Pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn tỉnh Thừa Thiên Huế - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
------

NGUYỄN TIẾN DŨNG

PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG
KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT
TỪ THỰC TIỄN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
------

NGUYỄN TIẾN DŨNG

PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG
KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT
TỪ THỰC TIỄN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số
: 838.01.07


của tôi, được hoàn thành sau quá trình học tập và nghiên cứu thực tiễn, với sự
hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Bùi Nguyên Khánh.
Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ
ràng. Các phân tích, lập luận, đánh giá được đưa ra trên quan điểm cá nhân sau
khi nghiên cứu.
Luận văn không sao chép, không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu khoa học
đã được công bố nào.
Tác giả

Nguyễn Tiến Dũng


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ......................................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NỘI DUNG BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT .............................................................................. 8
1.1. Tổng quan về bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất .................................. 8
1.2. Nội dung về bồi thường thiệt hại khi Nhà nước tiến hành thu hồi đất ................... 14
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG KHI NHÀ
NƯỚC THU HỒI ĐẤT TỪ THỰC TIỄN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ ................. 27
2.1. Quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất tại tỉnh
Thừa Thiên Huế ............................................................................................................. 27
2.2. Thực tiễn thực thi pháp luật về bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất
của tỉnh Thừa Thiên Huế ............................................................................................... 42
CHƯƠNG 3. PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TẠI TỈNH
THỪA THIÊN HUẾ .................................................................................................... 60
3.1. Phương hướng hoàn thiện và dự báo tình hình thu hồi đất, giải phóng mặt bằng
trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế thời gian tới ............................................................. 60
3.2. Giải pháp hoàn thiện ............................................................................................... 65


: Nhà đầu tư

PTQĐ

: Phát triển quỹ đất

QSDĐ

: Quyền sử dụng đất

SDĐ

: Sử dụng đất

TĐC

: Tái định cư

THĐ

: Thu hồi đất

TN&MT

: Tài nguyên và Môi trường

UBND

: Ủy ban nhân dân

bàn giao mặt bằng bởi công tác bồi thường, hỗ trợ TĐC còn nhiều bất cập. Tại một số
địa phương cấp huyện, việc xác định loại đường, vị trí để áp giá các loại đất trên cơ sở
khung giá của UBND tỉnh còn tuỳ tiện, không phù hợp với giá chuyển nhượng thực tế,
1


gây bất bình đối với một bộ phận người dân có đất bị thu hồi. Một số cán bộ làm công
tác GPMB không được đào tạo nghiệp vụ, không nghiên cứu các văn bản pháp luật
hiện hành, nên việc đề xuất giá bồi thường còn lúng túng, thiếu hợp lý. Như vậy, vấn
đề đặt ra là, công tác THĐ, GPMB phải tính toán như thế nào để hạn chế đến mức thấp
nhất thiệt hại cho người dân, đảm bảo cuộc sống họ sau khi bồi thường được ổn định.
Đây đã và đang là một vấn đề mang tính thời sự cấp bách, đòi hỏi được sự quan tâm và
nỗ lực của nhiều cấp, nhiều ngành, mọi tổ chức, cá nhân và xã hội.
Để giải quyết vấn đề trên, lãnh đạo tỉnh bên cạnh việc quán triệt, triển khai thực
hiện nghiêm túc các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về
THĐ, GPMB đã xây dựng, ban hành các văn bản, chính sách về đền bù thiệt hại cho
người dân khi THĐ tại địa phương để thực hiện các dự án phát triển KT-XH, đồng
thời thành lập Ban Chỉ đạo GPMB do đồng chí Bí thư Tỉnh ủy làm Trưởng ban nhằm
giải quyết hiệu quả, thỏa đáng các vấn đề nảy sinh trong thực hiện công tác THĐ,
GPMB. Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc thiết lập, vận hành hoạt động của
BCĐ, song việc thực thi các chính sách, văn bản về đền bù do THĐ, GPMB vẫn còn
bộc lộ những bất cập, hạn chế nhất định, chưa theo kịp tình hình phát triển KT-XH
trong giai đoạn hiện nay, nhất là mức giá bồi thường đối với đất đai và tài sản trên đất
đối của người dân bị thiệt hại, ảnh hưởng.
Do đó, việc nghiên cứu sâu hơn pháp luật về BTTH khi Nhà nước THĐ nhằm
hoàn thiện hơn nữa cơ sở pháp lý cho việc định giá đất đai theo hướng cân đối hài hòa
lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân, đáp ứng yêu cầu và quyền lợi của
người dân bị THĐ và bị thiệt hại về tài sản trên đất đang đặt ra như một nhu cầu cấp
thiết. Xuất phát từ tình hình trên, học viên đã mạnh dạn chọn vấn đề “Pháp luật về bồi
thường khi nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn tỉnh Thừa Thiên Huế” làm luận văn Thạc

