VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐINH THỊ KIỀU OANH
ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP THEO
PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - năm 2018
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐINH THỊ KIỀU OANH
ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP THEO
PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên nghành : Luật kinh tế
Mã số
: 838.01.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN NHƯ PHÁT
Tác giả luận văn
Đinh Thị Kiều Oanh
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU.................................................................................................................. 1
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐĂNG KÝ DOANH
NGHIỆP..................................................................................................................7
1.1..................................................................................................................... Tổ
ng quan về Doanh nghiệp và Đăng ký doanh nghiệp...................................7
1.2..................................................................................................................... Kh
ái niệm, bản chất của đăng ký doanh nghiệp...............................................8
1.3..................................................................................................................... Nh
u cầu và mục đích của đăng ký doanh nghiệp..............................................14
1.4.
Pháp luật về đăng ký doanh nghiệp và hoạt động đăng ký nghiệp ở một
số
nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam...........................................................25
CHƯƠNG 2. THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP VÀ
THỰC TIỄN THI HÀNH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG...........30
2.1....................................................Thực trạng pháp luật về đăng ký kinh doanh
..................................................................................................................... 30
2.2.
Thực tiễn thi hành pháp luật về đăng ký doanh nghiệp trên địa bàn
Thành phố
Đà Nẵng..................................................................................................................36
CHƯƠNG 3. CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC THỰC THI
CMND
: Chứng minh nhân dân
DN
ĐKDN
: Doanh nghiệp
: Đăng ký doanh nghiệp
ĐKKD
: Đăng ký kinh doanh
DNTN
: Doanh nghiệp tư nhân
DNXH
: Doanh nghiệp xã hội
ĐHĐCĐ
: Đại hội đồng cổ đông
GCNĐKDN
HĐTV
TNHH 2TV
: Trách nhiệm hữu hạn hai thành viên
VPĐD
: Văn phòng đại diện
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày 29/11/2005 Luật Doanh nghiệp 2005 có hiệu lực, cộng đồng doanh
nghiệp đã có sự phát triển mạnh mẽ. Số lượng doanh nghiệp thành lập tăng kéo theo
sự gia tăng nhanh chóng về khối lượng công việc của đăng ký doanh nghiệp
(ĐKDN) cũng như yêu cầu quản lý về ĐKDN. Ngày 26/11/2014, Luật Doanh
nghiệp năm 2014 được Quốc Hội thông qua. Với việc Luật Doanh nghiệp năm 2014
được thông qua, các quy định pháp luật đối với hoạt động ĐKDN có nhiều thay đổi
1
cần được đưa ra xem xét và kiến giải. Hiện nay việc thực thi pháp luật về ĐKKD
doanh nghiệp nói chung có nhiều cải thiện nhưng vẫn còn rất nhiều bất cập, hạn chế,
chưa đáp ứng được yêu cầu hội nhập. Cụ thể là: Hệ thống văn bản pháp luật về
ĐKDN chưa đồng bộ; có nhiều chủ thể có thẩm quyền thành lập và đăng ký các loại
hình doanh nghiệp khác nhau; có sự chồng chéo trong quản lý đối với ĐKDN giữa
các loại hình doanh nghiệp (doanh nghiệp trong nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài); việc phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong đối với ĐKDN còn
nhiều tồn tại.
Chính vì vậy việc thực thi pháp luật đối với ĐKDN đã và đang gặp rất nhiều
khó khăn với nhiều lý do cả khách quan và chủ quan. Thực tế hiện nay tình trạng
cường hiệu quả việc thực thi có vai trò vô cùng quan trọng, mang tính cấp thiết.
