BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN MINH HUY
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN
TRONG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đà Nẵng, Năm 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN MINH HUY
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN
TRONG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60.34.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS TRƯƠNG BÁ THANH
1.3.1. Yêu cầu thông tin kế toán............................................................. 11
1.3.2. Yêu cầu thông tin kế toán thuộc BCTC........................................12
1.3.3. Yêu cầu công bố thông tin trên thị trường chứng khoán..............14
1.4. SỰ CẦN THIẾT CỦA CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN...........................................................................................16
1.5. CHỈ SỐ ĐO LƯỜNG MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN :..................20
1.5.1. Chỉ số chất lượng..........................................................................20
1.5.2. Chỉ số phạm vi..............................................................................25
1.5.3. Chỉ số số lượng.............................................................................26
1.6. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG
TIN..................................................................................................................28
1.6.1. Lý thuyết các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin. 28
1.6.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin................30
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1................................................................................36
CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRONG BÁO CÁO TÀI CHÍNH
CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM37
2.1. GIỚI THIỆU HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM, TÌNH HÌNH
HOẠT ĐỘNG, MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ.........................................................37
2.1.1. Lịch sử và phát triển..................................................................... 37
2.1.2. Tình hình hoạt động......................................................................42
2.1.3. Môi trường hoạt động................................................................... 45
2.1.4. Sơ lược về hoạt động công bố thông tin của các Ngân hàng thương
mại Việt Nam.................................................................................................. 53
2.2. THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU......................................................................56
2.2.1.Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu.................................................. 56
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu.............................................................. 60
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCĐKT
: Bảng cân đối kế toán
BCKQKD
: Báo cáo kết quả kinh doanh
BCLCTT
: Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
BCTC
: Báo cáo tài chính
BCTN
: Báo cáo thường niên
CBTT
: Công bố thông tin
HĐQT
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
Tên bảng
Trang
2.1
Danh sách các NHTMCP có tổng tài sản sắp xếp từ thấp
đến cao
65
2.2
Đo lường các biến độc lập của 16 Ngân hàng thương mại.
66
2.3
Kết quả kiểm định tính phân phối chuẩn Shapiro-Wilk.
67
3.1
3.6
Các tham số thống kê trong mô hình
78
3.7
Giả thuyết và kết quả nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến
mức độ công bố thông tin của các ngân hàng thương mại
80
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008 mở ra một thách thức lớn cho Việt
Nam, đó là tái cấu trúc nền kinh tế mà trọng tâm là tái cơ cấu ngân hàng. Tại
Hội thảo quốc tế “Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng – Kinh nghiệm quốc tế và
hàm ý cho Việt Nam” ngày 21 tháng 12 năm 2011 do trường Đại học Kinh tế
- ĐHQGHN (VNU-UEB, Ủy ban giám sát tài chính quốc gia (NFSC) và Bảo
hiểm Tiền gửi Việt Nam (DIV) phối hợp đồng tổ chức, các chuyên gia đều
nhất trí cho rằng Việt Nam cần phải tăng cường minh bạch thông tin về hệ
thống ngân hàng thương mại khi tiến hành tái cơ cấu khu vực huyết mạch của
nền kinh tế. Việc minh bạch thông tin báo cáo tài chính sẽ giúp lành mạnh hóa
hệ thống ngân hàng, giúp cho nhà đầu tư, người gửi tiền … đều có thể tin
tưởng vào hoạt động của ngân hàng, hạn chế tình trạng thông tin bất đối xứng
Thông tin công bố trong báo cáo tài chính năm 2012 của 16 ngân hàng
thương mại tại Việt Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu các dữ liệu qua thời gian
kết hợp giữa lý luận và thực tiến, thu thập số liệu, vận dụng mô hình đã
nghiên cứu để kiểm chứng số liệu, phân tích kết quả và đưa ra kết luận, gợi ý
nhằm nâng cao chất lượng công bố thông tin của các ngân hàng thương mại.
5. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các từ viết tắt,bảng biểu, và
phụ lục, luận văn được bố cục gồm 04 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về mức độ công bố thông tin và các nhân tố
ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin.