Redress Mechanisms” (Cơ chế Nhà nước THĐ và chuyển dịch đất đai tự nguyện ở
Việt Nam: Phương pháp tiếp cận, định giá đất và giải quyết khiếu nại của dân). Trong
đó đề cập nội dung chuyển dịch đất đai bắt buộc (Nhà nước giao đất và THĐ), chuyển
dịch đất đai tự nguyện (các NĐT trực tiếp nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của
người đang sử dụng đất) ở Việt Nam. Ngân hàng Thế giới khuyến nghị: (i) Hoàn thiện
chính sách Nhà nước THĐ và cơ chế chuyển dịch đất đai tự nguyện ở Việt Nam với
các nội dung: Đề xuất đổi mới, điều chỉnh cơ chế chuyển dịch đất đai tự nguyện, bắt
buộc; xác định giới hạn cơ chế chuyển dịch đất đai bắt buộc và chuyển dịch đất đai tự
nguyện; các biện pháp tăng hiệu quả của triển khai thực tế; (ii) Hoàn chỉnh quy định
của pháp luật về định giá đất áp dụng cho bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, bao gồm:
Quy định về phương pháp định giá đất phù hợp với thị trường; hoàn chỉnh hệ thống
3


khung pháp luật cho hoạt động cung cấp dịch vụ định giá đất; bổ sung quy định về
trình tự, thủ tục thực hiện định giá đất, quyết định về giá đất làm cơ sở cho việc bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư; (iii) Nâng cao hiệu quả giải quyết bức xúc, khiếu nại về
THĐ, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, với các nội dung: Thực hiện cơ chế độc lập
giải quyết các khiếu nại hành chính về THĐ và thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư để áp dụng cho các dự án đầu tư; sửa đổi, bổ sung cần thiết đối với quy định pháp
luật và thực thi pháp luật về giải quyết khiếu nại hành chính trong quản lý đất đai.
Phạm Duy Nghĩa có bài viết “Giải quyết tranh chấp trong THĐ nông
nghiệp”trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 14/2014. Tác giả đề cập, Luật Đất đai
năm 2013 đã quy định rõ các lý do THĐ và thắt chặt quy trình thu hồi, nhưng đạo Luật
này vẫn giành cho Nhà nước quyền ấn định giá đất, khi đền bù thì giá này là cơ sở để
tính tiền bồi thường. Vì vậy, vẫn đưa đến tranh chấp và khiếu kiện bởi cùng một khu
vực đền bù nhưng giá đền bù khác nhau do giá đất ấn định theo địa giới hành chính.
Tuy Luật Đất đai năm 2013 đã hoàn thiện hơn, nhưng vẫn chưa giải quyết hoàn toàn
mối quan hệ hài hòa giữa Nhà nước, NĐT và người sử dụng đất. Lượng đơn thư khiếu
nại về THĐ, bồi thường giải phóng mặt bằng không giảm so với trước thời điểm Luật

