Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trên báo cáo thường niên của các doanh nghiệp niên yết trên sở giao dịch chứng khoán TP hồ chí minh - Pdf 49

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
-----------------------

NGUYỄN HÀ MY

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ
CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO
THƯỜNG NIÊN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG
KHOÁN TP. HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. HỒ CHÍ MINH – 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
-----------------------

NGUYỄN HÀ MY

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ
CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO
THƯỜNG NIÊN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG
KHOÁN TP. HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Kế Toán

4.1 Phạm vi thu thập dữ liệu: ........................................................................................................3
4.2 Phương pháp nghiên cứu: .......................................................................................................3
5. Đóng góp của nghiên cứu .......................................................................................... 3
6. Tính mới của đề tài: ................................................................................................... 3
7. Kết cấu của luận văn: ................................................................................................ 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY ................................ 5
1.1 Các nghiên cứu trên thế giới:.................................................................................................5
1.2 Các nghiên cứu trong nước: .................................................................................................11
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT .............................................................................. 14
2.1 Tổng quan về công bố thông tin: ........................................................................................14
2.1.1 Khái niệm, vai trò công bố thông tin:............................................................. 14
2.1.2 Công bố thông tin bắt buộc, và công bố thông tin tự nguyện: ....................... 15
2.1.3 Các yêu cầu về công bố thông tin: ................................................................. 20
2.2 Các lý thuyết nền về công bố thông tin: ...........................................................................25
2.2.1 Lý thuyết đại diện:.......................................................................................... 25
2.2.2 Lý thuyết tín hiệu ........................................................................................... 26


2.2.3 Lý thuyết tính hợp pháp ................................................................................. 26
2.2.4 Lý thuyết các bên liên quan............................................................................ 27
2.2.5 Lý thuyết chi phí sở hữu ................................................................................. 28
2.2.6 Lý thuyết kinh tế thông tin: ............................................................................ 28
2.2.7 Khung lý thuyết về công bố thông tin tại Việt Nam: ..................................... 29
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........................................................... 30
3.1 Quy trình nghiên cứu……………………………………………………………30
3.2 Giả thuyết nghiên cứu: .........................................................................................................30
3.2.1 Các đặc điểm của doanh nghiệp: .................................................................... 31
3.2.2 Thuộc tính quản trị doanh nghiệp: ................................................................. 36
3.3 Mô hình nghiên cứu: ..............................................................................................................40
3.4 Phương pháp nghiên cứu: .....................................................................................................40

Bảng 4.2: Ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình
Bảng 4.3: Bảng phân tích kết quả hồi quy đa biến về mức độ công bố thông tin
Bảng 4.4: Các thông số thống kê trong kết quả phân tích hồi quy đa biến
Bảng 4.5: Bảng phân tích kết quả hồi quy đa biến về mức độ công bố thông tin lần 2
Bảng 4.6: Các thông số thống kê trong kết quả phân tích hồi quy đa biến lần 2
Hình 4.1: Đồ thị Histogram của phần dư – đã chuẩn hóa


1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cần thiết của đề tài:
Thông tin đóng vai trò rất quan trọng trong xã hội hiện nay nói chung và
trong thị trường chứng khoán nói riêng. Thị trường chứng khoán với mục tiêu chính
là huy động vốn cho nền kinh tế, là nơi mua bán giao dịch các loại sản phẩm tài
chính. Thông tin là một yếu tố không thể thiếu và rất nhạy cảm trên thị trường
chứng khoán, nó ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định của nhà đầu tư, bất kì một sự
bất cân xứng thông tin nào cũng sẽ dẫn đến những quyết định sai lầm, trong đó
thông tin về tình hình tài chính (thông tin kế toán) chiếm vị trí trọng yếu. Cụ thể
hơn, các nhà đầu tư thông qua các thông tin về tình hình tài chính, hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp sẽ có những nhận định, phân tích, từ đó đưa ra các quyết
định đầu tư. Thông tin đúng sự thật, kịp thời sẽ làm gia tăng niềm tin của nhà đầu tư
đối với các doanh nghiệp, thị trường. Chính vì vậy công khai thông tin được xem là
nghĩa vụ quan trọng nhất của các tổ chức khi tham gia vào thị trường, góp phần vào
sự phát triển của thị trường chứng khoán của một quốc gia. Hệ thống công bố thông
tin của các nước trên thế giới đều được xây dựng nhằm đảm bảo cung cấp thông tin
nhanh chóng, kịp thời, chính xác và công bằng cho các nhà đầu tư.
Nhận thức được sự phát triển ngày càng lớn mạnh của thị trường chứng
khoán Việt Nam, tầm quan trọng của chất lượng thông tin công bố của công ty niêm
yết đối với sự phát triển của thị trường, nhằm tăng cường chất lượng thông tin công
bố, bảo vệ lợi ích nhà đầu tư, tạo sự minh bạch và ổn định cho thị trường, Bộ Tài

nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh”.
2. Mục tiêu nghiên cứu:
-

Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của

các doanh nghiệp niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh.
-

Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tin được

công bố, thúc đẩy sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam, tạo nhiều cơ
hội cho các nhà đầu tư.


3
3. Câu hỏi nghiên cứu:
-

Những nhân tố nào ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của các

doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh?
-

Giải pháp nào để tăng cường mức độ công bố thông tin của các doanh

nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh?
4. Phạm vi thu thập dữ liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phạm vi thu thập dữ liệu: bài nghiên cứu sử dụng báo cáo thường niên
năm 2016 của 135 công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí

Bài nghiên cứu gồm có 05 chương:
Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu trước đây về công bố thông tin
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu – bằng cách xây dựng mô hình nghiên
cứu, các giả thuyết nghiên cứu và phương pháp định lượng để xem xét các nhân tố
ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin
Chương 4: Nội dung và phân tích các kết quả nghiên cứu thực nghiệm
Chương 5: Kết luận, giải pháp, hạn chế và hướng phát triển của đề tài.


5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
1.1 Các nghiên cứu trên thế giới:
Vào những năm 60 của thế kỷ XX đã bắt đầu xuất hiện những nghiên cứu
đầu tiên trên thế giới về công bố thông tin. Đầu tiên phải kể đến nghiên cứu của tác
giả Cerf (1961) sử dụng báo cáo thường niên của 258 của các doanh nghiệp niêm
yết trên sàn giao dịch chứng khoán New York, 113 công ty niêm yết tại sở giao dịch
khác, 156 công ty OTC trong giai đoạn từ tháng 7/1956 đến tháng 6/1957. Kết quả
cho thấy mối quan hệ tích cực giữa công bố thông tin với quy mô tài sản, số lượng
cổ đông và lợi nhuận. Gần một thập kỉ sau đó, Singhvi & Desai (1971) dựa trên
nghiên cứu của Cerf (1961) cũng đưa ra kết quả tương tự.
Nghiên cứu của Firth (1979) tại Anh đã tiến hành nghiên cứu đối với 180
công ty nhằm kiểm tra mối liên hệ giữa mức độ công bố thông tin tự nguyện với
quy mô, tình trạng niêm yết và loại công ty kiểm toán. Kết quả cho thấy mối liên hệ
tích cực giữa quy mô, tình trạng công ty và công bố thông tin. Và không có mối liên
hệ giữa loại công ty kiểm toán và mức độ công bố thông tin.
Nghiên cứu McNally et al (1982) tại New Zealand đã tiến hành nghiên cứu
trên 103 công ty để nghiên cứu mối liên hệ giữa công bố thông tin tự nguyện với
quy mô công ty, tỷ lệ lợi nhuận, tăng trưởng, quy mô công ty kiểm toán, nhóm
ngành công nghiệp. Kết quả cho thấy quy mô công ty có mối quan hệ tích cực với