Chương 2: Thiết kế nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ
công bố thông tin của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam
Chương 3: Phân tích kết quả nghiên cứu.
Chương 4: Hàm ý chính sách và kiến nghị
3
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Đã có nhiều tài liệu đi trước điều tra về mức độ công bố thông tin của
ngân hàng và các công ty, và những nhân tố ảnh hưởng liên quan đến các
thuộc tính đặc biệt của công ty như là thời gian hoạt động, quy mô, khả năng
sinh lời, thành phần hội đồng quản trị, tài sản cố định, kỷ luật thị trường,
v.v…
Đầu tiên phải kể đến nghiên cứu của Kahl và Belhaoui (1981), đây là
một nghiên cứu toàn diện, thực hiện điều tra mức độ CBTT của 70 ngân hàng
tại 18 quốc gia khác nhau. Kết quả chỉ ra rằng mức độ CBTT thì khác nhau
giữa các quốc gia được chọn mẫu, và có một mối quan hệ tích cực giữa quy
để điều tra liệu có khoản mục nào về CBTT bảng CĐKT của ngân hàng thì có
lợi nhất với ngân hàng và hữu dụng nhất với thị trường tài chính. Kết quả nhìn
chung khẳng định giả thiết rằng CBTT giúp làm giảm dao động cổ phiếu, gia
tăng giá trị thị trường, và gia tăng tính hữu dụng của các tài khoản công ty
trong dự đoán việc định giá. Nier and Baumann (2006) thực hiện điều tra 729
ngân hàng ở 32 quốc gia. Kết quả chỉ ra rằng mức độ công bố tự nguyện đòi
hỏi các ngân hàng giảm khẩu vị rủi ro và tăng cường việc bù đắp rủi ro bằng
vốn cổ phần. Mohammed Hossain (2008) cũng đã tiến hành một cuộc điêu tra
thực nghiệm về mức độ công bố bắt buộc và tự nguyện của các công ty ngân
hàng niêm yết ở Ấn Độ. Kết quả nghiên cứu lại chỉ ra rằng các biến quy mô,
lợi nhuận, thành phần hội đồng quản trị và kỷ luật thị trường có ý nghĩa, trong
khi các biến về thời gian hoạt động, sự phức tạp của kinh doanh và quy mô tài
sản dài hạn đang nắm giữ không có ý nghĩa trong giải thích mức độ công bố
thông tin. Jameel và cộng sự (2013) điều tra thực nghiệm mức độ CBTT trong
BCTN của 15 ngân hàng tại Sri Lanka. Tổng cộng 140 khoản mục thông tin
(gồm cả bắt buộc và tự nguyện) đã được chọn trong xây dựng chỉ số CBTT.
Kết quả cho thấy các ngân hàng ở Srilanka CBTT bắt buộc tốt hơn thông tin
tự nguyện, đồng thời cũng chỉ ra rằng quy mô tài sản, hiệu quả hoạt
5
động kinh doanh (ROA), tỷ lệ nợ xấu và thành phần HĐQT ảnh hưởng tích
cực đến mức đô CBTT trong khi các biến thời gian hoạt động, tài sản cố định,
tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu không có ý nghĩa thống kê. Raoudha Dhouibi
(2013) thực hiện khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định công bố thông
tin tự nguyện của các ngân hàng niêm yết ở Thổ nhĩ Kỳ, và sử dụng mô hình
hồi qui Prais-winsten để kiểm định các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố
thông tin tự nguyện với mẫu gồm 10 ngân hàng trong thời kỳ 2000-2011. Kết
quả nghiên cứu chỉ ra rằng quy mô hội đồng quản trị, số lượng cổ phần sở hữu
khoán ASEAN vào thơi điểm 31/12/1993 và được chọn một cách ngẫu nhiên.
Tổng cộng, 530 khoản mục CBTT đã được chọn để tính chỉ số chỉ số CBTT
sau khi xem xét pháp luật của công ty và các quy định trên thị trường chứng
khoán trong các quốc gia khác nhau. Kết quả chỉ ra rằng tồn tại mối quan hệ
giữa điểm số CBTT của các công ty với tài sản, quy mô, lợi nhuận, và tỷ lệ nợ
trên vốn chủ sở hữu.