định cư tại chỗ trong thời gian chờ bố trí tái định cư, hỗ trợ đối với trường hợp giá trị
nhà đất tại khu tái định cư lớn hơn giá trị đất bị thu hồi theo hướng hỗ trợ kinh phí xây
dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư; (vi) Nghiên cứu, đề xuất ban hành chính
sách khuyến khích NĐT tự nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn
bằng quyền sử dụng đất để thực hiện các dự án đầu tư.
Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu chuyên biệt về BTTH
đối với đất đai và tài sản trên đất khi Nhà nước THĐ tại địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế. Đây là lần đầu tiên vấn đề này được đặt ra nghiên cứu một cách toàn diện với tư
cách là một luận văn thạc sĩ.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn là nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về BTTH khi Nhà nước THĐ;
phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về bồi thương thiệt hại khi Nhà nước THĐ và
thực tiễn thực thi của tỉnh Thừa Thiên – Huế; để từ đó đề xuất các phương hướng, giải
pháp hoàn thiện pháp luật về về BTTH khi Nhà nước THĐ ờ nước ta hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu kể trên, luận văn có các nhiệm vụ nghiên
cứu cụ thể như sau:
- Nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về BTTH khi Nhà nước
5


THĐ;
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về BTTH khi Nhà nước THĐ ở nước
ta hiện nay;
- Phân tích, đánh giá thực tiễn thực thi pháp luật về BTTH khi Nhà nước THĐ
của tỉnh Thừa Thiên – Huế;
- Đề xuất các phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về về BTTH khi
Nhà nước THĐ ờ nước ta hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu

quan đến vấn đề nghiên cứu. Từ đó, tổng thuật theo từng chủ đề trong giới hạn phạm
vi nghiên cứu đặt ra, trên cơ sở đó, khẳng định tính mới trong nội dung nghiên cứu của
Luận văn
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn được hoàn thành sẽ có một số đóng góp mới trên cả phương diện lý
luận và thực tiễn.
6.1. Ý nghĩa lý luận
Những kết quả thu được thông qua thực hiện đề tài sẽ bổ sung cơ sở thực tiễn để
đánh giá chung về pháp luật bồi thường và tình hình đời sống của người dân sau khi bị
THĐ. Đồng thời, bổ sung, hoàn thiện những quy định về pháp luật của Nhà nước, địa
phương về bồi thường THĐ nhằm đảm bảo cho cuộc sống của người dân sau khi bị THĐ.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Góp phần hoàn thiện pháp luật, chính sách, phương thức đền bù thiệt hại khi
Nhà nước THĐ; góp phần hạn chế, giải toả những bức xúc về khiếu kiện của công dân
bị thiệt hại do phải giải toả mặt bằng, bàn giao đất để triển khai các dự án trên địa bàn
TT. Huế nói riêng, cả nước nói chung.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục tham khảo, luận văn được bố cục thành
03 chương. Cụ thể như sau:
Chương 1. Những vấn đề lý luận của pháp luật về bồi thường thiệt hại khi Nhà
nước thu hồi đất.
Chương 2. Thực trạng pháp luật về bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi
đất qua thực tiễn tỉnh Thừa Thiên Huế.
Chương 3. Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về bồi thường thiệt
hại khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam hiện nay

