1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài.
Ngành học mầm non có một vị trí hết sức quan trọng, là ngành học mơ
đầu trong hệ thống giáo dục quốc dân, nó có vai trò hình thành những cơ sơ ban
đầu của phát triển nhân cách trẻ, chuẩn bị những tiền đề cần thiết cho trẻ bước
vào phổ thông; như Bác Hồ đã nói:“Giáo dục mẫu giáo tốt sẽ mở đầu cho một
nền giáo dục tốt”. Vì vậy, việc cải tiến phương pháp giáo dục, nâng cao chất
lượng phát triển toàn diện cho trẻ là một vấn đề hết sức cần thiết đối với mỗi
giáo viên, mỗi đơn vị trường mầm non và điều đó được thể hiện ơ các hoạt động
trong đó không thể thiếu được hoạt động tạo hình.
Hoạt động tạo hình là một trong những nội dung của giáo dục phát triển
thẩm mĩ, nhằm phát triển toàn diện cho trẻ. Thông qua các hoạt động vẽ, nặn,
cắt – xé – dán, trẻ có nhiều cơ hội để luyện tập các vận động tinh, vận động thô
và sự dẻo dai của các ngón tay. Đây cũng là một trong những hoạt động mà trẻ
mẫu giáo rất ưa thích. Hoạt động tạo hình đòi hỏi các thao tác trí tuệ như phân
tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hoá…Khi trẻ tìm hiểu, tri giác các tính chất
của sự vật, hiện tượng xung quanh như màu sắc, kích thước, hình dạng, hoạt
động tạo hình cũng đòi hỏi trẻ phải biết vận dụng các kinh nghiệm và vốn hiểu
biết để tạo ra các hình ảnh mới cho mình. Hoạt động tạo hình góp phần phát
triển thẩm mĩ sáng tạo, phát triển cảm giác, tri giác thẩm mĩ, phát triển khả
năng cảm thụ và khả năng sáng tạo. Đồng thời, hoạt động tạo hình là sự biểu lộ
thái độ, tình cảm yêu ghét của trẻ đối với thế giới xung quanh của mình.(Trích
trong tài liệu: Tác giả: TS. Lê Thu Hương (Chủ biên). Lê Thị Đức - Phùng Thị
Tường - Nguyễn Thanh Thuỷ. Tổ chức hoạt động tạo hình cho trẻ mầm non theo
hướng tích hợp. Nhà xuất bản giáo dục. Năm 2007)
Trong hoạt động tạo hình, hoạt động thể loại nặn có một vai trò rất quan
trọng để phát triển thẩm mi cho trẻ rất hữu hiệu. Thông qua hoạt động nặn giúp
trẻ phát triển các chức năng tâm lí như khả năng tri giác các sự vật hiện tượng
xung quanh, từ đó kích thích trẻ phải tư duy và quá trình đó làm phát triển óc
tương tượng sáng tạo của trẻ, trẻ biết cảm nhận cái đẹp và ham muốn tạo ra cái
đẹp. Đây là yếu tố cần thiết góp phần giúp trẻ phát triển toàn diện về nhân cách.
đối với thể loại nặn trẻ chưa có kỹ năng trong hoạt động, trẻ 3-4 tuổi là nền tảng
ban đầu để hình thành cho trẻ tiếp theo ơ các lớp mẫu giáo vì thế tôi chọn đối
tượng nghiên cứu là trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi A, trường mầm non Quang Lộc, năm
học 2017-2018.
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
Để đạt được kết quả nghiên cứu thành công tôi đã sử dụng các phương
pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sơ lí thuyết: Đọc và phân tích các tài
liệu có liên quan đến đề tài.
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin: Khảo sát thực trạng
trước và sau khi sử dụng biện pháp nghiên cứu, tìm ra nguyên nhân.
- Phương pháp thống kê xử lí số liệu: Sử dụng phương pháp thống kê toán học
để xử lý phân tích kết quả khảo sát và thực nghiệm sản phẩm.
1.5. Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm.
- Theo quan điểm “Giáo dục lấy trẻ làm trung tâm”, trẻ tự sáng tạo, trao đổi
thảo luận cùng nhau, để giải quyết vấn đề.
- Giáo viên sáng tạo và chỉ là người hướng dẫn, tổ chức linh hoạt các hoạt động
nặn phù hợp với nhận thức của trẻ sẽ phát huy tính tích cực, chủ động của trẻ.
2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lý luận.
Như chúng ta đã biết với trẻ 3-4 tuổi, hầu hết các trẻ có tâm hồn nhạy cảm
với thế giới xung quanh, trẻ dễ bị cảm xúc, dễ bị cuốn hút trước cảnh vật có màu
sắc hài hoà, những con vật, đồ chơi ngộ nghinh có hình khối rõ ràng...trẻ bắt đầu
có sự hình thành về biểu tượng, về đối tượng trẻ tri giác, trẻ cũng bắt đầu đặt ra
các câu hỏi để giải đáp những thắc mắc về đối tượng, trẻ cảm nhận được cái đẹp,
thích thú làm ra cái đẹp, từ đó trẻ có thể miêu tả cái đẹp của nghệ thuật bằng lời
nói, song việc thể hiện cái đẹp nghệ thuật của trẻ qua đôi bàn tay thì mới bắt đầu
hình thành. Vì vậy việc giáo dục thẩm mỹ cho trẻ 3-4 tuổi cần được bồi dưỡng
ngay từ ban đầu, để ươm mầm những tài năng thẩm mỹ cho trẻ.