cho thấy quy mô công ty và tình trạng niêm yết có ảnh hưởng tích cực, ngược lại thì
tính thanh khoản có ảnh hưởng tiêu cực.
Nghiên cứu của Owusu- Ansah (1998) nhằm nghiên cứu ảnh hưởng của đặc
điểm công ty đến mức độ công bố thông tin bắt buộc tại Zimbabwe. Kết quả cho
thấy tuổi của công ty, quy mô của công ty, khả năng sinh lời, cấu trúc chủ sở hữu có
tác động tích cực đến mức độ công bố thông tin bắt buộc của công ty.
Nghiên cứu của Ho và Wong (2001) nhằm kiểm tra mối quan hệ giữa bốn cơ
chế quản trị doanh nghiệp chính (tỷ lệ giám đốc độc lập so với tổng số giám đốc
trong hội đồng quản trị, sự tồn tại của một ủy ban kiểm toán tự nguyện, sự tồn tại
của cá nhân vừa là giám đốc điều hành vừa là chủ tịch hội đồng quản trị, và tỷ lệ
thành viên gia đình trong hội đồng) và mức độ công bố thông tin tự nguyện ở Hồng
Kông. Kết quả cho thấy sự tồn tại của một ủy ban kiểm toán, có liên quan đáng kể


7
và tích cực đến mức độ công bố thông tin tự nguyện, trong khi tỷ lệ thành viên gia
đình trong hội đồng quản trị, có mối liên quan tiêu cực đến mức độ công bố thông
tin tự nguyện. Hạn chế của bài nghiên cứu là chỉ tập trung nghiên cứu các nhân tố
về cơ chế quản trị doanh nghiệp, mà không xét đến các nhân tố liên quan đến hoạt
động của công ty như lợi nhuận, tính thanh khoản,…
Châu và Gray (2002) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và
công bố thông tin tự nguyện ở Hồng Kông và Singapore. Kết quả cho thấy rằng
mức độ sở hữu bên ngoài có liên quan tích cực đến công bố thông tin tự nguyện và
nội bộ hoặc quyền sở hữu gia đình có liên quan tiêu cực.
Nghiên cứu của Haniffa và Cooke (2002) tại Malaysia được tiến hành đối với
167 công ty, 65 mục công bố, kiểm tra mối liên hệ giữa công bố thông tin tự nguyện
với chỉ số công bố, quản trị doanh nghiệp, văn hóa và đặc điểm cụ thể của công ty
thông qua việc sử dụng mô hình hồi quy đa biến. Kết quả cho thấy các thành viên
gia đình thuộc hội đồng quản trị, chủ tịch không điều hành có tác động đến việc
công bố thông tin tự nguyện. Một trong những hạn chế trong nghiên cứu này là nó

động tiêu cực; các yếu tố như cấu trúc sở hữu, đòn bẩy, tính đa quốc gia không có
mối liên hệ với việc công bố thông tin tự nguyện.
Nghiên cứu của Nazli và Ghazali (2007) đã kiểm tra ảnh hưởng của cấu trúc
sở hữu đối với trách nhiệm công bố thông tin, nghiên cứu được thực hiện ở
Malaysia. Kết quả cho thấy, các công ty mà các giám đốc nắm giữ một tỷ lệ cổ phần
cao hơn thường ít công bố thông tin, trong khi các công ty mà chính phủ là một cổ
đông lớn, thường công bố thông tin nhiều hơn.
Nghiên cứu của Archambault về công bố thông tin được thực hiện tại 37
quốc gia, kết quả cho thấy các yếu tố về tài chính như: niêm yết sàn giao dịch, cổ
tức, quy mô công ty kiểm toán và các yếu tố hoạt động như số lượng ngành, doanh
thu nước ngoài có ảnh hưởng tích cực đến mức độ công bố thông tin; quyền sở hữu,
đòn bẩy, quy mô công ty lại không có tác động đến việc công bố thông tin.
Nghiên cứu thực nghiệm của Mohamed và các cộng sự (2009) về mức độ
quản trị doanh nghiệp và công bố thông tin của các công ty niêm yết tại Malaysia.
Các yếu tố quản trị được kiểm tra là quy mô của Hội đồng quản trị, tỷ lệ các giám
đốc độc lập không điều hành trong hội đồng quản trị, cổ phần sở hữu bên ngoài,