7


CHƯƠNG 1

xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật này”.
8


Dù đã có sự điều chỉnh và mở rộng nội hàm của vấn đề THĐ, song cách quy
định này chưa thật sự cụ thể, bởi nó có thể dẫn đến cách hiểu rằng, người SDĐ bị thu
hồi chỉ là tổ chức hay UBND xã, phường, thị trấn, trong khi theo quy đinh pháp luật,
người SDĐ bị thu hồi còn có thể là hộ gia đình, cá nhân SDĐ, và trên thực tế hộ gia đình,
cá nhân là chủ thể bị THĐ phổ biến nhất. Trên cơ sở hiến định rõ ràng về THĐ trong
Hiến pháp năm 2013, Luật Đất đai năm 2013, tại khoản 11, Điều 4 đã quy định: “Nhà
nước THĐ là việc Nhà nước quyết định thu lại QSDĐ của người được Nhà nước trao
QSDĐ hoặc thu lại đất của người SDĐ vi phạm pháp luật về đất đai”.
THĐ sẽ dẫn đến hậu quả pháp lý chấm dứt QSDĐ của người SDĐ. Việc THĐ
có thể xuất phát từ những nguyên nhân khác nhau nhưng đều hướng đến hai mục đích:
Thứ nhất, THĐ nhằm bảo vệ quyền sở hữu đất đai của Nhà nước khi người SDĐ có
hành vi vi phạm pháp luật đất đai có khả năng gây tổn hại đến tài sản của Nhà nước.
Thứ hai, THĐ để hỗ trợ cho quá trình điều phối đất đai khi Nhà nước cần điều chỉnh
lại việc SDĐ về mục đích, chủ thể sử dụng theo quy hoạch, kế hoạch SDĐ.
Từ phân tích trên, khái niệm THĐ có thể được hiểu như sau: “THĐ là việc
CQNN có thẩm quyền ra quyết định hành chính để thu lại đất hoặc QSDĐ đã trao cho
tổ chức, hộ gia đình, cá nhân. Việc THĐ xuất phát từ nhu cầu phát triển KT-XH vì lợi
ích quốc gia, công cộng; do chấm dứt việc SDĐ theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất,
có nguy cơ đe dọa tính mạng con người hoặc là việc áp dụng các chế tài nhằm xử lý
các hành vi vi phạm pháp luật đất đai của người sử dụng, quản lý đất đai”.
1.1.2. Khái niệm bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất
Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng [53]: “Bồi thường” là “đền bù những tổn
hại gây ra”. Trong lĩnh vực pháp luật, trách nhiệm bồi thường được đặt ra khi một chủ
thể có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho chủ thể khác trong xã hội. Trong
lĩnh vực pháp luật đất đai, thuật ngữ “bồi thường” (hay đền bù) khi Nhà nước THĐ
được đặt ra từ rất sớm:

Bản chất của BTTH khi THĐ không phải là quan hệ mua bán đất đai (hay
quyền sử dụng đất) dù nhìn nhận dưới bất kỳ góc độ nào. Thực chất nhà nước có trách
nhiệm xác định những thiệt hại để bồi thường nhằm ổn định và nâng cao đời sống
người dân khi bị thu hồi đất. Thu hồi và bồi thường thiệt hại về đất mang ý nghĩa của
việc thực hiện quyền của nhà nước chứ không phải đơn thuần là một quan hệ giao dịch
có tính chất ngang giá. Trong tổ chức thực hiện, Nhà nước có thể trực tiếp đứng ra thu
hồi và BTTH, nhưng cũng có thể giao cho các tổ chức khác thực hiện quyền này, theo
những quy định mà nhà nước đã ban hành.
Từ những phân tích trên, có thể hiểu một cách đầy đủ về bồi thường khi Nhà nước
THĐ như sau: Bồi thường thiệt hại khi THĐ là việc Nhà nước hoặc tổ chức, cá nhân được
Nhà nước giao đất, cho thuê đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích
10


quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế phải bù đắp những tổn hại về đất và tài sản,
công trình, kiến trúc, cây trồng, vật nuôi và những thiệt hại khác trên đất do hành vi THĐ
gây ra, cho người SDĐ tuân theo những quy định của pháp luật đất đai.
1.1.3. Đặc điểm và ý nghĩa của bồi thường thiệt hại khi thu hồi đất
1.1.3.1. Đặc điểm của bồi thường thiệt hại khi thu hồi đất
Thứ nhất, về đối tượng được bồi thường, là những chủ thể SDĐ: hộ gia đình, cá
nhân, tổ chức trong nước, tổ chức nước ngoài, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, người
Việt Nam định cư ở nước ngoài về đầu tư tại Việt Nam…, khi thỏa mãn các điều kiện
theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, về phạm vi bồi thường, chỉ khi Nhà nước THĐ để sử dụng vào mục
đích quốc phòng, an ninh; THĐ để phát triển KT-XH vì lợi ích quốc gia, công cộng;
THĐ do vi phạm pháp luật về đất đai; THĐ do chấm dứt việc SDĐ theo pháp luật, tự
nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người,... người sử dụng đất mới được
bồi thường. Điều 61-65, Luật Đất đai năm 2013 đã quy định các căn cứ THĐ là (1) Nhà
nước THĐ vì mục đích quốc phòng, an ninh, (2) Nhà nước THĐ để phát triển KT-XH vì
lợi ích quốc gia, công cộng, (3) THĐ do vi phạm pháp luật về đất đai, (4) THĐ do chấm dứt

