữa
các tổ chức với nhau vì mục đích kinh doanh, sinh lợi. Hợp đồng dân sự và các
quy định pháp luật về hợp đồng dân sự vẫn được coi là nền tảng, khuôn mẫu để
xây dựng các loại hợp đồng thương mại – kinh tế khác.
Cũng với các điểm khác biệt về chủ thể và mục đích giao kết, hợp đồng
DVGTGT trong lĩnh vực viễn thông có thể được chia làm 2 loại: Hợp đồng thương
mại dịch vụ và hợp đồng hỗn hợp thương mại – dân sự.
1.2.1. Hợp đồng thương mại dịch vụ
Luật thương mại 2005 có quy định hoạt động thương mại là hoạt động nhằm
mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến
thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.
Theo đó, cung ứng dịch vụ là hoạt động thương mại, trong đó một bên (sau
đây gọi là bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác
và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ (sau đây gọi là khách hàng) có nghĩa vụ
thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận.
Pháp luật Việt Nam nhấn mạnh khía cạnh sinh lợi để nói lên tính chất của hoạt
động thương mại, sinh lợi không chỉ hiểu đơn thuần là lợi nhuận thông qua các con
số có thể nhìn thấy ngay lập tức, mà sinh lợi còn bao gồm cả lợi ích kinh tế và tăng

18


trưởng, phổ biến thương hiệu của các chủ thể kinh doanh khi họ tham gia hoạt động
thương mại.
Khi ký kết các hợp đồng thương mại, các bên trong hợp đồng sẽ thỏa thuận
với nhau dựa trên căn cứ là các quy định của pháp luật, nhằm quy định quyền và

dung quan hệ hợp đồng dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng cũng như các hợp đồng
dịch vụ trong dân sự thông thường, cũng là ghi nhận các quyền, nghĩa vụ của hai
bên chủ thể trong quá trình thực hiện hợp đồng.
Và cần nhấn mạnh lại rằng, trong đề tài này, tác giả sẽ không chú trọng đi sâu
và nghiên cứu hợp đồng viễn thông giá trị gia tăng dưới góc nhìn hợp đồng dân sự
với mục đích tiêu dùng mà chỉ hướng tới việc nghiên cứu hợp đồng viễn thông giá
trị gia tăng dưới góc nhìn là hợp đồng thương mại với mục đích kinh doanh sinh lợi
của các thương nhân.
1.3. Pháp luật điều chỉnh hợp đồng dịch vụ giá trị gia tăng trong lĩnh vực
viễn thông
Ngoài bản chất là một ngành kinh tế, viễn thông còn là một ngành kỹ thuật đòi
hỏi các yêu cầu đặc thù riêng, cả trước, trong và sau khi ký kết và thực hiện hợp
đồng. Vì vậy, các hợp đồng dịch vụ viễn thông (bao gồm cả dịch vụ cơ bản và
DVGTGT) chịu sự điều chỉnh của nhiều văn bản pháp luật từ chung nhất và cơ sở
nhất đến văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành.
1.3.1. Pháp luật dân sự
Pháp luật về hợp đồng hiện nay được quy định trong nhiều văn bản pháp luật
khác nhau như BLDS, Luật Thương mại, Luật Kinh doanh bảo hiểm…, tuy nhiên,
BLDS được coi là luật gốc quy định các vấn đề chung về hợp đồng, là nền tảng cho
pháp luật về hợp đồng, điều chỉnh các quan hệ hợp đồng được xác lập trên nguyên
tắc bình đẳng, tự nguyện, tự thoả thuận và tự chịu trách nhiệm.
Các quy định về hợp đồng trong BLDS được áp dụng chung cho tất cả các loại
hợp đồng, không phân biệt hợp đồng dân sự hay hợp đồng kinh tế, hợp đồng có mục
đích kinh doanh hay hợp đồng nhằm đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt hàng ngày. Trên
cơ sở các quy định chung về hợp đồng của BLDS, tuỳ vào tính chất đặc thù của các
mối quan hệ hoặc các giao dịch, các luật chuyên ngành có thể có những quy định
riêng về hợp đồng để điều chỉnh các mối quan hệ trong lĩnh vực đó, ví dụ như các
quy định về hợp đồng mua bán hàng hoá trong Luật Thương mại, hợp đồng bảo

20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status