Xuất phát từ các yêu cầu trên, học viên đã đã mạnh dạn lựa chọn đề tài:
“Đăng ký Doanh nghiệp theo Pháp luật Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Đà
Nẵng”để nghiên cứu và làm Luận văn Thạc sĩ luật học, với mong muốn đóng góp
một số ý kiến và quan điểm cho quá trình sửa đổi và hoàn thiện trong thời gian sắp
tới.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm qua việc nghiên cứu, tổng kết vấn đề pháp luật về ĐKDN
nói chung đã được một số tác giả tiến hành. Ở mỗi một góc độ khác nhau cách thức
nghiên cứu, đánh giá về Luật Doanh nghiệp 2014 cũng là không giống nhau. Chính
vì vậy, tùy theo ý niệm chủ quan của từng tác giả dù là cùng một vấn đề nhưng cách
phân tích, nhìn nhận luôn mang tính cá nhân. Có rất nhiều bài viết đánh giá, phân
tích về từng nội dung đổi mới của Luật Doanh nghiệp 2014, so sánh Luật Doanh
nghiệp 2005 và Luật Doanh nghiệp 2014 về quy định nào đó của pháp luật, nghiên
cứu về sự bất cập mới phát sinh của Luật Doanh nghiệp 2014 hay đưa ra những định
hướng chủ quan góp phần hoàn thiện hơn các quy định của pháp luật về điều kiện và
thủ tục thành lập doanh nghiệp.Tuy nhiên, lĩnh vực thực thi pháp luật đối với ĐKDN
chưa có nhiều tác giả quan tâm. Do đó đây là một đề tài nghiên cứu mang tính tiên
phong và thực tiễn cao góp phần xây dựng cơ sở lý luận về thực thi về pháp luật
ĐKDN trên địa bàn TP Đà Nẵng. Luận văn còn chỉ ra những điểm còn bất cập, hạn
chế trong các quy định hiện hành về đăng ký doanh nghệp.
Cụ thể:
3
- Luận văn thạc sĩ quản lý công “Hoàn thiện công tác đăng ký kinh doanh ở
Việt Nam đến năm 2020”. Người thực hiện Nguyễn Thị Việt Anh, Người hướng dẫn
GS.TS. Lars-Torsten Eriksson, TS. Nguyễn Thùy Anh. 2013 Đại học kinh tếĐHQGHN.
- Bài viết của PGS.TS Phan Huy Hồng: “Vấn đề đăng ký ngành, nghề kinh
- Đánh giá, tìm ra những hạn chế bất cập của pháp luật về xây dựng, thực
hiện đăng ký thành lập doanh nghiệp.
Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần đổi, mới hoàn thiện hệ thống pháp
luật doanh nghiệp nói chung, đăng ký thành lập doanh nghiệp nói riêng, đồng thời
nâng cao hiệu quả của hoạt động đăng ký thành lập doanh nghiệp trong thực tiễn
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn lấy các quan điểm khoa học pháp lý của Luật doanh nghiệp, các qui
phạm pháp luật doanh nghiệp liên quan đến đề tài:“ Đăng ký Doanh nghiệp theo
Pháp luật Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Đà Nẵng”để nghiên cứu vấn đề thuộc nội
dung luận văn.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dưới góc độ pháp Luật doanh nghiệp và giới hạn ở
góc độ đăng ký thành lập doanh nghiệp theo luật doanh nghiệp 2014.
Thời gian nghiên cứu và không gian nghiên cứu:
Dữ liệu thu thập theo các tài liệu tham khảo và thực tiễn.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lê Nin; Phương pháp luận duy vât
biện chứng và duy vật lịch sử, quan điểm của Đảng, Nhà nước và tư tưởng Hồ Chí
Minh về nhà nước và pháp luật. Việc sử dụng các phương phấp tiếp cận và giải
quyết vấn đề của tôi là luôn luôn có sự kết hợp giữa lý luận và thực tiễn. Tìm hiểu
những quy định của pháp luật trên cơ sở xem xét thực tế áp dụng chúng.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp cụ thể mà tác giả sử dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài
này đó là:
5
7. Bố cục luận văn
Luận văn được kết cấu ra thành ba phần gồm lời mở đầu, nội dung chính và
kết luận. Phần nội dung chính tác giả bố cục thành ba chương theo hướng đi từ
những vấn đề chung mang tính khái quát đến những vấn đề cụ thể hơn. Chi tiết ba
chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về đăng ký doanh nghiệp;
Chương 2: Thực thi pháp luật về đăng ký doanh nghiệp trên và thực tiễn thi
hành trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng.
Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả việc thực thi pháp luật về đăng
ký kinh doanh.
7
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ
ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP
1.1.
Tổng quan về Doanh nghiệp và Đăng ký doanh nghiệp
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch
ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực
hiện các hoạt động kinh doanh. Đó là qúa trình thực hiện một cách liên tục, một số
hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm
hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích để sinh lợi. Như vậy, Doanh
nghiệp là tổ chức kinh tế vị lợi, mặc dù thực tế, một số tổ chức doanh nghiệp có các
hoạt động không hoàn toàn nhằm mục tiêu lợi nhuận.
