Nhập môn tài chính tiền tệ 1.2
MỤC LỤC
+) Ngân sách nhà nước là công cụ điều tiết thị trường, bình ổn giá cả và kiềm chế
lạm phát: Nhà nước sẽ sử dụng ngân sách nhà nước như một công cụ để góp
phần bình ổn giá cả và kiềm chế lạm phát. Nhà nước chỉ điều tiết những mặt
hàng quan trọng những mặt hàng mang tính chất chiến lược. Cơ chế điều tiết
thông qua trợ giá, điều chỉnh thuế suất thuế xuất nhập khẩu, dự trữ quốc gia. Thị
trường vốn sức lao động: thông qua phát hành trái phiếu và chi tiêu của chính
phủ. Kiềm chế lạm phát: Cùng với ngân hàng trung ương với chính sách tiền tệ
thích hợp NSNN góp phần điều tiết thông qua chính sách thuế và chi tiêu của
chính phủ................................................................................................................4
+) Về mặt xã hội.....................................................................................................5
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
NSNN
Ngân sách nhà nước
NSTW
Ngân sách trung ương
NSĐP
Ngân sách địa phương
TNDN
Thu nhập doanh nghiệp
thực trạng và đưa ra giải pháp để hạn chế thất thoát trong chi ngân
sách nhà nước Việt Nam hiện nay”, nhóm chúng tôi sẽ đưa ra cơ sở lý
thuyết để phân tích thực trạng, đánh giá về hoạt động chi ngân sách nhà
nước Việt Nam, từ đó đưa ra những giải pháp hạn chế thất thoát ngân
sách nhà nước hiện nay.
I. Một số khái niệm
I.1. Khái niệm, vai trò của ngân sách nhà nước
I.1.1. Khái niệm ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước, hay ngân sách chính phủ, là một phạm trù
kinh tế và là phạm trù lịch sử; là một thành phần trong hệ thống tài chính.
Thuật ngữ "Ngân sách nhà nước" được sử dụng rộng rãi trong đời
sống kinh tế, xã hội ở mọi quốc gia. Song quan niệm về ngân sách nhà
nước lại chưa thống nhất, người ta đã đưa ra nhiều định nghĩa về ngân
sách nhà nước tùy theo các trường phái và các lĩnh vực nghiên cứu.
Các nhà kinh tế Nga quan niệm: Ngân sách nhà nước là bảng liệt
kê các khoản thu, chi bằng tiền trong một giai đoạn nhất định của quốc
gia.
2
Nhập môn tài chính tiền tệ 1.2
Luật Ngân sách Nhà nước của Việt Nam đã được Quốc hội Việt
Nam thông qua ngày 16/12/2002 định nghĩa: Ngân sách Nhà nước là toàn
bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà
nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm
bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước.
Sự hình thành và phát triển của ngân sách nhà nước gắn liền với sự
xuất hiện và phát triển của kinh tế hàng hóa - tiền tệ trong các phương
thức sản xuất của cộng đồng và nhà nước của từng cộng đồng. Nói cách
vì vậy cần phải xác định mức huy động vào ngân sách nhà nước một cách
3
Nhập môn tài chính tiền tệ 1.2
phù hợp với khả năng đóng góp tài chính của các chủ thể trong nền kinh
tế .
- Ngân sách nhà nước là công cụ để điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
+) Ngân sách nhà nước là công cụ định hướng hình thành cơ cấu
kinh tế mới, kích thích phát triển sản xuất kinh doanh và chống độc
quyền.
Trước hết, Chính phủ sẽ hướng hoạt động của các chủ thể trong
nền kinh tế đi vào quỹ đạo mà chính phủ đã hoạch định để hình thành cơ
cấu kinh tế tối ưu, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển ổn định và bền
vững.
Thông qua hoạt động chi Ngân sách, Nhà nước sẽ cung cấp kinh
phí đầu tư cho cơ sở kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp thuộc
các ngành then chốt trên cơ sở đó tạo môi trường và điều kiện thuận lợi
cho sự ra đời và phát triển các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh
tế (có thể thấy rõ nhất tầm quan trọng của điện lực, viễn thông, hàng
không đến hoạt động kinh doanh của các Doanh nghiệp). Bên cạnh đó,
việc cấp vốn hình thành các doanh nghiệp Nhà nước là một trong những
biện pháp căn bản để chống độc quyền và giữ cho thị trường khỏi rơi vào
tình trạng cạnh tranh không hoàn hảo. Và trong những điều kiện cụ thể,
nguồn kinh phí trong ngân sách cũng có thể được sử dụng để hỗ trợ cho
sự phát triển của các doanh nghiệp, đảm bảo tính ổn định về cơ cấu hoặc
chuẩn bị cho việc chuyển sang cơ cấu mới hợp lý hơn. Thông qua hoạt
động thu, bằng việc huy động nguồn tài chính thông qua thuế, ngân sách
nhà nước đảm bảo thực hiện vai trò định hướng đầu tư, kích thích hoặc
hạn chế sản xuất kinh doanh.