Tại Việt Nam, nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT
mới chỉ tập trung vào các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán
gồm:
Nghiên cứu của Lê Trường Vinh, Hoàng Trọng (2008) về tính minh
bạch của thông tin được công bố từ các doanh nghiệp niêm yết cho thấy nhân
tố Q có ảnh hưởng đến sự minh bạch trong CBTT. Nghiên cứu của tác giả
Đoàn Nguyễn Phương Trang (2010) về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ
CBTT của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Kết quả cho thấy nhân tố chủ thể kiểm toán và khả năng sinh lời có ảnh
hưởng đến mức độ CBTT của các doanh nghiệp niêm yết. Tiếp đến nghiên
cứu của tác giả Lê Thị Trúc Loan (2012) chỉ ra rằng tỷ suất lợi nhuận (ROE)
có ảnh hưởng đến mức độ CBTT của doanh nghiệp niêm yết trên TTCK Việt
Nam. Nguyễn Công Phương và đồng sự (2012) trong “Nghiên cứu thực trạng
CBTT trong BCTC của các công ty niêm yết trên SGDCK TP HCM” đã xây
7
dựng hệ thống chỉ mục đo lường mức độ công bố khá hoàn chỉnh, đồng thời
lập luận một cách chặt chẽ về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT, qua
đó đưa ra nhiều giải pháp hữu ích để cải thiện mức độ CBTT trong BCTC.
Tuy nhiên nghiên cứu chưa phân tích ảnh hưởng của các nhân tố thuộc về đặc
điểm quản trị và sở hữu đến mức độ CBTT của doanh nghiệp.
Tác giả Phạm thị Bích Vân trong bài viết về “Mối quan hệ giữa cơ chế
không chính thức.
Theo quan điểm của Bộ Tài Chính, được thể hiện trong Sổ tay công bố
thông tin dành cho các công ty niêm yết thì “CBTT được hiểu là phương thức
để thực hiện quy trình minh bạch của doanh nghiệp nhằm đảm bảo các cổ
đông và công chúng đầu tư có thể tiếp cận thông tin một cách công bằng”.
Chúng ta thừa nhận minh bạch thông tin “là sự công bố thông tin kịp thời và
đáng tin cậy, nó cho phép những người sử dụng thông tin đó có thể đánh giá
chính xác về tình hình và hiệu quả của một ngân hàng, hoạt động kinh doanh
và rủi ro liên quan đến các hoạt động này” (Theo International Finance
Corporation, Public disclosure and transparency, Yerevan, May 2006).
Cụ thể hơn, công bố thông tin kế toán (Accounting Disclosure) là toàn
bộ thông tin được cung cấp thông qua hệ thống các báo cáo tài chính của một
công ty trong thời kỳ nhất định (bao gồm cả các báo cáo giữa niên độ và báo
cáo thường niên)
9
Công bố thông tin bao gồm công bố bắt buộc và các công bố tự nguyện
hay không bắt buộc. Công bố bắt buộc (Mandatory disclosure) là những công
bố kế toán được yêu cầu bởi luật pháp và những quy định của một quốc gia
hoặc một vùng lãnh thổ. Những công bố này phải được trình bày theo những
quy định của Luật Kinh Doanh, Ủy ban chứng khoán, các cơ quan quản lý về
kế toán, GAAP và sự lựa chọn của doanh nghiệp, không bắt buộc. Có nghĩa là
một công ty có thể hoặc không cần phải công bố các thông tin kế toán mà
pháp luật không yêu cầu. Theo Adina P. và Ion P. (2008), công bố tự nguyện
chỉ như là các thông tin được cung cấp thêm nhằm thỏa mãn nhu cầu của
người sử dụng thông tin bên ngoài doanh nghiệp như các nhà phân tích tài
chính, các công ty tư vấn, các NĐT là các tổ chức… Theo xu hướng hiện nay
thì các các công bố tự nguyện đang thu hút mối quan tâm lớn của người sủ
trường chứng khoán hoạt động một cách minh bạch, công khai thì thông tin
tiết lộ cung cấp của các doanh nghiệp thực hiện một cách doanh nghiệp thực
hiện một cách công khai, nguyên tắc công khai được hiểu như là sự cung cấp
thông tin đầy đủ, trung thực và kịp thời.