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Chính vì vậy Luật doanh nghiệp 2014 đã có
những chỉnh sửa một cách hợp lý hơn về khái niệm Doanh nghiệp.
Chính vì vậy, việc lựa chọn một hình thức doanh nghiệp phù hợp với tính
chất kinh doanh, quy mô ngành nghề kinh doanh và khả năng người bỏ vốn thành
lập công ty là vô cùng quan trọng, có tác động tới sự tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp về sau.
Các loại hình doanh nghiệp cơ bản hiện nay là:
- Doanh nghiệp Nhà nước: Là Doanh nghiệp có vốn đầu tư 100% từ Nhà
nước, hoạt động phát triển kinh tế nhằm thực hiện các mục tiêu của xã hội do Nhà
nước quản lý.
- Doanh nghiêp tư nhân: Là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của một cá
nhân, do cá nhân đó đứng ra tổ chức thành lập daonh nghiệp, quản lý và chịu trách
nhiệm về pháp lý.
- Doanh nghiệp chung vốn hay công ty : Là loại hình doanh nghiệp do nhiều
thành viên góp chung vốn để kinh doanh, cùng chia sẻ lợi nhuận cũng như cùng chịu
lỗ.
1.2.
Khái niệm, bản chất của đăng ký doanh nghiệp
Đăng ký doanh nghiệp (ĐKDN) là một thủ tục do pháp luật quy định nhằm
khai sinh về mặt pháp lý cho doanh nghiệp; khi đó, doanh nghiệp được nhà nước
thừa nhận và bảo hộ kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
Theo đó, Đăng ký doanh nghiệp là việc người thành lập doanh nghiệp đăng
ký thông tin về doanh nghiệp dự kiến thành lập, doanh nghiệp đăng ký những thay
đổi hoặc dự kiến thay đổi trong thông tin về ĐKDN với cơ quan đăng ký kinh doanh
và được lưu giữ tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về ĐKDN.
ĐKDN bao gồm: Đăng ký thành lập doanh nghiệp; đăng ký thay đổi nội
quan Nhà nước;
của cơ quan quản
Là nghĩa vụ của Nhà
lý Nhà nước;
nước bảo hộ quyền sở
2 Thủ tục
-
hữu đối với tên doanh
Giấy
đề nghị ĐKDN;
nghiệp.
-
Là quyền cho phép
(xin - cho).
-
Hồ sơ xin cấp/ đề
nghị được cấp giấy
phép kinh doanh;
-
ghi
GCNĐKDN
4
Quyền
của
trong thẩm quyền ghi vào giấy
phép kinh doanh
Nhà Nếu có đủ hồ sơ hợp lệ cơ Nếu có đủ hồ sơ hợp lệ,
nước
quan Nhà nước phải cấp đủ điều kiện nhưng cơ
GCNĐKDN
nghiệp.
cho
doanh quan Nhà nước vẫn có thể
từ chối để bảo vệ lợi ích
của cộng đồng, có thể hạn
chế số lượng.
Theo đó, mỗi doanh nghiệp được cấp một mã số duy nhất gọi là mã số doanh
nghiệp; mã số này đồng thời là mã số thuế của doanh nghiệp.
chính, kề hoạch kinh doanh, trụ sở, nhà xưởng, dây chuyền sản xuất, thiết bị kỹ
thuật, đội ngũ nhân công, nhà quản lý v.v...Đây thực sự là những công việc quan
trọng mang tính nền tảng, tiền đề, và quyết định rất nhiều tới sự thành công của
doanh nghiệp sau khi được thành lập. Ở một số quốc gia trên thế giới như Singapore,
Anh quốc, trên các websites của chính phủ như www.enterprision.gov.sg hay
www,gov.uk/set-up-business-uk, từ việc lập kế hoạch kinh doanh (đưa ra một danh
sách gợi ý những công việc phải làm trước khi khởi sự kinh doanh, ví dụ: nghiên
cứu thị trường, viết kế hoạch kinh doanh, xây dựng kế hoạch tài chính, chọn tên kinh
doanh, tìm kiếm cơ sở kinh doanh v.v...); bắt đầu hoạt động kinh doanh (lựa chọn
một mô hình doanh nghiệp phù hợp, trình tự, thủ tục ĐKDN, đăng ký thuế,v.v...)và
phát triển công việc kinh doanh đều được hướng dẫn cụ thể cho doanh nghiệp có thể
dễ dàng tiếp cận, tra cứu thông tin, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hiện thực hóa kế
hoạch kinh doanh của mình.