Hoạt động tạo hình thông qua thể loại nặn là hoạt động nghệ thuật đặc
đối tượng, có tình cảm với đối tượng và có kỹ năng mô phỏng tạo ra nó, thì trẻ
mới hoàn thành sản phẩm đó được.
Nắm được tình hình đặc điểm tâm sinh lý và yêu cầu kỹ năng nặn đối với
trẻ 3-4 tuổi. Để đưa ra được các biện pháp phát triển thẩm mỹ cho trẻ 3-4 tuổi
thông qua hoạt động tạo hình thể loại nặn tôi đã tìm hiểu và tiến hành khảo sát
thực trạng để đưa ra các biện pháp giải quyết vấn đề một cách hiệu quả.
2.2. Thực trạng của vấn đề.
Trường mầm non Quang Lộc là một trường luôn đạt danh hiệu “Tập thể
lao động xuất sắc”. Năm học 2014 - 2015 nhà trường được công nhận đạt chuẩn
mức độ I và được nhận cờ thi đua của UBND tỉnh Thanh Hóa.
Năm học 2017-2018 bản thân tôi được nhà trường phân công đứng lớp
mẫu giáo 3-4 tuổi. Trong quá trình chăm sóc và giáo dục cho trẻ tôi nhận thấy có
những thuận lợi và khó khăn như sau:
* Thuận lợi.
- Được sự quan tâm của Đảng uỷ và các cấp chính quyền địa phương, đặc biệt là
sự quan tâm sát sao của Phòng Giáo dục - Đào tạo huyện Hậu lộc và lãnh đạo
địa phương. Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm dìu dắt, giúp đỡ, bồi
dưỡng chuyên môn cho giáo viên.
- Điều kiện cơ sơ vật chất trang thiết bị đầy đủ để thực hiện nhiệm vụ chăm sóc
giáo dục trẻ.
3
- Trường mầm non Quang lộc có khuôn viên trường lớp sạch sẽ, thoáng mát, sân
vui chơi được quy hoạch hợp lí và có nhiều đồ chơi. Đó là môi trường tốt cho trẻ
hoạt động.
- Đội ngũ giáo viên trẻ khoẻ, nhiệt tình với công việc, yêu nghề, mến trẻ.
- Các bậc phụ huynh luôn quan tâm đến việc chăm sóc - giáo dục trẻ.
- Các cháu đã được đến trường từ độ tuổi nhà trẻ chiếm tỷ lệ 35% nên trẻ đã có
nề nếp thói quen trong các hoạt động.
Bảng 1: Kết quả thực trạng.
Đạt
Chưa đạt
Tổng
Trung
Nội dung khảo sát
Tốt
Khá
Yếu
số trẻ
bình
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
Trẻ chú ý lắng
25
1
4
5
28
17
66
2
8
nghe.
6
24
15
60
2
8
sản phẩm.
Nhìn vào bảng đánh giá trên ta thấy số trẻ chưa đạt ơ cả 4 nội dung chiếm
tỷ lệ cao. Nhìn nhận được điều này tôi đã tìm ra những nguyên nhân như sau:
* Nguyên nhân.
- Về phía trẻ: Vẫn còn trẻ chưa tham gia học lớp nhà trẻ, lần đầu tiên trẻ đến
trường đi học còn nhiều bỡ ngỡ. Do số trẻ cá biệt chưa thích hoạt động tạo hình
thể loại nặn, chưa tập trung chú ý vào sự hướng dẫn của cô, chưa có nề nếp thói
quen trong học tập.
- Về phía cô: Do hiện nay ơ bậc học mầm non nói chung, trường mầm non
Quang Lộc nói riêng đang còn thiếu giáo viên nhiều, nên việc làm đồ dùng, đồ
chơi để đáp ứng cho hoạt động tạo hình thể loại nặn theo Thông tư 02/2010 chỉ
mới đáp ứng được nhu cầu tối thiểu.
- Về phía phụ huynh: Đa phần bố mẹ đi làm ăn xa, trẻ ơ nhà với ông bà, chưa
quan tâm đến việc hoạt động trên lớp của con, chỉ nghi rằng trẻ 3-4 tuổi đến lớp
để chơi, ăn, ngủ, múa hát và đọc thơ.
Nhận thức được vai trò của hoạt động thể loại nặn đối với khả năng phát
triển thẩm mỹ của trẻ và kết quả khảo sát đầu năm học, tôi đã băn khoăn và
mạnh dạn đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng cho trẻ hoạt động
với tạo hình thể loại nặn theo hướng tích cực lấy trẻ làm trung tâm với mong
muốn góp sức nhỏ bé của mình trong việc nâng cao chất lượng phát triển thẩm
mỹ cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi A thông qua hoạt động tạo hình thể loại nặn,
trường mầm non Quang lộc.
2.3. Các biện pháp để giải quyết vấn đề.
* Biện pháp 1: Rèn thói quen nề nếp trong hoạt động tạo hình thông qua
trọng, vì nếu không rèn thói quen nề nếp trẻ sẽ mang chạy lên ồ ạt, có thể xô đẩy
làm hư hỏng sản phẩm của trẻ. Vì thế tôi rèn cho trẻ có thói quen lên trưng bày
sản phẩm lần lượt theo từng tổ, không xô đẩy nhau và khi trưng bày xong thì
đứng xung quanh để quan sát, nhận xét sản phẩm. Khi thực hiện xong tôi rèn
cho trẻ có thói quen biết thu dọn đồ dùng học tập, biết cất đất nặn và bảng con
vào đúng quy định.
Với biện pháp trên, trẻ lớp tôi đã dần dần đi vào ổn định, hình thành được
thói quen nề nếp trong hoạt động như tự lấy đồ dùng, cất đồ dùng, biết sử dụng
đồ dùng nặn và ngồi đúng tư thế và thực hiện rửa tay sau khi hoạt động kết thúc.