cân đối của cung cầu. Do vậy ngân sách nhà nước sẽ giúp bình ổn thị
trường, điều tiết giá cả cũng như kiềm chế lạm phát. Hay ngân sách nhà
nước cũng là công cụ giúp định hướng, hình thành cơ cấu kinh tế mới,
kích thích phát triển sản xuất, kinh doanh và chống độc quyền.
- Ngân sách nhà nước là công cụ điều tiết thu nhập giữa các thành
phần kinh tế và các tầng lớp dân cư nhằm đảm bảo công bằng cho xã hội.
Các vai trò trên của ngân sách nhà nước cho thấy tính chất quan
trọng của ngân sách nhà nước với các công cụ của nó có thể quản lý toàn
diện và có hiệu quả đối với toàn bộ nền kinh tế.
I.2. Khái niệm, vai trò của chi ngân sách nhà nước
I.2.1. Khái niệm chi ngân sách nhà nước
Chi ngân sách nhà nước là việc phân phối và sử dụng quỹ
ngân sách nhà nước nhằm đảm bảo thực hiện chức năng của nhà nước
theo những nguyên tắc nhất định.
Chi ngân sách nhà nước là quá trình phân phối lại các nguồn
tài chính đã được tập trung vào ngân sách nhà nước và đưa chúng đến
mục đích sử dụng. Do đó, Chi ngân sách nhà nước là những việc cụ thể
không chỉ dừng lại trên các định hướng mà phải phân bổ cho từng mục
tiêu, từng hoạt động và từng công việc thuộc chức năng của nhà nước.
=> Chi ngân sách nhà nước là hệ thống các quan hệ kinh tế phát
sinh trong quá trình phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ lớn nhất của nhà
nước – quỹ ngân sách, nhằm thực hiện các chức năng của nhà nước về
mọi mặt theo những nguyên tắc nhất định.
1. Quá trình phân phối: là quá trình cấp phát kinh phí từ ngân sách
nhà nước để hình thành các loại quỹ trước khi đưa vào sử dụng.
5
Nhập môn tài chính tiền tệ 1.2
- Trợ giúp trực tiếp dành cho những người có thu nhập thấp hay có
hoàn cảnh đặc biệt như chi về trợ cấp xã hội, trợ cấp gián tiếp dưới hình
thức trợ giá cho các mặt hàng thiết yếu, các khoản chi phí để thực hiện
chính sách dân số, chính sách việc làm, chống mù chữ, hỗ trợ đồng bào
bão lụt.
- Góp phần ổn định thị trường, chống lạm phát, bình ổn giá cả thị
trường hàng hóa.
- Nhà nước chỉ điều tiết những mặt hàng quan trọng những mặt
hàng mang tính chất chiến lược. Cơ chế điều tiết thông qua trợ giá, điều
6
Nhập môn tài chính tiền tệ 1.2
chỉnh thuế suất thuế xuất nhập khẩu, dự trữ quốc gia. Thị trường vốn sức
lao động: thông qua phát hành trái phiếu và chi tiêu của chính phủ. Kiềm
chế lạm phát: cùng với ngân hàng trung ương với chính sách tiền tệ thích
hợp NSNN góp phần điều tiết thông qua chính sách thuế và chi tiêu của
chính phủ.
=> Chi ngân sách nhà nước có vai trò quan trọng trong sự nghiệp
phát triển kinh tế xã hội của quốc gia. Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay ở
nước ta, nhiều vấn đề kinh tế xã hội của đát nước đang đặt ra thách thức
đối với các khoản chi ngân sách một cách tùy tiện, ngẫu hứng ,thiếu sự
phân tích hoàn cảnh cụ thể sẽ có ảnh hưởng xấu đến quá trình phát triển
kinh tế xã hội của đất nước.
II. Các nguyên tắc tổ chức chi ngân sách nhà nước.
* Nguyên tắc thứ nhất: Dựa trên khả năng các nguồn thu để hoạch
định chi tiêu.
Theo nguyên tắc này thì mức độ chi và cơ cấu các khoản chi phải
được hoạch định dựa trên cơ sở các nguồn thu. Nếu nguồn thu hạn hẹp thì
cho ngân sách phải cắt giảm. Nếu vi phạm nguyên tắc này thì sẽ dẫn đến
hoặc bội chi ngân sách nhà nước, giúp nền kinh tế phát triển tốt hơn.