Dưới góc độ pháp lý: Đăng ký thành lập doanh nghiệp được hiểu là thủ tục
pháp lý được thực hiện tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để công khai hoá việc
xác lập tư cách pháp lý cho doanh nghiệp mà nhà đầu tư bỏ vốn thành lập. Như vậy,
sau khi lập kế hoạch kinh doanh và xác định loại hình doanh nghiệp dự định thành
lập, nhà đầu tư sẽ phải chuẩn bị những giấy tờ cần thiết mà Nhà nước yêu cầu như:
Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp, văn bản xác nhận vốn pháp định, chứng chỉ
hành nghề, giấy phép kinh doanh, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, dự thảo
điều lệ, danh sách thành viên v.v... Những giấy tờ nói trên đều được thể hiện trong
bộ hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp và có giá trị thẩm định, kiểm tra về khả
năng quản lý, định hướng phát triển doanh nghiệp, năng lực của nhà đầu tư cũng như
tiềm lực tài chính để hoạt động hiệu quả trong nền kinh tế thị trường, đủ sức cạnh
tranh mang lại sản phẩm có lượng cao cho xã hôị. Ở đây, theo quy định tại Điều 8
khoản 7 Luật doanh nghiệp 2014, người đăng ký thành lập doanh nghiệp phải chịu
trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của nội dung hồ sơ đăng ký thành lập
doanh nghiệp, trong khi đó, cơ quan đăng ký kinh doanh (CQĐKKD) sẽ phải chịu
phải nằm trong khuôn khổ của luật doanh nghiệp 2014. Cơ quan đăng ký kinh doanh
chỉ chịu trách nhiệm về tính hợp lệ của hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp, không
chịu trách nhiệm về những vi phạm pháp luật xảy ra trước và sau đăng ký doanh
nghiệp. Khi các thông tin và tài liệu đăng ký doanh nghiệp là phù hợp và không trái
với luật doanh nghiệp thì cơ quan đăng ký kinh doanh không được từ chối cấp Giấy
chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho doanh nghiệp. Ngoài ra, để đảm bảo quyền tự
do kinh doanh, thành lập doanh nghiệp, một nhiệm vụ của Nhà nước là phải đáp
ứng, bảo đảm các điều kiện cho doanh nghiệp thực hiện quyền tự do kinh doanh
như: Mở rộng kinh doanh, chọn mô hình đa dạng, phong phú, thủ tục đăng ký thành
lập doanh nghiệp đơn giản, nhanh gọn, quy định rõ ràng, minh bạch về ngành nghề
cấm và không cấm, ngành nghề kinh doanh có điều kiện để được kinh doanh.
Khi CQĐKKD đáp ứng được các điều kiện này, đồng nghĩa với việc Nhà
nước đã tạo ra môi trường minh bạch và thuận lợi cho các nhà đầu tư thực hiện đầy
đủ quyền tự do kinh doanh của mình cũng như tôn trọng quyền tự định đoạt của
doanh nghiệp, tạo khả năng thuận lợi cho sự khởi nghiệp kinh doanh của doanh
nghiệp.
1.3. Nhu cầu và mục đích của đăng ký doanh nghiệp
Việc đăng ký doanh nghiệp nói riêng và thành lập doanh nghiệp nói chung có
một ý nghĩa hết sức quan trọng không chỉ với sự hình thành công ty mà còn với cả
sự ổn định và phát triển của công ty trong suốt quá trình tồn tại của nó. Điều đó được
thể hiện rõ ở những điểm sau:
Thứ nhất, đăng ký doanh nghiệp là quá trình đánh dấu sự ra đời của một
doanh nghiệp được pháp luật thừa nhận như một thực thể tham gia vào nền kinh tế
với đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình;
Thứ hai, nó đánh dấu việc kết thúc một quá trình thảo luận, đi đến thống nhất
giữa các sáng lập viên và mở ra sự công nhận của pháp luật với sự bàn bạc, thảo luận
đó. Các thành viên sáng lập sẽ chịu sự ràng buộc doanh nghiệp và trách nhiệm về tài
sản đối với doanh nghiệp;
Với ý nghĩa nêu trên có thể thấy, pháp luật về đăng ký thành lập doanh
nghiệp có những đặc trưng cơ bản sau đây:
Thứ nhất, pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp chịu ảnh hưởng và
chi phối bởi sự lựa chọn của nhà nước trong việc thực hiện quyền tự do thành lập
doanh nghiệp. Khẳng định như vậy bởi lẽ: Nhà nước với tư cách là đại diện của
quyền lực công nên Nhà nước có quyền phân bổ và điều chỉnh doanh nghiệp cho các
mục tiêu kinh tế, xã hội. Trên cơ sở đó Nhà nước có quyền phân định các chủ thể, trụ
sở, đất đai... Cho các mục đích khác nhau theo ý đồ của Nhà nước trên cơ sở giải
quyết hài hòa lợi ích “ công” của Nhà nước và xã hội và lợi ích “ tư” của các chủ thể
kinh doanh.