* Biện pháp 2: Xây dựng môi trường trong và ngoài nhóm lớp theo quan
điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm.
Môi trường hoạt động của trẻ bao gồm môi trường trong và ngoài lớp, nó
có vai trò tác động mạnh mẽ đến khả năng cảm thụ vẻ đẹp, yêu cái đẹp và muốn
tạo ra cái đẹp của trẻ. Trang trí tạo môi trường nghệ thuật trong và ngoài lớp để
gây cảm xúc, gây ấn tượng, cung cấp về hiểu biết cái đẹp cho trẻ về nghệ thuật
tạo hình nói chung và hoạt động nặn nói riêng.
Tôi đã tạo môi trường trong lớp một cách hấp dẫn, nổi bật để khi trẻ đến
lớp ấn tượng đầu tiên tác động vào trẻ là toàn bộ sự bố trí, cách sắp xếp trang trí
lớp học của bé với màu sắc hài hoà. Bé quan sát xung quanh bé sẽ nhận định
được ơ lớp có các điểm mới, khác lạ so với ơ nhà bé...từ đó sẽ tạo ấn tượng khó
phai trong tâm trí của bé. Đây là tác động cần thiết để hình thành cảm xúc nghệ
thuật cho trẻ. Vì vậy tôi đã tìm hiểu yêu cầu của chủ đề, căn cứ vào cấu trúc
phòng học của lớp mình và đặc điểm tâm lí của trẻ 3 tuổi mà tạo môi trường
nghệ thuật xung quanh trẻ sao cho phù hợp nhất.
Ở trong lớp, tôi trang trí đồ dùng, đồ chơi và các hình ảnh theo chủ đề.
Tôi bố trí đồ dùng, đồ chơi hợp lý, những đồ dùng tôi trưng bày phải đẹp, có các
màu sắc rõ ràng như đỏ, xanh, vàng…có các dạng hình, dạng khối cụ thể, được
bố trí đặt những nơi mà trẻ dễ nhìn thấy, dễ quan sát để giúp trẻ tri giác chính
xác cụ thể hơn. Các mảng chính trong lớp như mảng chủ đề, các tiêu đề của các
góc. Để gây ấn tượng cho trẻ tôi thường sưu tầm, thiết kế các hình ảnh ngộ
Ảnh 1: Góc nghệ thuật, trưng bày sản phẩm, bày đồ dùng của trẻ
(Phụ lục.)
Với môi trường bên ngoài đây là hoạt động để trẻ được trải nghiệm với
thiên nhiên với thế giới xung quanh. Ngay bên ngoài cửa lớp tôi trang trí góc
tuyên truyền “Bé với nghệ thuật”, ơ góc này tôi đưa các hình ảnh trẻ đang hoạt
động với tạo hình thể loại nặn, sản phẩm của các trẻ thực tế ơ lớp mà trẻ hoạt
động hàng tuần, trong từng chủ đề để phụ huynh nắm bắt được hoạt động của
con mình.
Được sự quan tâm của Sơ giáo dục và phòng giáo dục đào tạo, tổ chức
cuộc thi xây dựng môi trường hoạt động lấy trẻ làm trung tâm…Trường mầm
non Quang Lộc đã trang trí khuôn viên, môi trường ngoài theo quan điểm lấy trẻ
làm trung tâm, có khuôn viên vui chơi, vườn cổ tích, khuôn viên hoạt động trải
nghiệm như: trải nghiệm với cát nước…Tôi đã thường xuyên cho trẻ đi dạo,
thăm quan để tăng cường và củng cố kiến thức, trí tương tượng cho trẻ, trong
khi đi có gì mới lạ tôi giới thiệu và giải thích tỉ mỉ cho trẻ hiểu, điều đó khắc sâu
thêm trí nhớ và khi đến buổi hoạt động tôi lại gợi hỏi cho trẻ trả lời những gì mà
trẻ đã tận mắt nhìn thấy hôm đi dạo.
Ví dụ: Trước khi cho trẻ: “Nặn quả tròn” (Đề tài)
Tôi cho trẻ đi thăm quan vườn cây ăn quả trong đó có cây cam, bươi, hòng
xiêm, na…Trẻ nhận biết được màu sắc, hinh dáng của các loại quả thông qua
việc quan sát, trò chuyện trao đổi cùng cô và bạn. Đặc biệt trong khi trẻ quan
sát, được sờ vào quả, trẻ nhận biết được đặc điểm và màu sắc của các loại quả
7
…Từ đó hình thành ơ trẻ các biểu tượng về đặc điểm khác nhau của các loại quả
tròn và trẻ có thể nặn các loại quả một cách chính xác hơn.
Ngoài việc xây dựng môi trường vật chất bên ngoài và bên trong lớp, thì tôi
luôn quan tâm chú trọng thực hiện môi trường xã hội ngay từ trong lớp, luôn
niềm nơ, giao tiếp với phụ huynh trong khi đón, trả trẻ và thực hiện giao lưu tình
sạch sẽ và phơi khô. Khi thực hiện làm đồ dùng, đồ chơi tái tạo, tôi hướng dẫn
và cho trẻ tham gia trải nghiệm làm cùng tôi những đồ dùng, đồ chơi dễ làm để
tạo cho trẻ hứng thú và yêu thích sản phẩm mình làm ra được.
Ảnh 2: Cô và trẻ đang rửa chai, lọ phế liệu để làm đồ dùng, đồ chơi.