* Nguyên tắc thứ 2: Tiết kiệm và hiệu quả
Nguyên tắc này đòi hỏi các tổ chức, các đơn vị sử dụng nguồn kinh
phí hay nguồn vốn của ngân sách nhà nước cấp phải nâng cao tinh thần
trách nhiệm sử dụng một cách có hiệu quả và tiết kiệm nhất.
Các cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vu, quyền hạn của mình
có trách nhiệm đề ra những biện pháp cần thiết nhằm đảm bảo hoàn thành
tốt nhiệm vụ thu, chi ngân sách được giao, thực hiện tiết kiệm, chống lãng
phí, chống tham ô.
Mọi tổ chức cá nhân phải chấp hành nghĩa vụ nộp ngân sách theo
quy định của pháp luật, sử dụng ngân sách nhà nước đúng mục đích, đúng
chế độ, tiết kiệm, có hiệu quả. Thực hiện chi tiêu trong dự đoán được
giao, cắt giảm những khoản chi mua sắm chưa cần thiết, các khoản chi
tiếp khách, hội nghị…
Có một thời gian khá dài, nước ta có quan điểm chi với bất cứ giá
nào gây nên tình trạng lãng phí, kém hiệu quả trong việc sử dụng các
nguồn vốn. Đó chính là lý do cần phải quán triệt nguyên tắc tiết kiệm và
hiệu quả trong chi ngân sách nhà nước. Quán triệt nguyên tắc này trong
việc bố trí các khoản chi của ngân sách nhà nước cần phải dựa trên các
định mức chi có tích cực có căn cứ khoa học và thực tiễn, tổ chức các
khoản chi theo các chương trình có mục tiêu. Khi phê duyệt hạn mức kinh
phí phải xem xét kỹ chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức, đơn vị sử dụng
kinh phái ngân sách. Cũng cần thực hiện chế độ trách nhiệm đối với
người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong công tác quản lý, sử dụng ngân
sách, tài sản công phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những khoản
chi sai chế độ, thất thoát lãng phí ở đơn vị được giao phụ trách.
Thực hiện chế độ công bố công khai ngân sách nhà nước các cấp,
các đơn vị dự toán ngân sách, các tổ chức được ngân sách nhà nước hỗ
trợ, các dự án xây dựng cơ bản có sử dụng vốn ngân sách nhà nước, các
quỹ có nguồn từ ngân sách nhà nước, các quỹ có nguồn đóng góp của
phòng, an ninh, quản lý hành chính Nhà nước, hoạt động của Đảng, đoàn
thể theo đúng chính sách, chế độ, định mức hiện hành và theo đúng các
nghị định của Đảng, của quốc hội.
Các địa phương cần ưu tiên bố trí các nhiệm vụ theo định hướng
chung, tập trung nguồn lực bảo đảm các lĩnh vực chi giáo dục- đào tạo,
khoa học, công nghệ, sự nghiệp môi trường theo các quy định của Đảng,
Quốc hội và Chính Phủ.
Có thực hiện đúng nguyên tắc này thì mới đảm bảo được tính mục
đích và khả năng tiết kiệm các khoản chi của ngân sách, phát huy được
thế mạnh tiềm năng của đất nước.
* Nguyên tắc thứ 4: Nhà nước và nhân dân cùng làm trong việc bố
trí các khoản chi của ngân sách nhà nước, nhất là các khoản chi mang tính
chất phúc lợi xã hội.
Nguyên tắc này đòi đối tượng nghèo, trẻ em, người có công, gia
đình chính sách, tạo điều kiện cho mọi người dân hỏi khi quyết định các
khoản chi ngân sách cho một lĩnh vực nhất định cần phải cân nhắc khả
9
Nhập môn tài chính tiền tệ 1.2
năng huy động các nguồn vốn khác để giảm nhẹ gánh nặng cho ngân sách
nhà nước như huy động các nguồn tài trợ, sự ủng hộ trong dân với các
vấn đề xã hội như thiên tai, bão lụt giải quyết hậu quả chiến tranh…Cũng
cần huy động các nguồn vốn từ dân cho các vấn đề như chống ô nhiễm
môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm.
Cần đổi mới phương thức chi ngân sách cho lĩnh vực sự nghiệp.
Tiếp tục thực hiện các giải pháp đẩy mạnh xã hội hoá, kêu gọi, thu
hút các thành phần kinh tế, kể cả các nhà đầu tư nước ngoài tham gia đầu
tư cung ứng dịch vụ công nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập
kinh tế thế giới.