Thứ hai, pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp là hệ thống pháp luật
rộng lớn bao gồm nhiều mảng pháp luật khác nhau bao gồm cả pháp luật chung và
pháp luật chuyên ngành. Theo đó, pháp luật doanh nghiệp điều chỉnh đăng ký thành
lập doanh nghiệp tổng thể, pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp của các
ngành điều chỉnh doanh nghiệp trong nội bộ ngành và lĩnh vực của mình trên cơ sở
phù hợp với luật chung.
Thứ ba, pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp mang tính ổn định
tương đối trong một khoảng thời gian nhất định và chúng thay đổi theo nhiệm vụ
phát triển kinh tế xã hội ở mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ khác nhau.
Thứ tư, pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp mang tính bắt buộc đối
với các chủ thể tham gia vào quan hệ quản lý và thành lập doanh nghiệp phải chấp
hành khi cấp giấy phép kinh doanh và tổ chức hoạt động kinh doanh.
Các điều kiện đăng kỷ kinh doanh
Điều kiện về chủ thể: Điều kiện về chủ thể thành lập doanh nghiệp:
Người thành lập doanh nghiệp là tổ chức, cá nhân thành lập hoặc góp vốn để
thành lập doanh nghiệp.
Theo đó, Mọi cá nhân, tổ chức có quyền thành lập doanh nghiệp; quản lý
doanh nghiệp và được Nhà nước bảo hộ trừ các đối tượng không được thành lập và
cứu khoa học tư, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
- Làm tư vấn cho doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân khác ở trong nước và nước
ngoài về các công việc có liên quan đến bí mật nhà nước, bí mật công tác, những
công việc thuộc thẩm quyền giải quyết của mình hoặc mình tham gia giải quyết;
- Kinh doanh trong lĩnh vực mà trước đây mình có trách nhiệm quản lý sau
khi thôi giữ chức vụ trong một thời hạn nhất định theo quy định của Chính phủ;
- Luật phá sản 2014 Điều 130 cũng quy định các trường hợp cấm đảm nhiệm
chức vụ sau khi doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản dưới đây, trừ trường
hợp doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản với lý do bất khả kháng:
1. Người giữ chức vụ Chủ tịch, Tổng giám đốc, Giám đốc, thành viên Hội
đồng quản trị của doanh nghiệp 100% vốn nhà nước bị tuyên bố phá sản không được
đảm đương các chức vụ đó ở bất kỳ doanh nghiệp nhà nước nào kể từ ngày doanh
nghiệp 100% vốn nhà nước bị tuyên bố phá sản.
2. Người đại diện phần vốn góp của Nhà nước ở doanh nghiệp có vốn nhà
nước mà doanh nghiệp đó bị tuyên bố phá sản không được đảm đương các chức vụ
quản lý ở bất kỳ doanh nghiệp nào có vốn của Nhà nước.
3. Người giữ chức vụ quản lý của doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá
sản mà cố ý vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 18, khoản 5 Điều 28, khoản 1 Điều
48 của Luật Phá sản 2014 thì Thẩm phán xem xét, quyết định về việc không được
quyền thành lập doanh nghiệp, hợp tác xã, làm người quản lý doanh nghiệp, hợp tác
xã
trong thời hạn 03 năm kể từ ngày Tòa án nhân dân có quyết định tuyên bố phá sản.
[16]
Đối với quyền góp vốn: Tổ chức, cá nhân có quyền góp vốn, mua cổ phần,
mua phần vốn góp trừ trường hợp: (i) Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân
sử dụng tài sản nhà nước góp vốn vào DN để thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;
(ii) Các đối tượng không được góp vốn vào doanh nghiệp theo quy định của pháp
luật về cán bộ, công chức.