( Phụ lục)
Ví dụ: Với chủ đề: Trường mầm non và bản thân. Tôi làm con lật đật,
vòng tay.
Vật liệu: Bằng bóng nhựa cũ hỏng, dây nhựa, xốp màu và keo dính.
Làm lật đật: Tôi hướng dẫn trẻ chồng quả bóng nhỏ lên quả bóng to giúp cô,
cô dùng keo dính gắn với nhau, dùng 2 khuy áo (hoặc sốp màu) làm mắt, xốp
8
màu cắt làm miệng.
Làm vòng tay: Tôi hướng dẫn trẻ cầm 2 đầu của chiếc dây chồng lại với nhau
dùng keo dính 2 đầu của đoạn dây nhựa lại với nhau tạo thành vòng tay, vòng to,
nhỏ làm tuỳ vào dây nhựa ngắn hay dây nhựa dài.
Ảnh 3: Trẻ thực hiện làm lật đật, vòng tay cùng cô. ( Phụ lục)
Sau khi trẻ được làm và quan sát lật đật và vòng tay, tôi đã vận dụng để cho
trẻ thực hiện “nặn quà tặng bạn”, trẻ có thể nặn lật đật hoặc vòng tay, kẹo…
Ví dụ: Chủ đề: Thực vật – Tết và mùa xuân. Tôi cùng trẻ thực hiện làm
các loại quả dạng tròn (cam, táo, na, hồng, bươi…), quả dạng dài (chuối, quả bí,
quả cà), cây cam, cây hòng, cây xoài, các loại củ (cà rốt, củ cải, khoai lang, củ
sắn…), bánh chưng, giò, bánh tét…
Tôi sử dụng nguyên vật liệu gồm: Vải vụn, bông cũ, chỉ, dây vòng nịt, thép
mềm, sốp, keo 502, keo bắn, vỏ hộp bánh phu thê, ống chè cũ, ống pháo bắn
đám cưới, xốp màu, giấy dạ, đề can…
- Làm các quả dạng tròn: Tôi hướng dẫn trẻ làm cùng cô, dùng vải vụn đùm
bông vào trong túm lại rồi dùng vòng nịt buộc lại tạo thành quả tròn, sau đó
dùng xốp làm tai và cuống.
động nặn của trẻ một cách khéo léo, hấp dẫn, phù hợp với nội dung hoạt động,
để cung cấp kiến thức cho trẻ một cách phù hợp. Để một hoạt động nặn đạt kết
quả cao, yếu tố quan trọng là sự chuẩn bị cho hoạt động, đồ dùng, vật mẫu, vật
thật phải đẹp, chính xác, hấp dẫn, phù hợp.
- Đối với thể loại mẫu: Đồ dùng, vật mẫu của cô phải chính xác rõ dàng, dễ nhìn
dễ thấy. Cô sử dụng đưa ra đồ dùng, vật mẫu phải thật cụ thể.
Ví dụ: Chủ đề: Trường mầm non. Sau khi làm được vòng tay tôi đã sử
dụng vào đề tài: “Nặn vòng tay” (mẫu)
Vào đầu tiết hoạt động tôi cho trẻ quan sát cửa hàng vòng tay, trong đó có
bày những chiếc vòng mà tôi và trẻ đã làm. Tôi cho trẻ nhận xét về chiếc vòng.
Tôi cho trẻ quan sát mẫu nặn, trò chuyện cho trẻ nhận xét mẫu.
Tôi thực hiện nặn mẫu. Cho trẻ nêu lên cách nặn.
Trẻ thực hiện năn, tôi đặt vật mẫu ơ 3 nhóm nặn (Vật mẫu giống hệt nhau)
Kết thúc: Tôi cho trẻ trưng bày và nhận xét sản phẩm.
- Đối với thể loại đề tài: Làm đồ dùng trực quan, vật mẫu đa dạng phong phú
hơn (3 mẫu nặn với 3 cách nặn khác nhau nhưng đều thể hiện 1 nội dung) nhưng
nó phải gần gũi với trẻ, với yêu cầu của đề tài.
Ví dụ: Chủ đề: “Thực vật – tết và mùa xuân”. Khi thực hiện làm xong các
loại quả dạng tròn, tôi đã sử dụng vào đề tài: “Nặn quả tròn” (Đề tài)
Vào giờ hoạt động tôi giới thiệu cho trẻ đến thăm quan cửa hàng hoa quả,
trong đó tôi bày các loại quả có dạng hình tròn mà tôi và trẻ đã làm như: Qủa
cam, táo, na, hồng, bươi.
Tôi cho trẻ nhận xét về các loại quả dạng tròn.
Tôi cho trẻ quan sát các vật mẫu, nêu lên đặc điểm khác nhau của các loại
quả tròn.
Cô cho trẻ nêu lên cách nặn và thực hiện nặn.
Cho trẻ trưng bày sản phẩm, khuyến khích trẻ đặt tên cho sản phẩm và nhận
xét sản phẩm.
- Đối với thể loại theo ý thích: Cô đưa đồ dùng trực quan cho trẻ quan sát hoặc
dễ đến khó và yêu cầu cao dần đối với trẻ như sau:
- Rèn kỹ năng cho trẻ biết chơi với đất nặn: Trẻ biết nắm, đập, véo từ cục đất to
thành những viên đất nhỏ, chia nhỏ đất hoặc gộp đất lại để nặn, có thể đặt viên
nọ lên viên kia, lăn trên bàn hoặc ấn bẹp viên đất.
- Rèn kỹ năng cho trẻ làm quen một số cách nặn đơn giản: Véo viên đất, gom
chúng lại với nhau, làm mềm đất, lăn tròn, ấn dẹt. Tôi có thể đưa ra các câu hỏi
như: Con làm mềm đất như thế nào ? Con đã lăn tròn như thế nào?...