2. Chi thường xuyên.
a/ Các hoạt động sự nghiệp giáo dục và đào tạo, y tế, xã hội, văn
hoá thông tin văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công
nghệ, môi trường, cac hoạt động xã hội khác do các cơ quan trung ương
quản lý.
b/ Quốc phòng an ninh và trật tự, an toàn xã hội, không kể phần
giao cho địa phương.
c/ Hoạt động của các cơ quan Nhà nước, cơ quan Đảng cộng sản
Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội.
d/ Trợ giá theo chính sách của Nhà nước.
đ/ Các chương trình quốc gia do trung ương thực hiện.
e/ Hỗ trợ quỹ bảo hiểm xã hội theo quy định của Chính phủ.
g/ Trợ cấp cho các đối tượng chính sách xã hội do trung ương đảm
nhận.
i/ Hỗ trợ cho các tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã
hội – nghề nghiệp ở trung ương theo quy định của pháp luật.
h/ Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.
3. Chi trả nợ gốc và lãi các khoản tiền do Chính phủ vay.
4. Chi viện trợ
5. Chi cho vay theo quy định của pháp luật
6. Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính của trung ương
7. Chi bổ sung cho ngân sách địa phương
Điều 33
Nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương gồm:
1. Chi đầu tư phát triển
a/ Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội do
địa phương quản lý.
b/ Đầu tư và hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các tổ
chức tài chính của Nhà nước theo quy định của pháp luật.
a/ Thực hiện phân chia theo tỷ lệ phần trăm đối với các khoản thu
phân chia giữa ngân sách các cấp và bổ sung cân đối từ ngân sách cấp
trên cho ngân sách cấp dưới để bảo đảm công bằng và phát triển cân đối
giữa các vùng, các địa phương.
b/ Tỷ lệ phần trăm phân chia các khoản thu và bổ sung cân đối từ
ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới. Chính phủ trình quốc hội
quyết định thời kỳ ổn định ngân sách giữa ngân sách trung ương và ngân
sách địa phương. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng
cấp quyết định thời kỳ ổn định ngân sách giữa các cấp địa phương.
12
Nhập môn tài chính tiền tệ 1.2
c/ Nhiệm vụ chi thuộc ngân sách cấp nào do ngân sách cấp đó cấp
đó bảo đảm; trường hợp cần ban hành chính sách. Chế độ mới làm tăng
chi ngân sách sau khi dự toán đã được cấp có thẩm quyền quyết định thì
phải có giải pháp bảo đảm nguồn tài chính phù hợp với khả năng cân đối
ngân sách của từng cấp.
d/ Trong thời kỳ ổn định ngân sách, các địa phươnng được sử dụng
nguồn tăng thu ngân sách hàng năm để chi cho các nhiệm vụ phát triển
kinh tế - xã hội trên địa bàn; sau mỗi thời kỳ ổn định ngân sách, phải tăng
khả năng tự cân đối, phát triển ngân sách địa phương, thực hiện giảm dần
số bổ sung từ ngân sách cấp trên hoặc tăng tỷ lệ phần trăm điều tiết số thu
nộp về ngân sách cấp trên.
đ/ Trường hợp cơ quan quản lý nhà nước cấp trên ủy quyền cho cơ
quan quản lý nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi của mình, thì
phải chuyển kinh phí từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để
thực hiện nhiệm vụ đó.
e/ Ngoài việc bổ sung nguồn thu và ủy quyền thực hiện nhiệm vụ
chỉ quy định tại các điểm a, b và d khoản 2 điều này, không được dùng
3. Việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa ngân sách các cấp
chính quyền địa phương do Hội đông nhân dân cấp tỉnh quyết định, thời
gian thực hiện phân cấp này phải phù hợp với thời kỳ ổn định ngân sách ở
địa phương, cấp xã được tăng cường nguồn thu, phương tiện và cán bộ
quản lý tài chính - ngân sách để quản lý tốt, có hiệu quả các nguồn lực tài
chính trên địa bàn được phân cấp.
4. Kết thúc mỗi kỳ ổn định ngân sách, căn cứ vào khả năng nguồn
thu và nhiệm vụ chi của từng cấp, theo thẩm quyền quy định tại các điều
15,16 và 25 của luật ngân sách nhà nước, Quốc hội, Hội đồng nhân dân
điều chỉnh mức bổ sung cân đối từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp
dưới, Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết
định việc điều chỉnh tỷ lệ phần trăm phân chia các khoản thu giữa ngân
sách các cấp.
Áp dụng nguyên tắc này tránh được việc bố trí các khoản chi chồng
chéo, khó kiểm tra giám sát, nâng cao tính chủ động và trách nhiệm của
các cấp.