9
kiểm soát gia đình và tỷ lệ phần trăm thành viên ban kiểm toán trên tổng số thành
viên hội đồng quản trị. Kết quả của cho thấy mối liên hệ tích cực giữa quy mô công
ty, tỷ lệ các giám đốc độc lập và công bố tự nguyện. Tuy nhiên, mức độ công bố
này có mối liên hệ tiêu cực đến kiểm soát gia đình, trong khi đó tỷ lệ phần trăm
thành viên ban kiểm toán trên tổng số thành viên hội đồng quản trị không có tác
động đến mức độ công bố thông tin tự nguyện.
Nghiên cứu của Ros Haniffa và Terry Cooke (2010) về văn hóa, quản trị
doanh nghiệp và công bố thông tin của các doanh nghiệp Malaysia. Kết quả cho
thấy đặc điểm của từng công ty cụ thể và đặc điểm quản trị doanh nghiệp có mối
quan hệ với mức độ công bố thông tin. Cụ thể, chủ tịch hội đồng quản trị như giám
đốc không điều hành có mối quan hệ tiêu cực với mức độ công bố thông tin và có

ty.
Nghiên cứu của nhóm tác giả Ali Uyar, Merve Kilic và Nizamettin Bayyurt
(2013) về đặc điểm của công ty và việc công bố thông tin tự nguyện của các doanh
nghiệp niêm yết tại Thổ Nhĩ Kỳ. Kết quả cho thấy có mối liên hệ tích cực giữa mức
độ công bố thông tin tự nguyện và các biến như quy mô công ty, quy mô của công
ty kiểm toán, mức độ độc lập của các giám đốc trong hội đồng. Tuy nhiên, đòn bẩy
tài chính lại có mối liên hệ tiêu cực. Nghiên cứu này có một số ý nghĩa đối với các
doanh nghiệp, kiểm toán viên, nhà đầu tư, và các nhà quản lý. Tất cả các chủ thể
này đóng một vai trò quan trọng trong việc cải thiện tính minh bạch và công khai
thông tin của các công ty. Các doanh nghiệp có thể tăng việc công bố thông tin tự
nguyện bằng cách nhận thức được lợi ích của việc công bố thông tin. Các nhà đầu
tư có thể yêu cầu công bố cao hơn từ sự quản lý. Các nhà chức năng có thể hướng
dẫn các doanh nghiệp bằng việc ban hành các nguyên tắc hướng dẫn cho việc công
bố tự nguyện được phù hợp trong báo cáo hàng năm. Các công ty kiểm toán cũng
có thể đóng góp vào việc cải thiện văn hoá doanh nghiệp về công bố thông tin.
Nghiên cứu Khaled Aljifri và các cộng sự (2014) nhằm xem xét tác động của
đặc điểm công ty đến vấn đề công bố thông tin tài chính thông qua nghiên cứu báo
cáo thường niên của 143 công ty ở các nước tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất. Bài
nghiên cứu đưa ra tám giả thuyết nghiên cứu. Kết quả của nghiên cứu này cho thấy
tình trạng niêm yết, ngành nghề, và quy mô của doanh nghiệp có tác động đến mức


11
độ công bố. Kết luận rút ra từ nghiên cứu này có thể được quan tâm bởi các nhà
hoạch định chính sách và các nhà quản lý muốn cải thiện việc công bố thông tin tài
chính của các doanh nghiệp ở nước họ.
1.2 Các nghiên cứu trong nước:
Nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến minh bạch thông tin của doanh
nghiệp niêm yết theo cảm nhận của nhà đầu tư” của hai tác giả Lê Trường Vinh và
Hoàng Trọng (2008) đã nghiên cứu về tính minh bạch của thông tin được công bố