- Rèn kỹ năng tạo thành một vài sản phẩm đơn giản như: Lăn dọc viên đất tạo
thành viên phấn, đôi đũa, xúc xích, con giun. Lăn xoay tròn viên đất tạo thành
hòn bi, quả cam, chùm quả, con lật đật. Ấn dẹt viên đất tạo thành chiếc bánh,
bánh xe. Phối hợp các thao tác lăn dọc, uốn cong, xoay tròn, ấn dẹt…với nhau
tạo thành đồ vật có 2 hoặc 3 chi tiết như: cái vòng, quả cam có cuống, con lật
đật, cây nấm…
Thời gian đầu cho trẻ lăn đất trên bảng con. Sau đó cho trẻ lăn bằng hai
lòng bàn tay.
Ví dụ: Vào đầu năm học, ơ chủ đề: “Trường mầm non”. Tôi tổ chức cho
trẻ chơi với đất nặn.
Tôi chuẩn bị đất nặn, bảng con, khăn lau cho trẻ. Một số mẫu nặn cục phấn,
hòn bi…
Tôi cho trẻ quan sát những sản phẩm tôi nặn ra như: Viên phấn, hòn bi…
Tôi thực hiện bóp đất, nhào đất, véo cục to ra cục nhỏ, rồi gộp lại, lăn tạo nên
đồ chơi.
Tôi cho trẻ bắt chước hoạt động theo cô: bóp, nhào đất, véo đất, kéo dài viên
đất ra…trẻ vừa làm vừa nói: “đất mềm dẻo”.
Tôi cho trẻ tự làm các động tác như: Chia nhỏ, bóp bẹp và gộp lại.
Tôi cho trẻ thực hiện lăn dọc, xoay tròn tạo ra sản phẩm.
Đến chủ đề: “Bản thân”. Tôi tổ chức cho trẻ “Nặn quả bóng”(mẫu)
Tôi có thể đưa ra các câu hỏi như: Để nặn được quả bóng cần phải làm gì?
Làm thế nào để cho đất dẻo? Các con lăn đất như thế nào? Với hoạt động này tôi
đã rèn cho trẻ được kỹ năng làm mềm đất, lăn tròn và cho trẻ nhận biết rằng để
cạnh đó tôi lựa chọn đề tài gần gũi với trẻ, phù hợp với lứa tuổi, khả năng của
trẻ, rồi xây dựng kiến thức, kỹ năng cho trẻ thật chính xác, giáo án soạn chi tiết
rõ ràng, nội dung bài dạy phải sáng tạo phù hợp với độ tuổi của trẻ. Cần tích cực
học tập tiếp thu những kiến thức, công nghệ mới để ứng dụng vào bài dạy.
Muốn có hoạt động mà phát huy được tính tích cực ơ trẻ thì ơ trong lớp tôi
đã sắp xếp các nguyên vật liệu hợp lý để cho trẻ dễ thấy, dễ lấy, trẻ được hoạt
động và trưng bày sản phẩm của mình. Tôi luôn coi trọng việc tạo cho trẻ hoạt
động tích cực vì vậy khi hướng dẫn tôi luôn dựa vào trẻ, lấy trẻ làm trung tâm
làm chủ thể của hoạt động, tôi luôn tạo điều kiện để trẻ phát triển khả năng,
phân tích suy nghi về nhiệm vụ, tìm cách thực hiện và luôn khuyến khích, động
viên giúp trẻ tự tin, tích cực, chủ động thể hiện sự sáng tạo của trẻ. Để đạt được
điều này việc thay đổi hình thức trong từng hoạt động là rất quan trọng trong
việc nhằm phát triển hiệu quả sự truyền đạt đến với trẻ. Cụ thể đi vào từng thể
loại hoạt động như sau:
- Với hoạt động nặn theo mẫu: Thể loại nặn theo mẫu cung cấp biểu tượng kỹ
năng mới cho trẻ thông qua các hoạt động mô tả chính xác hình dạng, kích
thước, màu sắc, đặc điểm của một vật thật cụ thể với vật mẫu, trẻ phải được
quan sát tổng quát đến chi tiết. Với hoạt động này tôi cần giúp trẻ tiếp tục suy
nghi bằng các câu hỏi gợi ý. Rồi sau đó tôi làm mẫu và phân tích cách làm, tuy
nhiên quá trình làm mẫu của tôi luôn lấy trẻ làm trung tâm làm chủ thể của hoạt
động.
Ví dụ: Chủ đề: Thực vật – Tết và mùa xuân. Đề tài: “Nặn quả cam” (mẫu)
12
+ Chuẩn bị: Trước ngày hoạt động tôi cho trẻ quan sát quả cam thật, tôi cho trẻ
nêu được đặc điểm của quả cam. Chuẩn bị mô hình vườn cam, mẫu nặn quả
cam, đất nặn, bảng, khăn lau tay.
+ Hoạt động của cô và trẻ: Vào giờ hoạt động tôi giới thiệu cho trẻ đi thăm quan
vườn cam. Tôi trò truyện cho trẻ nhận xét về vườn cam, quả cam.
tròn, to, nhỏ và màu sắc khác nhau). Vật mẫu, đất nặn, bảng, khăn lau tay.
+ Hoạt động của cô và trẻ:
Vào bài tôi cho trẻ hát và vận động bài: “Bàn tay nắm lại”
Tôi giới thiệu và trình chiếu baboy cho trẻ quan sát trò chuyện với trẻ về đắc
điểm của các loại vòng.