* Nguyên tắc thứ 6: Kết hợp chặt chẽ các khoản chi của ngân sách nhà
nước với khối lượng tiền tệ có mặt trong lưu thông với các phạm trù giá
trị tạo nên công cụ tổng hợp cùng tác động đến vấn đề của kinh tế vĩ mô.
Nguyên tắc này đòi hỏi khi bố trí một khoản chi ngân sách nhà
nước phải phân tích diễn biến của khối lượng tiền tệ, lãi suất, tỉ giá hối
đoái trong các chu kì kinh doanh làm sao tạo nên một tổng lực để giải
quyết các mục tiêu của kinh tế vĩ mô. Bởi lẽ các các phạm trù giá trị ảnh
hưởng rất lớn đến nền kinh tế, nếu không kết hợp chặt chẽ các khoản chi
ngân sách nhà nước với các phạm trù này có thể dẫn đến tình trạng thất
thoát, lãng phí ngân sách nhà nước.
Tóm lại chi ngân sách là công cụ quan trọng không chỉ đáp ứng các
khoản chi phái của nhà nước mà còn ảnh hưởng to lớn đến điều tiết vĩ mô
của nhà nước. Vì thế khi bố trí các khoản chi ngân sách nhà nước cần có
sự cân nhắc kĩ lưỡng, nghiên cứu cẩn thận dựa trên các nguyên tắc vừa
Thu nội địa
269.656
354.400
425.000
3
Thu dầu thô
60.500
69.170
100.000
4 Thu từ xuất nhập
3 khẩu
105.664
130.100
144.000
5 Thu viện trợ không
4 hoàn lại
an ninh, quản lý hành
chính
320.501
385.082
491.500
23.228
6.000
STT
1
2
Tổng thu
5
Các khoản chi
1
2
4 Chi cải cách tiền
4 lương
15
Bảng 1: Ước thực hiện các khoản thu chi NSNN Việt Nam năm
2009 – 2011
(Theo ước tính của Bộ Tài chính)
Thu ngân sách
Theo ước tính của Bộ Tài chính, tổng thu NSNN năm 2011 ước đạt
674.500 tỷ đồng, đạt 113,4% dự toán, tăng xấp xỉ 21% so với cùng kỳ
năm 2010, trong đó:
+ Thu nội địa cả nămước 425.000 tỷ đồng tăng gần 20% so với
năm 2010. Trong đó tính đến hết 11/2011 thu từ kinh tế quốc doanh đạt
89,1% dự toán, tăng 12,1% so cùng kỳ; thu khu vực công thương nghiệp
và dịch vụ ngoài quốc doanh đạt 98,7% dự toán, tăng 23,7% so cùng kỳ;
thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 94,0% dự toán, tăng
15,3% so với cùng kỳ; thuế thu nhập cá nhân đạt 119,7% dự toán, tăng
45,4% so cùng kỳ; các khoản thu từ nhà và đất đạt 135,9% dự toán, tăng
7,8% so với cùng kỳ...). Cần lưu ý rằng theo yêu cầu hỗ trợ các gia đình
và doanh nghiệp vượt qua bất ổn của năm 2011, đã có hàng loạt các chính
sách miễn giảm, gia hạn thời gian nộp thuế của một số sắc thuế như thuế
Thu nhập các nhân, thuế TNDN ( giảm 30 % số thuế phải nộp năm 2011
đối với DNNVV, doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động trong lĩnh vực ưu
tiên…).
+ Thu từ dầu thô cả năm 2011 ước 100.000 tỷ đồng, đạt 144,3% dự
toán (dự toán là 69.300 tỷ đồng), tăng xấp xỉ 45% so với năm 2010.
+ Theo số liệu của Bộ Tài chính thu NSNN từ xuất nhập khẩu năm
2011ước 144.000 tỷ đồng, đạt 103,8% dự toán (dự toán là 138.700 tỷ
đồng), tăng 11% so với năm 2010) bất chấp chính sách hạn chế nhập khẩu
và giảm, miễn thuế đối với nhập khẩu xăng dầu những tháng đầu năm.
Thu từ hoạt động xuất nhập khẩu tăng do nhiều nguyên nhân, trong đó có
tác động từ tăng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa, thay đổi tỷ giá đồng
16
chi tiêu và một phần để thực hiện tăng lương và các chính sách an sinh xã
hội của Chính phủ năm 2011.
Nguyên tắc 2: Tiết kiệm và hiệu quả
Dựa vào bảng 1 ta nhận thấy 3 năm gần đây nhất, nhà nước ta thực
hiện chi vượt thu, việc thu chi còn nhiều điều đáng nói, thu thiếu ổn định
và chi lãng phí.