phương pháp tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục và phương pháp kinh tế.
1.1.3.2. Ý nghĩa của bồi thường thiệt hại khi thu hồi đất
Thứ nhất, đảm bảo chia sẻ lợi ích và bù đắp những thiệt hại cho các chủ thể
SDĐ, đồng thời nhanh chóng ổn định đời sống, sản xuất, tạo việc làm và thu nhập ổn
định cho người bị THĐ:
Người lao động bị THĐ sẽ được hỗ trợ vay vốn ưu đãi tại Ngân hàng Chính
sách xã hội để đào tạo nghề và giải quyết việc làm; bên cạnh đó, hiện nhiều địa
phương cũng đang tính đến việc ban hành các chính sách ưu đãi, quan tâm đến người
dân bị giải tỏa đất như: Chính sách về đào tạo việc làm, chính sách an sinh xã hội...
Trong đó, vấn đề tạo việc làm cho người lao động sau khi bị mất đất sản xuất là rất
quan trọng. Bên cạnh đó, có thể yêu cầu các doanh nghiệp đào tạo và thu hút lao động
tại chỗ, những người có đất bị thu hồi vào làm việc tại doanh nghiệp. Các chính sách
này sẽ tạo cơ chế thông thoáng, thuận lợi cho công tác THĐ, GPMB để thực hiện các dự
án tại hầu hết các địa phương trong cả nước. Những chính sách này cần được thực hiện
trước khi tiến hành THĐ để ngay sau khi bị THĐ, người lao động có thể chuyển đổi
nghề nghiệp và hộ gia đình có thể chuyển đổi sinh kế một cách bền vững.
Thứ hai, nâng cao nhận thức về tầm quan trọng, ý nghĩa nhân văn cũng như tính
chất phức tạp của việc bồi thường khi Nhà nước THĐ của các nhà quản lý, của chính
quyền địa phương.
Trong thực tiễn quản lý Nhà nước, tiến độ thực hiện các công trình nhìn chung
vẫn còn rất chậm. Một trong những trở ngại lớn nhất cần tập trung khắc phục chính là
12


công tác bồi thường, GPMB. Để giải quyết vấn đề này, CQNN có thẩm quyền phải
ban hành, sửa đổi một cách hợp lý các chính sách liên quan đến bồi thường, nhưng vẫn
còn một bộ phận dân cư chưa hiểu, gây trở ngại cho việc thực hiện. Trong thực tế,
không phải cứ đền bù thấp hay không đúng là xảy ra khiếu kiện mà vẫn có trường hợp
giá cả đền bù rất cao song khiếu kiện vẫn xảy ra và ngược lại, có những nơi, giá cả đền bù
không cao lắm, nhưng do làm tốt công tác tuyên truyền nên hiệu quả mang lại rất cao.

ở các địa phương thì cơ cấu lao động nông thôn đã bị tác động nhất định. Lường trước
những yếu tố tác động đến đời sống của người dân, chính quyền các địa phương trước khi
THĐ đều đã ban hành nhiều chính sách cụ thể đối với người dân có đất bị thu hồi như bồi
thường, hỗ trợ giải quyết việc làm, đào tạo chuyển đổi nghề, hỗ trợ nghề cũ... theo luật và
các văn bản chỉ đạo của Chính phủ như: Luật Đất đai, về bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi
Nhà nước THĐ, về một số giải pháp chủ yếu tập trung chỉ đạo, điều hành thực hiện ngân
sách Nhà nước... Vì vậy, đã có một số lượng lao động nông nghiệp nhất định chuyển sang
làm việc ở các ngành phi nông nghiệp như công nghiệp, dịch vụ, góp phần thúc đẩy sự
chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng tích cực.
1.2. Nội dung về bồi thường thiệt hại khi Nhà nước tiến hành thu hồi đất
1.2.1. Nội dung bồi thường thiệt hại
1.2.1.1. Về bồi thường thiệt hại về đất ở khi thu hồi đất
Luật Đất đai năm 2013 tách riêng việc bồi thường về đất và BTTH về tài sản,
ngừng sản xuất, kinh doanh khi Nhà nước THĐ thành hai điều riêng biệt tại Điều 74
và Điều 88 với các quy định cụ thể để thống nhất thực hiện. Đối với đất sử dụng có
thời hạn, mức bồi thường cho người có đất thu hồi không chỉ căn cứ loại đất, đối tượng
SDĐ mà còn phải căn cứ thời hạn SDĐ còn lại của người SDĐ đối với đất đó. Luật
Đất đai năm 2013 cũng quy định cụ thể về bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại
cho một số trường hợp không được bồi thường về đất; bổ sung quy định về việc bồi
thường, hỗ trợ và TĐC đối với các dự án đặc biệt. Đồng thời, theo quy định của pháp
luật hiện hành, theo đó, các trường hợp không được bồi thường về đất:
* Đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn; đất nhận
khoán để sản xuất nông lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối...
* Đất được Nhà nước giao để quản lý.
* Đất bị THĐ do vi phạm pháp luật về đất đai; do thuộc trường hợp quy định như
cá nhân SDĐ chết mà không có người thừa kế; người SDĐ tự nguyện trả lại đất; đất
được Nhà nước giao, cho thuê có thời hạn nhưng không được gia hạn… Trường hợp
không đủ điều kiện cấp GCN (trừ trường hợp đất nông nghiệp đã sử dụng trước
01/7/2004 mà hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp nhưng không có GCN
hoặc không đủ điều kiện để được cấp GCN).