Cho trẻ quan sát vật mẫu: Con có nhận xét gì về những chiếc vòng này? Hai
chiếc vòng này có đặc điểm gì khác nhau? (gợi ý để trẻ nêu được những chiếc
vòng to, nhỏ, màu sắc khác nhau)
Tôi cùng trẻ nhắc lại động tác nhào đất, chia đất (Vòng to phải lấy nhiều đất
hơn, vòng nhỏ lấy ít đất hơn) và lăn dọc trên bảng.
13
Trẻ thực hiện, tôi động viên, khuyến khích trẻ. Gợi ý cho trẻ chia viên đất
thành 2 hoặc 3 phần nhỏ, sau đó lần lượt lăn dọc trên bảng nhẹ nhàng và đều tay
để thỏi đất dài ra, nhỏ đều. Tôi gợi cho trẻ cách bẻ cong các thỏi đất để tạo thành
vòng tròn to, nhỏ. Khuyến khích trẻ nặn được nhiều sản phẩm, màu sắc khác
nhau.
Kết thúc: Tôi cho trẻ trưng bày sản phẩm, nhận xét sản phẩm và khuyến
khích trẻ đặt tên cho sản phẩm.
Ảnh 7: Sản phẩm của trẻ nặn những vòng tay ( Phụ lục.)
- Hoạt động nặn theo ý thích: Với hoạt động này, tôi ít khi cho trẻ xem vật mẫu
mà tôi gợi cho trẻ sự hứng thú và tạo cho trẻ nhớ lại các biểu tượng mà trẻ mô
phỏng lại các biểu tượng đó nằm trong chủ đề, như vậy là nhằm kích thích trẻ
tích cực tư duy, làm tăng tính tích cực hoạt động trí tuệ của trẻ.
Ví dụ: Chủ đề: Trường mầm non. Đề tài: Nặn đồ chơi theo ý thích.
+ Chuẩn bị: Cờ líp quay đồ dùng, đồ chơi trong lớp học (Lật đật, vòng, gậy thể
dục, ô tô, các khối ghép,…ơ các góc)
+ Hoạt động của cô và trẻ:
Tôi cho trẻ xúm xít bên tôi, tôi cho trẻ xem cờ líp rồi cùng trẻ trò chuyện.
từng hoạt động mà tôi lồng ghép cho phù hợp, khắc sâu được nội dung hoạt
động mà lại rèn được kỹ năng nặn cho trẻ.
Ví dụ: + Với hoạt động dạy hát bài “Mừng sinh nhật” ơ chủ đề: “Bản
thân”. Cuối hoạt động tôi cho trẻ nặn quà tặng sinh nhật bạn búp bê, trẻ có thể
nặn bánh dạng tròn, bánh dạng dài, nặn kẹo, nặn vòng … để tặng bạn búp bê.
Ảnh 9: Sản phẩm của trẻ nặn quà tặng bạn búp bê ( Phụ lục.)
+ Với hoạt động văn học, truyện: “Đôi bạn tốt” ơ chủ đề: Trường
mầm non. Cuối hoạt động tôi cho trẻ nặn thức ăn để tặng gà và vịt (trẻ nặn giun,
thóc..).
+ Với hoạt động khám phá khoa học: Một số con vật nuôi trong
gia đình. Cuối tiết học tôi cho trẻ nặn thức ăn cho các con vật như: Trẻ nặn giun,
hạt thóc…
- Chơi hoạt động góc: Với hoạt động này đa số tôi cho trẻ được trải nghiệm thực
hiện nặn ơ góc nghệ thuật, góc xây dựng và góc phân vai, nấu ăn được thể hiện
phù hợp theo chủ đề.
Ví dụ: Chủ đề: “Thực vật – tết và mùa xuân”.
Ở góc nghệ thuật: Tôi cho trẻ nặn các loại quả có dạng tròn hoặc nặn quả có
dạng dài...
Ở góc phân vai: Tôi cho trẻ nặn bánh để nấu ăn.
Ở góc xây dựng: Tôi cho trẻ nặn lá ghép vào cây, để xây dựng được công viên
cây xanh, vườn cây ăn quả...
Ảnh 10: Trẻ đang nặn quả ở góc nghệ thuật ( Phụ lục)
- Hoạt động dạo chơi ngoài trời: Tôi cho trẻ quan sát các sự vật, hiện tượng
trong thiên nhiên cuộc sống. Tôi cho trẻ trải nghiệm hoạt động gần gũi với sự
vật. Tôi khuyến khích trẻ nặn tạo ra sản phẩm.
Ví dụ: Tôi cho trẻ trải nghiệm chơi với cát, trẻ dùng khuôn in bánh hình
vuông, hình tròn, in hoa…Hoặc cho trẻ quan sát “Con giun”, vào hoạt động nặn
tôi cho trẻ nặn con giun.
Ảnh 11: Trẻ đang trải nghiệm đúc cát thành bánh tròn, vuông ( Phụ lục.)
- Hoạt động chiều: Tôi khuyến khích trẻ tham gia hoạt động nặn theo ý thích để
bóng mát, ăn xong rửa tay sạch sẽ, sớm ngủ dạy rửa mặt đánh răng). Tôi kết hợp
giáo dục trẻ vệ sinh cá nhân.
Tôi dẫn dắt hướng trẻ đến với hoạt động “Nặn các bánh hình tròn”.
Ví dụ: Chủ đề: Gia đình. Đề tài: “Nặn đôi đũa” (mẫu)
Vào bài tôi kể cho trẻ nghe đoạn truyện “Đôi đũa thần”
Các con thấy đôi đũa trong câu truyện như thế nào? (Trẻ nêu lên nhận xét của
mình)
Hôm này cô và các con sẽ cùng nhau nặn những đôi đũa nhé.