Trong đó số vượt thu chủ yếu nhờ tăng giá từ dầu thô. Đã vậy việc
thực hiện chi ngân sách nhà nước lại không hiệu quả. Chi cho đầu tư phát
triển giảm dần từ năm 2009 đến 2010, sang năm 2011 có tăng nhưng
không đáng kể, trong khi đó lại tăng chi trong giảm nợ và trong lĩnh vực
hành chính. Đây là một trong những nguyên nhân gây kém hiệu quả và
lãng phí trong quá trình thực hiện chi ngân sách nhà nước.
17
Nhập môn tài chính tiền tệ 1.2
Đặc biệt năm 2009, ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu
lan rộng, diễn biến phức tạp, khó lường và theo chiều hướng xấu, nguồn
thu NSNN gặp khó khăn, yêu cầu tăng chi là rất lớn để thực hiện các giải
pháp kích thích kinh tế và đảm bảo an ninh xã hội, do vậy Chính phủ đã
báo cáo và được Quốc hội chấp thuận tăng mức bội chi không quá 7%
GDP.
Dự toán bội chi ngân sách nhà nước năm 2010 là 119.700 tỷ đồng,
bằng 6,2% GDP. Với kết quả thu, chi như trên, đã sử dụng 8.500 tỷ đồng
từ số tăng thu NSTW để giảm bội chi NSNN, đưa số bội chi ngân sách
nhà nước năm 2010 còn 111.200 tỷ đồng (5,6% GDP), giảm 0,6% GDP
so với dự toán. Tuy nhiên, năm 2010, ngân sách nhà nước sử dụng quá
lãng phí vào sự kiện chảo mừng đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội,
gây bội chi và tăng nợ cho nhà nước.
So sánh 3 năm gần đây cho thấy việc tuân thủ dự toán chi cân đối
trong phạm vi Quốc hội cho phép, được sử dụng toàn bộ cho đầu tư phát
triển theo đúng quy định của Luật Ngân sách nhà nước, tập trung cho các
công trình, dự án kích thích kinh tế thực hiện trong năm 2009.
Trong tổ chức thực hiện, để hạn chế tác động không thuận của cuộc
khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đối với nền kinh tế,
tại kỳ họp thứ 5 của Quốc hội (tháng 5/2009), Chính phủ đã báo cáo
Quốc hội nguyên tắc điều hành NSNN năm 2009 là không thực hiện cắt
giảm tổng mức chi NSNN, nhưng có yêu cầu sắp xếp điều chỉnh các
nhiệm vụ chi, đảm bảo hiệu quả, tiết kiệm, giảm những khoản chi chưa
thực sự cấp thiết; đồng thời sử dụng gói kích thích kinh tế nhằm mục tiêu
ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng hợp lý và bảo đảm an
sinh xã hội.
Năm 2010: Dự toán chi sự nghiệp kinh tế xã hội, quốc phòng, an
ninh, quản lý hành chính 362.282 tỷ đồng, kết quả thực hiện đạt 385.082
tỷ đồng, tăng 6,3% so với dự toán, tăng 20,2% so với thực hiện năm
2009. Công tác quản lý, điều hành ngân sách đã bảo đảm tiến độ thực
hiện các nhiệm vụ chi theo dự toán được giao; đồng thời thực hiện các
nhiệm vụ quan trọng như: phòng, chống, khắc phục hậu quả hạn hán, bão
lũ; tăng kinh phí phòng, chống tái phát dịch cúm gia cầm và dập dịch lở
mồm long móng gia súc; bảo đảm kinh phí phục vụ các sự kiện chính trị
và văn hoá quan trọng trong năm 2010; kinh phí thực hiện nâng mức
lương tối thiểu lên 730.000 đồng/tháng từ ngày 01/05/2010; bổ sung kinh
phí mua bảo hiểm y tế cho học sinh, sinh viên; thực hiện chính sách miễn,
giảm học phí,
Năm 2011: Chi phát triển sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng,
an ninh (bao gồm chi cải cách tiền lương) luỹ kế 11 tháng đạt 442.890 tỷ
đồng, bằng 94,4% dự toán, tăng 26,3% so cùng kỳ năm 2010; các nhiệm
vụ chi NSNN được đảm bảo thực hiện phù hợp với tiến độ thực hiện và
dự toán năm được giao. Ước tính cả năm 2011 chi thường xuyên đạt
Năm 2010: Theo như nguyên tắc 3 đã đưa ra thực tế về trọng tâm
chi năm 2010: dự toán chi sự nghiệp kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh,
quản lý hành chính 362.282 tỷ đồng, kết quả thực hiện đạt 385.082 tỷ
đồng, tăng 6,3% so với dự toán, tăng 20,2% so với thực hiện năm 2009.