khoản; chủ thể kiểm toán; thời gian hoạt động và tài sản cố định. Kết quả đã chỉ ra
rằng yếu tố khả năng sinh lời và yếu tố tài sản cố định là các yếu tố tác động đến
mức độ CBTT trong BCTC.
Bài nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự
nguyện của các doanh nghiệp niêm yết trên Hose” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hảo
(2015) sử dụng phương pháp định lượng khảo sát trên báo cáo thường niên của 106
công ty niêm yết trên Hose nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công
bố thông tin tự nguyện của các doanh nghiệp niên yết trên Hose. Kết quả cho thấy
quy mô, loại hình sở hữu có yếu tố nước ngoài, lợi nhuận có tác động đến công bố
thông tin tự nguyện của các doanh nghiệp niên yết trên Hose. Tuy nhiên hạn chế
của nghiên cứu là chỉ giải thích được 25% mức độ công bố thông tin tự nguyện trên
thị trường Hose, còn 75% sẽ được giải thích bằng các nhân tố khác không có trong
mô hình.
Nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong
báo cáo tài chính của các doanh nghiệp chế biến lương thực thực phẩm niêm yết tại
Sở Giao dịch Chứng khoán TP Hồ Chí Minh" của tác giả Nguyễn Thị Thủy Hưởng
(2013) đã nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố như: quy mô doanh nghiệp, khả
năng sinh lời, đòn bẩy nợ, tính thanh khoản, chủ thể kiểm toán, tài sản cố định đến
mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp chế biến
lương thực thực phẩm niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán TP Hồ Chí Minh.
Kết quả cho thấy nhân tố khả năng thanh toán có ảnh hưởng thuận chiều với mức độ
công bố thông tin của các doanh nghiệp niêm yết.


13
Nhìn chung, trên thế giới và tại Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về các
nhân tố tác động đến mức độ công bố thông tin của các doanh nghiệp, tuy nhiên
một số nghiên cứu chỉ nghiên cứu đơn thuần về công bố thông tin bắt buộc hoặc
công bố thông tin tự nguyện, cũng có những nghiên cứu kết hợp cả hai nhưng lại
không nghiên cứu, phân tích và chia các nhân tố thành hai nhóm là đặc điểm của

chức tham gia vào quá trình thiết lập các tiêu chuẩn kế toán và báo cáo. Nguyên
nhân chủ yếu là do người sử dụng báo cáo có nhu cầu được hiểu biết rõ hơn về tình
hình hoạt động của công ty, về sự khác biệt giữa thị trường và giá trị sổ sách của
công ty nhưng những thông tin trên báo cáo lại không đủ để giải quyết nhu cầu
thông tin của người sử dụng thực tế. Vì vậy công bố thông tin công ty là rất quan
trọng cho hoạt động của một thị trường vốn hiệu quả (Adina và Ion, 2008), đặc biệt
là trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay (Smith và Adhikari, 2005).


15
Trong thực tế, việc công bố thông tin là một khái niệm lý thuyết rất khó đo
lường trực tiếp (Marston và Shrives, 1991). Theo Owusu-Ansah (1998), công bố
thông tin là sự truyền đạt các thông tin kinh tế, tài chính và phi tài chính liên quan
đến vị thế tài chính và tình hình hoạt động của công ty. Theo quy định trong sổ tay
công bố thông tin dành cho các công ty niêm yết thì " Công bố thông tin được hiểu
là phương thức để thực hiện quy trình minh bạch của doanh nghiệp nhằm đảm bảo
các cổ đông và công chúng đầu tư có thể tiếp cận thông tin một cách công bằng".


Vai trò của công bố thông tin:

Công bố thông tin là một yếu tố quyết định trong việc đảm bảo phân bổ có
hiệu quả các nguồn lực trong xã hội và làm giảm sự việc bất cân xứng thông tin
giữa công ty và các bên liên quan (Adina và Ion, 2008). Chính vì vậy việc công bố
thông tin của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán có ảnh hưởng rất lớn
trong nền kinh tế, ảnh hưởng này không chỉ trong tình hình tài chính của từng
doanh nghiệp mà còn lan rộng ra toàn bộ nền kinh tế.
2.1.2 Công bố thông tin bắt buộc, và công bố thông tin tự nguyện:

Công bố thông tin bắt buộc:

bởi việc giảm nỗ lực để thu thập thông tin và cải thiện tính so sánh được của thông
tin công bố của công ty, điều này giúp đánh giá chính xác hơn về hoạt động của
công ty.