Tôi cho trẻ quan sát, nhận xét mẫu nặn. Tôi thực hiện nặn mẫu cho trẻ quan
sát.
Tôi cho trẻ nêu cách nặn và thực hiện nặn (tôi động viên, khuyến khích trẻ
nặn)
Tôi cho trẻ trưng bày, nhận xét sản phẩm.
Kết thúc: Tôi hỏi trẻ đôi đũa dùng để làm gì?
Tôi giáo dục trẻ trong ăn uống phải xúc ăn gọn gàng không làm vơi vãi, ăn
hết xuất.
Như vậy, vào đầu hoạt động khi tôi lồng ghép tích hợp hoạt động văn học
truyện kể, tôi đã lôi cuốn được sự chú ý của trẻ, từ nội dung câu truyện trẻ muốn
tự tay mình nặn nên những đôi đũa thần như trong câu truyện vì thế trẻ rất thích
thú và hào hứng trong hoạt động. Kết thúc hoạt động tôi đã lồng ghép giáo dục
được trẻ trong vệ sinh ăn uống hàng ngày.
Ví dụ: Chủ đề: Phương tiện giao thông. Đề tài: “Nặn những chiếc bánh
xe” (Đề tài)
Tôi lồng ghép hoạt động “Âm nhạc” và chuyên đề an toàn giao thông.
Vào bài tôi cho trẻ hát bài: “Em tập lái ô tô”
Tôi trò chuyện với trẻ về ô tô và dẫn dắt trẻ vào hoạt động “Nặn những chiếc
bánh xe”
Tôi cho trẻ quan sát trò chuyện về những chiếc bánh xe
Trẻ thực hiện nặn, tôi động viên, khuyến khích, gợi ý cho trẻ nặn.
Kết thúc: Tôi cho trẻ trưng bày, nhận xét sản phẩm.
huynh lớp tôi, khi tôi đưa ra một số biện pháp sử dụng các nguyên vật liệu ơ
nhà, nguyên vật liệu sẵn có trong tự nhiên như đất sét, bột mì…vào việc để trẻ
hoạt động nặn thì nhiều phụ huynh không yên tâm lắm, nhiều phụ huynh còn
cho rằng con mình còn quá bé chẳng biết làm gì? Có những phụ huynh thì rất
ngạc nhiên khi được tôi trao đổi về cách sử dụng đồ dùng, đồ chơi tự tạo vào
hoạt động cho trẻ. Cũng có phụ huynh khi tham gia không mấy hào hứng.
Nhưng sau một thời gian tôi cho trẻ hoạt động có hiệu quả thì hầu hết các bậc
phụ huynh tích cực, hăng hái tham gia.
Tôi thường xuyên trao đổi với phụ huynh về tình hình của trẻ để phụ huynh
nắm bắt được tâm sinh lý của từng trẻ, những trẻ yếu kém và những trẻ có năng
khiếu gia đình bồi dưỡng thêm. Bên cạnh đó trước và sau giờ hoạt động tôi còn
trao đổi cho phụ huynh biết được đề tài của buổi hoạt động, để các bậc phụ
huynh bồi dưỡng thêm cho con, để con nắm sâu kiến thức hơn và tạo điều kiện
giúp trẻ ôn luyện khắc sâu và củng cố kiến thức đã học ơ trên lớp và ơ nhà.
Ví dụ: Trước ngày hoạt động đề tài: “Nặn đôi đũa”. Tôi trao đổi với phụ
huynh về cho con quan sát đôi đũa, để khi đến lớp trẻ trao đổi cùng cô và trẻ biết
mô phỏng lại biểu tượng về đôi đũa.
Để đạt kết quả tốt hơn nữa tôi đã xây dựng góc trao đổi với phụ huynh
ngay trước cửa lớp để phụ huynh nắm bắt được nội dung hoạt động của con.
Ngoài ra tôi còn huy động các bậc phụ huynh ủng hộ khuyên góp các nguyên vật
liệu, phế thải để giúp trẻ tham gia hoạt động tạo hình nói chung và thể loại nặn
17
nói riêng đạt hiểu quả cao. Các bậc phụ huynh lớp tôi đã rất phấn khơi tham gia
quyên góp nguyên vật liệu, phế thải. Về phía nhà trường, tôi đã tham mưu với
nhà trường mua sắm thêm trang thiết bị, bổ xung đồ dùng, đồ chơi, xây dựng tạo
môi trường hoạt động phục vụ cho hoạt động tạo hình, trong đó có hoạt động
nặn.
Ảnh 12: Phụ huynh đang mang nguyên vật liệu, phế liệu để quyên góp.
Trẻchú ý lắng
25
8
32
13
52
4
16
0
0
nghe.
Trẻ có kỹ năng nặn,
sử dụng màu phù
25
7
28
13
52
5
20
0
0
hợp.
Đặt tên cho sản
25
7
28
13
52
5
Trẻ được mơ rộng, hiểu biết thêm về thiên nhiên, cuộc sống con người.
Hình thành ơ trẻ những phẩm chất đạo đức tốt, biết yêu cái đẹp và làm ra
cái đẹp. Biết yêu thương những người gần gũi với trẻ, biết quý trọng bảo vệ cái
đẹp trong cuộc sống gia đình - xã hội, môi trường thiên nhiên, góp phần phát
triển thẩm mỹ cho trẻ.
* Đối với bản thân:
Trong hoạt động tạo hình thì hoạt động thể loại nặn là một trong những
hoạt động đòi hỏi tính kiên trì, sự khéo léo, dẻo dai của đôi bàn tay rất là cao.