1.2.PHÂN LOẠI CÔNG BỐ THÔNG TIN
1.2.1. Phân loại thông tin theo tính chất bắt buộc hoặc tự nguyện
- Thông tin bắt buộc: Là các thông tin mà ngân hàng bắt buộc phải
công bố theo quy định của các văn bản pháp luật của một quốc gia, như Luật
Doanh nghiệp, chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán và các quy định về CBTT
của UBCK và SGDCK.
- Thông tin tự nguyện: Là các thông tin mà doanh nghiệp tự nguyện
công bố để nhà đầu tư có thể hiểu rõ hơn về tình hình hoạt động của doanh
nghiệp mà các thông tin này không bắt buộc phải công bố theo quy định. Việc
CBTT tự nguyện nhằm thỏa mãn nhu cầu của người sử dụng.
1.2.2. Phân loại thông tin theo phạm vi bao quát
- Thông tin đơn lẻ của từng nhóm chứng khoán.
11
- Thông tin ngành, thông tin nhóm ngành.
- Thông tin nhóm cổ phiếu đại diện và tổng thể thị trường.
- Thông tin của SGDCK hay cả quốc gia, thông tin có tính quốc tế.
1.2.3. Phân loại thông tin theo thời gian
- Thông tin quá khứ, thông tin hiện tại và thông tin dự báo cho tương lai
- Thông tin theo thời gian (phút, ngày…).
- Thông tin tổng hợp theo thời gian (tuần, tháng, quý, năm…)
1.2.4. Phân loại theo nguồn thông tin
- Thông tin trong nước và quốc tế.
Thứ sáu là có thể so sánh, các thông tin và số liệu kế toán giữa các kỳ
kế toán trong một doanh nghiệp và giữa các doanh nghiệp chỉ có thể so sánh
được khi tính toán và trình bày nhất quán. Trường hợp không nhất quán thì
phải giải trình trong phần thuyết minh để người sử dụng báo cáo tài chính có
thể so sánh thông tin giữa các kỳ kế toán, giữa các doanh nghiệp hoặc giữa
thông tin thực hiện với thông tin dự toán, kế hoạch.
1.3.2. Yêu cầu thông tin kế toán thuộc BCTC
Theo VAS 01: Chuẩn mực chung cũng quy định rõ các yếu tố cơ bản
của báo cáo tài chính. Báo cáo tài chính phản ánh tình hình tài chính của
doanh nghiệp bằng cách tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế, tài chính có cùng
tính chất kinh tế thành các yếu tố của báo cáo tài chính. Các yếu tố liên quan
trực tiếp đến việc xác định tình hình tài chính trong Bảng cân đối kế toán là
Tài sản, Nợ phải trả và Vốn chủ sở hữu. Các yếu tố liên quan trực tiếp đến
đánh giá tình hình và kết quả kinh doanh trong Báo cáo kết quả hoạt động
kinh doanh là Doanh thu, thu nhập khác, Chi phí và Kết quả kinh doanh.
- Tình hình tài chính
- Tài sản
- Nợ phải trả
- Vốn chủ ở hữu
- Tình hình kinh doanh
13
- Doanh thu và Thu nhập khác.
- Chi phí.
- Ghi nhận các yếu tố của báo cáo tài chính.
- Ghi nhận tài sản
- Ghi nhận nợ phải trả.
- Ghi nhận doanh thu và thu nhập khác.
động CBTT phải do giám đốc hoặc người ủy quyền CBTT thực hiện, Giám
đốc hoặc Tổng giám đốc phải chịu trách nhiệm về nội dung thông tin do
người được ủy quyền, thông tư 52/2012/TT-BTC quy định cụ thể là:
Việc công bố thông tin phải đầy đủ, chính xác và kịp thời theo quy định
của pháp luật.