Công tác quản lý, điều hành ngân sách đã bảo đảm tiến độ thực hiện các
nhiệm vụ chi theo dự toán được giao; đồng thời thực hiện các nhiệm vụ
quan trọng như: phòng, chống, khắc phục hậu quả hạn hán, bão lũ; tăng
kinh phí phòng, chống tái phát dịch cúm gia cầm và dập dịch lở mồm
long móng gia súc; bảo đảm kinh phí phục vụ các sự kiện chính trị và văn
hoá quan trọng trong năm 2010; kinh phí thực hiện nâng mức lương tối
thiểu lên 730.000 đồng/tháng từ ngày 01/05/2010; bổ sung kinh phí mua
bảo hiểm y tế cho học sinh, sinh viên; thực hiện chính sách miễn, giảm
học phí,..Theo các số liệu trên cho thấy cơ cấu chi đang thay đổi theo
hướng tăng chi mạnh hơn cho con người, thực hiện các chính sách an
ninh xã hội, tăng đầu tư cho phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn,
tiềm lực dự trữ quốc gia được tăng cường.
Năm 2011: Theo số liệu bảng số 1 có thể thấy chi sự nghiệp kinh tế
xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý tài chính tăng qua các năm. Theo số
liệu của Tạp chí tuyên giáo số 1 có bài “Tổng quan kinh tế xã hội 2011 và
dự báo 2012” chi ngân sách nhà nước cho an sinh xã hội cả năm 2011
khoảng 84 nghìn tỷ đồng, tăng gần 20% so với năm 2010.
Tóm lại cùng với các hoạt động khích lệ, vận động các nguồn thu
hỗ trợ người nghèo, hỗ trợ thiệt hại sau thiên tai bão lũ từ nhân dân Nhà
20
Nhập môn tài chính tiền tệ 1.2
nước trong công tác bố trí thu chi NSNN luôn đặt mục tiêu bảo đảm an
sinh xã hội là mục tiêu quan trọng cần thực hiện.
Nguyên tắc 5: Phân biệt rõ các nhiệm vụ kinh tế xã hội các cấp
Nguyên, đồng bào Khmer và phục vụ mục đích an ninh và quốc phòng.
UB thường vụ Quốc hội cũng đề nghị không bố trí vốn đầu tư cho
tập đoàn dệt may Việt Nam số tiền 10 tỉ đồng để đầu tư dự án nâng cấp hệ
thống và thiết bị và phòng sinh thái môi trường dệt may giai đoạn 20082010, Tập đoàn công nghiệp than khoáng sản 28 tỉ đồng để thực hiện dự
án là trung tâm nghiên cứu và thực hiện công nghệ chế tạo máy năng
lượng và mỏ,… Các tập đoàn này sẽ sử dụng từ nguồn lợi nhuận sau thuế
21
Nhập môn tài chính tiền tệ 1.2
để đầu tư. Số kinh phí cắt giảm trên bổ sung cho chương trình biển Đông
- Hải đảo.
Tóm lại: Nhà nước luôn bố trí các khoản thu chi, dự toán NSNN mỗi năm
dựa trên cơ sở luật định và tùy từng nhiệm vụ kinh tế xã hội các cấp.
Nguyên tắc 6: Kết hợp chặt chẽ các khoản chi của ngân
sách nhà nước với khối lượng tiền tệ có mặt trong lưu thông với các
phạm trù giá trị tạo nên công cụ tổng hợp cùng tác động đến vấn đề
của kinh tế vĩ mô
Năm 2009 là một năm đầy thử thách đối với kinh tế - xã hội nước
ta. Suy thoái kinh tế toàn cầu tác động trực tiếp tới triển vọng xuất khẩu.
Khả năng thu hút vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp nước ngoài sẽ gặp
không ít khó khăn. Hàng loạt doanh nghiệp nhỏ và vừa phải đối mặt với
nhiều thách thức…
Nhóm giải pháp chính sách tiền tệ, tín dụng, hiện nay VN cần duy
trì tiếp tục giải pháp tiền tệ linh hoạt thông qua giảm lãi suất cơ bản phù
hợp với diễn biến của giá cả và lạm phát, cũng như tạo các điều kiện cho
các doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận các nguồn vốn tín dụng ngân hàng
trong bối cảnh giá cả có xu hướng giảm. Trong khi các ngân hàng thương
mại cần tiếp tục thực hiện chính sách giảm mức độ thắt chặt tiền tệ, quản
lý chặt chẽ rủi ro, nhất là rủi ro tín dụng, đưa dần tỉ lệ nợ quá hạn về
hàng hóa, dịch vụ cao cấp, đắt tiền phần lớn là nhập khẩu. không nên quá
cứng nhắc trong việc áp dụng các biện pháp cấm đoán đối với nhập khẩu
hay tiêu dùng cá hàng hóa đắt tiền cao cấp, mà nên tăng cường thu từ
nhập khẩu các mặt hàng này vào ngân sách nhà nước để phục vụ cho các
mục tiêu an sinh xã hội.