Thông qua nghiên cứu bản thân tôi đã đúc rút thêm cho mình những kiến thức
về biện pháp hướng dẫn trẻ hoạt động với tạo hình nói chung và thể loại nặn nói
riêng. Bên cạnh đó còn cho tôi rút ra được những kinh nghiệm trong việc làm đồ
dùng, đồ chơi và tổ chức các hoạt động tạo hình (thể loại nặn)
Với kết quả đó là niềm vui lớn, luôn động viên tôi yêu nghề mến trẻ và
hoàn thành tốt nhiệm vụ chăm sóc, giáo dục trẻ.
* Đối với đồng nghiệp:
Sau khi tôi áp dụng một số biện pháp trên và đạt kết quả, tôi đã trao đổi
chia sẻ với đồng nghiệp trong khối để nhân ra diện rộng.
* Với nhà trường:
Tổ chức dự giờ, thao giảng để bồi dưỡng cho giáo viên trong toàn trường
và tăng cường trang thiết bị, đồ chơi cho hoạt động tạo hình nói chung và hoạt
động nặn nói riêng.
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận.
Thông qua tổ chức cho trẻ hoạt động tạo hình nói chung, thể loại nặn nói
riêng, đã hình thành và phát triển thẩm mỹ cho trẻ. Sau khi vận dung “Một số
biện pháp phát triển thẩm mỹ cho trẻ 3-4 tuổi thông qua hoạt động tạo hình
(nặn), trường mầm non QuangLộc, năm học 2017-2018”, từ những kết quả đạt
được ơ trên, tôi đã rút ra bài học kinh nghiệm:
thể loại nặn đạt kết quả cao, ngoài sự cố gắng nỗ lực của giáo viên còn rất cần sự
quan tâm giúp đỡ tạo điều kiện của nhà trường và các cấp lãnh đạo vì vậy tôi xin
có một số kiến nghị sau:
* Ban giám hiệu:
- Thường xuyên tổ chức các chuyên đề, tổ chức thao giảng, thường xuyên tổ
chức các ngày hội, ngày lễ cho học sinh được tham gia để phát huy được năng
khiếu ơ trẻ, tạo cho trẻ tính mạnh dạn, tự tin, độc lập trước đông người.
- Nhà trường tạo điều kiện thêm về thời gian cũng như kinh phí để giáo viên làm
thêm đồ dùng, đồ chơi tự tạo phục vụ cho nội dung hoạt động thêm phong phú,
kích thích hứng thú và sáng tạo của trẻ trong hoạt động nặn.
* Phòng giáo dục:
- Phòng giáo dục định biên đủ giáo viên để đảm bảo cho việc chăm sóc, giáo
dục, nuôi dưỡng trẻ.
Trên đây là “Một số biện pháp phát triển thẩm mỹ cho trẻ 3-4 tuổi thông
qua hoạt động tạo hình (nặn), trường mầm non Quang Lộc, năm học 20172018”. Rất mong nhận được sự đánh giá, đóng góp ý kiến của các cấp lãnh đạo
và các bạn đồng nghiệp để đề tài được hoàn thiện hơn cho những năm học tiếp
theo.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG
KHOA HỌC NGÀNH GD&ĐT
HẬU LỘC
Hậu Lộc, ngày 18 tháng 05 năm
2018
Tôi xin cam đoan đây là SKKN
của mình viết, không sao chép nội
dung của người khác.
Tác giả
Tống Thị Tuyến
3
5
18
19
19
20
21
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tác giả: Lương Thị Bình – Hoàng Thị Dinh – Hoàng Thị Thu Hương – Bùi
Thị Lâm – Nguyễn Thị Quyên – Nguyễn Thị Thanh Giang – Bùi Thị Kim
Tuyến. Hướng dẫn thực hành áp dụng quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm
trong trường mầm non. Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam. Năm 2017.
2. Tác giả: TS. Lê Thu Hương - PGS. TS. Lê Thị Ánh Tuyết - TS. Trần Thị
Ngọc Trâm (Đồng chủ biên). Hướng dẫn tổ chức thực hiện chương trình giáo
dục mầm non. Mẫu giáo bé (3-4 tuổi). Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam. Năm
2010.
3. Tác giả: TS. Lê Thu Hương (chủ biên). Lê Thị Đức - Phùng Thị Tường Nguyễn Thanh Thuỷ. Viện chiến lược và chương trình giáo dục. Trung tâm
nghiên cướu chiến lược và phát triển chương trình Giáo Dục Mầm Non. Tổ chức
hoạt động tạo hình cho trẻ mầm non theo hướng tích hợp. Nhà xuất bản giáo
dục. Năm 2017.
4. Tác giả: Phan Lan Anh - Hoàng Công Dụng - Nguyễn Thị Hiếu - Nguyễn
Thanh Giang - Đặng Lan Phương. Tuyển tập trò chơi, bài hát, thơ ca, truyện kể,
câu đố dành cho trẻ, 3-4 tuổi theo chủ đề (Theo Chương trình Giáo dục mầm
non). Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam. Năm 2014.
22
làm quen với tác phẩm văn
học” trường mầm non
Quang Lộc.
Một số biện pháp phát triển
thẩm mỹ cho trẻ 3-4 tuổi
thông qua hoạt động tạo
hình (nặn), trường mầm non
QuangLộc, năm học 20172018.
Cấp đánh
giá xếp loại
Kết quả
đánh giá
xếp loại
Năm học
đánh giá
xếp loại
Cấp tỉnh
B
2010-2011
Cấp huyện
B