Công bố thông tin tự nguyện:

Trong thực tế việc công bố thông tin bắt buộc có thể sẽ không thỏa mãn nhu
cầu về thông tin của các nhà đầu tư. Do đó việc công bố thông tin tự nguyện sẽ giúp
nhà quản lý chuyển các thông tin cần thiết về kết quả hoạt động tới nhà đầu tư
(Healy và cộng sự, 2001), từ đó giúp nhà đầu tư có nhiều thông tin hơn trong việc ra
quyết định. Theo Adina và Ion (2008) không có khái niệm chung hoặc nền tảng lý
thuyết cho việc công bố thông tin tự nguyện. Công bố thông tin tự nguyện được
hiểu là việc công bố vượt quá yêu cầu, đại diện cho sự lựa chọn tự do của các nhà
quản lý công ty nhằm cung cấp các thông tin về kế toán và các thông tin khác có
liên quan đến quyết định của người sử dụng các báo cáo của công ty, các công ty
luôn được khuyến khích để công bố thông tin tự nguyện (Meek và cộng sự, 1995).


17
Việc công bố thông tin tự nguyện như là một thông tin bổ sung liên quan đến các
quy định quốc gia khác nhau hoặc tham chiếu quốc tế về báo cáo kinh doanh, là một
điều không bắt buộc theo luật pháp, nhưng trở nên tự nguyện thông qua các hành vi
liên quan đến công bố. Công bố thông tin tự nguyện phụ thuộc vào cả sự lựa chọn
tự do của các nhà quản lý doanh nghiệp và về các quy định có hiệu lực, các áp lực
bên ngoài của thị trường vốn, các nhà phân tích tài chính, các nhà tư vấn và các yếu
tố văn hoá (Adina và Ion, 2008).
Công bố thông tin tự nguyện nhằm mục đích giới thiệu và giải thích tiềm
năng của các công ty với các nhà đầu tư, thúc đẩy sự lưu thông của thị trường vốn,
phân bổ vốn có hiệu quả và giảm chi phí vốn, đạt được mối liên hệ tích cực hơn với


Mối quan hệ giữa công bố thông tin bắt buộc và công bố thông tin

tự nguyện:
Xem xét từ việc phát triển hệ thống công bố thông tin, việc công bố tự
nguyện xuất hiện sau công bố thông tin bắt buộc. Theo nghĩa nào đó, việc công bố
tự nguyện là việc mở rộng và bổ sung cho công bố thông tin bắt buộc (Ti và Chen
2009). Công bố thông tin bắt buộc là việc chấp hành của công ty đối với các quy
định, công bố một lượng tối thiếu thông tin (Owusu-Ansah 1998). Trong khi đó
công bố thông tin tự nguyện là việc mở rộng khi mà công bố thông tin bắt buộc
không đủ để phác họa về tình hình tài chính và hoạt động của công ty.
Việc công bố bắt buộc có thể làm giảm hoặc ảnh hưởng đến việc công bố tự
nguyện. Ronen và Raari (2002, trang 21-23) chỉ ra rằng việc công bố bắt buộc
không thể ngăn việc công bố thông tin sai lệch nhưng phải kiềm chế công bố tự
nguyện. Do đó, một số công ty có thể chọn áp dụng chiến lược công bố một phần
theo đó họ chỉ công bố những tin tức tích cực hay những tin tức tiêu cực. Một
nghiên cứu hoàn thành bởi Gigler và Hemmer (1998, trang 117-147) cho thấy sự
hoàn hảo của việc công bố bắt buộc và quy định thị trường liên quan có hai tác động
đến việc công bố tự nguyện:
Giảm việc công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết. Nếu các
công ty niêm yết đã được yêu cầu công bố thêm thông tin, công bố thông tin tự
nguyện sẽ làm tăng chi phí của công ty, bao gồm chi phí của cả quá trình thông tin
và phát hành, rủi ro tố cáo và mất lợi thế cạnh tranh. Trong khi đó, công bố thông



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status