Việc CBTT phải do người đại diện theo pháp luật của công ty hoặc
người được ủy quyền CBTT thực hiện. Người đại diện theo pháp luật của
công ty phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, kịp thời và đầy đủ về thông
tin do người được ủy quyền CBTT công bố.
Trường hợp thực hiện CBTT thông qua người được ủy quyền CBTT,
công ty đại chúng, tổ chức phát hành, công ty chứng khoán, công ty quản lý
quỹ phải đăng ký một (1) người được ủy quyền thực hiện CBTT theo phụ lục
I kèm theo Thông tư này. Trường hợp thay đổi người được ủy quyền CBTT
phải thông báo bằng văn bản cho UBCKNN, SGDCK ít nhất năm (5) ngày
làm việc trước khi có sự thay đổi.
Trường hợp có bất kỳ thông tin nào làm ảnh hưởng đến giá chứng
khoán thì người đại diện theo pháp luật của công ty hoặc người được ủy
quyền CBTT phải xác nhận hoặc đính chính thông tin đó trong thời hạn hai
mươi bốn (24) giờ, kể từ khi nhận được thông tin đó hoặc theo yêu cầu của
UBCKNN, SGDCK.
Việc CBTT phải được thực hiện đồng thời với việc báo cáo UBCKNN,
SGDCK về nội dung công bố, cụ thể như sau:
15
Công ty đại chúng, tổ chức phát hành, công ty chứng khoán, công ty
quản lý quỹ khi thực hiện CBTT phải đồng thời báo cáo UBCKNN; SGDCK,
TTLKCK khi thực hiện CBTT phải đồng thời báo cáo UBCKNN đối với
những thông tin phát sinh từ SGDCK, TTLKCK;
nghĩa là công ty có báo cáo các thay đổi tài chính, thông tin và dữ liệu của các
điều kiện hoạt động bộ phận và thị trường chứng khoán trong các quy định
theo pháp luật nhằm đảm bảo an ninh chính quyền, lợi ích của nhà đầu tư và
chấp nhận sự giám sát của công chúng xã hội, và làm cho tất cả các thông tin
và dữ liệu công cộng hoặc công bố, để giúp các nhà đầu tư chủ động hoàn
toàn trong mọi tình hình. Việc công bố thông tin không chỉ bao gồm công bố
thông tin trước khi nó được phát hành, cũng bao gồm tiết lộ tiếp tục của thông
tin sau khi các công ty được niêm yết, trong đó chủ yếu là tạo thành hệ thống,
công khai, minh bạch, hệ thống báo cáo định kỳ và báo cáo tạm thời của
doanh nghiệp niêm yết.
Trong thị trường chứng khoán, tính không chắc chắn và rủi ro là những
yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến giá chứng khoán và tạo thành đặc điểm của
chứng khoán. Kể từ khi thu thập thông tin có thể làm thay đổi đánh giá về sự
không chắc chắn và rủi ro của chứng khoán, thông tin có ảnh hưởng rất lớn và
có ý nghĩa quyết định đối với biến động giá cả và giá cả, sự cân bằng của thị
trường chứng khoán. Các nhà đầu tư chỉ có thể đưa ra quyết định hợp lý và
thực hiện đánh giá chính xác khi họ có đủ kiến thức toàn diện về các thông tin
đến các hoạt động của công ty niêm yết.
Trong tình trạng như vậy, giá chứng khoán thực sự có thể phù hợp với
giá trị thực tế của nó. Đó là để nói, chứng khoán có giá trị gia tăng cao có
được mức giá cao tương ứng và các dự án với chất lượng tuyệt với có thể có
được đủ vốn, có thể đảm bảo rằng thị trường chứng khoán hoạt động có hiệu
quả. Vì vậy có thể thấy thông tin đóng vai trò rất quan trọng đối với thị trường
17
chứng khoán. Việc công bố thông tin là quá trình dai dẳng về thời điểm công
bố thông tin và là sự kết hợp của quãng thời gian thường xuyên và không
thường xuyên. Theo kinh nghiệm các nhà nghiên cứu các doanh nghiệp trên