III.1.2. Dự toán chi NSNN Việt Nam năm 2012.
STT
Nội dung
A
NGÂN SÁCH TRUNG ƯƠNG
Nguồn thu ngân sách Trung ương
Thu ngân sách Trung ương hưởng theo phân cấp
- Thu thuế, phí và các khoản thu khác
- Thu từ nguồn viện trợ không hoàn lại
Thu chuyển nguồn
Chi ngân sách Trung ương
Chi thuộc nhiệm vụ của ngân sách Trung ương theo
phân cấp
Bổ sung cho ngân sách địa phương
- Bổ sung cân đối
- Bổ sung có mục tiêu
Vay bù đắp bội chi NSNN
NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG
Nguồn thu ngân sách địa phương
Thu ngân sách địa phương hưởng theo phân cấp
Thu bổ sung từ ngân sách Trung ương
- Bổ sung cân đối
633.875
482.242
151.633
107.743
43.890
140.200
420.858
269.225
151.633
107.743
43.890
420.858
376.968
43.890
Bảng 2: Cân đối nguồn thu chi dự toán NSTW và NSDP năm 2012
(Theo nghị quyết số: 14/2011/QH13)
23
Nhập môn tài chính tiền tệ 1.2
Năm 2012 là năm trong thời kỳ ổn định ngân sách mới (20112015), vì vậy việc bố trí dự toán cơ bản được thực hiện theo hệ thống
định mức phân bổ dự toán chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên
NSNN hiện hành; đồng thời, thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước về đảm bảo an ninh quốc phòng trong tình hình mới, tiếp tục
ưu tiên đầu tư cho con người, thực hiện cải cách tiền lương, vì vậy nhu
cầu tăng chi NSNN năm 2012 là rất lớn.
Với dự kiến tăng chi NSNN như trên, thì nguồn chi năm 2012 được
bổ sung thêm 145.500 tỷ đồng từ tăng thu NSNN so với dự toán năm
2011. Ngoài ra, thực hiện chủ trương giảm dần bội chi NSNN, dự kiến
SANG NĂM 2012
C - TỔNG CHI CÂN ĐỐI NSNN
Chi đầu tư phát triển
Chi trả nợ và viện trợ
Chi phát triển sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng, an
ninh, quản lý hành chính
Chi thực hiện cải cách tiền lương
Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính
Dự phòng
D - BỘI CHI NSNN
Mức bội chi ngân sách theo quy định của Luật NSNN
hiện hành (%GDP)
Mức bội chi ngân sách bao gồm TPCP; không bao gồm
chi trả nợ gốc (%GDP)
Bảng 3: Cân đối ngân sách nhà nước năm 2012
24
Dự toán
năm 2012
740.500
494.600
87.000
153.900
5.000
22.400
903.100
180.000
100.000
542.000
59.300
mức tăng tương ứng hoặc cao hơn tốc độ tăng chi chung của các lĩnh vực
chi.
Trong bối cảnh kinh tế năm 2012, việc thực hiện dự toán này có
một số cơ hội nhưng cũng đứng trước những thách thức không nhỏ.
Cơ hội
Thứ nhất, một số sắc thuế mới có hiệu lực như thuế sử dụng đất phi
nông nghiệp, thuế bảo vệ môi trường sẽ làm tăng nguồn thu cho NSNN.
Thứ hai, việc tiếp tục thực hiện các giải pháp theo Chương trình
hành động của Bộ Tài chính nhằm thực hiện Nghị quyết 11/CP trong đó
tập trung vào việc chống thất thu thuế, hạn chế tình trạng nợ đọng thuế sẽ
tạo điều kiện cho việc tăng thu NSNN. Hơn nữa, các giải pháp thực hành
tiết kiệm chi thường xuyên trong kế hoạch này và thực hiện chỉ thị 1792/
CT-TTg của Chính phủ về việc tăng cường quản lý đầu tư từ vốn NSNN
và trái phiếu chính phủ giai đoạn 2012-2015 sẽ là cơ sở cho việc thực
hiện tốt dự toán chi NSNN năm 2012.
25