được bồi thường là thời hạn sử dụng còn lại của đất thu hồi; nếu không có đất để bồi
thường thì được bồi thường bằng tiền. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân được bồi
thường bằng đất mà có nhu cầu sử dụng với thời hạn dài hơn thời hạn sử dụng còn lại
của đất thu hồi thì được CQNN có thẩm quyền tăng thời hạn sử dụng nhưng người
SDĐ phải thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với thời gian được tăng theo quy định của
pháp luật về đất đai.
15


Nếu hộ gia đình, cá nhân SDĐ phi nông nghiệp không phải là đất ở được Nhà
nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm, cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần
cho cả thời gian thuê nhưng được miễn tiền thuê đất thì không được bồi thường về đất
nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại nếu có.
Nếu hộ gia đình, cá nhân đang SDĐ phi nông nghiệp không phải là đất ở được
Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê nhưng được
miễn tiền thuê đất do thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng thì
được bồi thường về đất. Căn cứ vào điều kiện thực tế, quỹ đất tại địa phương, UBND
cấp tỉnh quy định cụ thể việc bồi thường. Hộ gia đình, cá nhân đang SDĐ thương mại,
dịch vụ, đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp, đất phi nông nghiệp khác có thời hạn sử
dụng ổn định lâu dài mà có đủ điều kiện được bồi thường theo quy định của pháp luật
khi Nhà nước THĐ thì được bồi thường về đất theo giá đất ở.
Nếu hộ gia đình, cá nhân đang SDĐ có nhà ở trước ngày 01/7/2004 mà có
nguồn gốc do lấn, chiếm, khi Nhà nước THĐ nếu không có chỗ ở nào khác thì được
Nhà nước giao đất ở mới có thu tiền SDĐ hoặc bán nhà ở TĐC. Giá đất ở tính thu tiền
SDĐ, giá bán nhà ở TĐC do UBND cấp tỉnh quy định.
1.2.1.3. Về bồi thường thiệt hại về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà
nước thu hồi đất phi nông nghiệp không phải đất ở của tổ chức kinh tế, doanh nghiệp
liên doanh
Việc bồi thường về đất khi Nhà nước THĐ nghĩa trang, nghĩa địa của tổ chức
kinh tế được thực hiện theo quy định sau:

nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước;
+ Đất do người Việt Nam định cư ở nước ngoài được Nhà nước giao đất có thu
tiền SDĐ, cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; doanh nghiệp
liên doanh mà bên Việt Nam góp vốn bằng QSDĐ nay chuyển thành doanh nghiệp có
100% vốn nước ngoài.
1.2.1.4. Về việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với các trường hợp đặc biệt
Các trường hợp đặc biệt trong thực hiện cơ chế, chính sách bồi thường, hỗ trợ,
TĐC, như: Các dự án đầu tư do Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư, Thủ tướng
Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư mà phải di chuyển cả cộng đồng dân cư, làm
ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống, KT-XH, truyền thống văn hóa của cộng đồng, các dự
án THĐ liên quan đến nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; các dự án sử dụng
vốn vay của các tổ chức quốc tế, nước ngoài mà Nhà nước Việt Nam có cam kết về
khung chính sách bồi thường, hỗ trợ, TĐC. Chính sách bồi thường, hỗ trợ, TĐC đối
với các trường hợp này:
Đối với các dự án do Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư, Thủ tướng Chính
phủ chấp thuận chủ trương đầu tư thì Thủ tướng Chính phủ quyết định khung chính
17


sách bồi thường, hỗ trợ, TĐC. Căn cứ vào khung chính sách về bồi thường, hỗ trợ,
TĐC đã được Thủ tướng Chính phủ quyết định, Bộ, ngành có dự án đầu tư tổ chức lập,
thẩm định và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, TĐC cho toàn bộ dự án.
UBND cấp tỉnh căn cứ phương án bồi thường, hỗ trợ, TĐC đã được Bộ, ngành
phê duyệt, tổ chức lập, thẩm định và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, TĐC đối
với dự án thực hiện tại địa phương sau khi đã có ý kiến chấp thuận bằng văn bản của
Bộ, ngành có dự án đầu tư; tổ chức thực hiện và quyết toán kinh phí bồi thường, hỗ
trợ, TĐC với Bộ, ngành có dự án đầu tư.
Đối với trường hợp THĐ ở trong khu vực bị ô nhiễm môi trường có nguy cơ đe
dọa tính mạng con người; đất ở có nguy cơ sạt lở, sụt lún, bị ảnh hưởng bởi hiện tượng
thiên tai khác đe dọa tính mạng con người thì người có đất thu hồi được bồi thường, hỗ

- Sở Tài chính có trách nhiệm:

(1)

Thẩm định dự toán chi phí cho công tác tổ

chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và TĐC đối với các dự án theo thẩm quyền; (2)Kiểm
tra, hướng dẫn tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, GPMB lập dự toán, báo cáo quyết
toán về kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và TĐC theo quy định.
18


- Sở Kế hoạch và Đầu tư có trách nhiệm:

(1)

Chủ trì, phối hợp với các cơ quan

liên quan trình xem xét chấp thuận chủ trương đầu tư xây dựng hạ tầng khu TĐC, nhà
ở TĐC thuộc thẩm quyền của UBND tỉnh;

Hướng dẫn, kiểm tra việc lập và thực

(2)

hiện các dự án TĐC, theo quy định của pháp luật về quản lý đầu tư và xây dựng;
Chủ trì phối hợp với Sở Tài chính cân đối và bổ sung nguồn vốn ngân sách đáp ứng

(3)



tỉnh ban hành quy định về đơn giá cây trồng, vật nuôi; (2)Chủ trì, phối hợp với các cơ quan
liên quan hướng dẫn xử lý những vướng mắc về việc xác định giá cây trồng, vật nuôi để
bồi thường, hỗ trợ theo phạm vi quyền hạn được giao.
- Sở Lao động, Thương binh và Xã hội có trách nhiệm: Lập và tổ chức thực
hiện phương án đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho người trong độ
tuổi lao động tại địa phương và trình UBND tỉnh quy định mức hỗ trợ phù hợp với
từng loại hộ gia đình, cá nhân có đất thu hồi.
- Trung tâm PTQĐ có trách nhiệm: Thực hiện ứng vốn cho Tổ chức làm nhiệm
vụ bồi thường, GPMB tạo quỹ đất sạch để giao đất, cho thuê đất thực.
1.2.2.2. Đối với trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp huyện, thị xã, thành phố
Chỉ đạo, tổ chức, điều hành: các cơ quan chuyên môn trực thuộc và Tổ chức

(1)

làm nhiệm vụ bồi thường, GPMB phối hợp thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ và
TĐC được quy định theo thẩm quyền; tuyên truyền, vận động tổ chức, cá nhân về
chính sách bồi thường, hỗ trợ, TĐC và thực hiện GPMB theo đúng quy định THĐ của
19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status