Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong BCTC của các doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Hà Nội. - Pdf 45

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

PHẠM THỊ THU ĐÔNG

NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRONG BÁO
CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM
YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Đà Nẵng - Năm 2013


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

PHẠM THỊ THU ĐÔNG

NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRONG BÁO
CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM
YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN HÀ NỘI
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 60.34.30

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH


1.2.2. Phân loại theo phạm vi bao quát ..................................................... 9
1.2.3. Phân loại thông tin theo thời gian ................................................... 9
1.2.4. Phân loại theo nguồn thông tin ....................................................... 9

1.3. YÊU CẦU VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN ......................................... 9
1.3.1. Yêu cầu công bố thông tin kế toán ................................................. 9
1.3.2. Yêu cầu công bố thông tin trong báo cáo tài chính ...................... 10
1.3.3. Yêu cầu công bố thông tin của các doanh nghiệp niêm yết.......... 12

1.4. SỰ CẦN THIẾT CỦA CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN THỊ
TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN................................................................ 14
1.5. CHỈ SỐ ĐO LƯỜNG MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN ........... 18
1.5.1. Chỉ số chất lượng .......................................................................... 18
1.5.2. Chỉ số phạm vi .............................................................................. 22


1.5.3. Chỉ số số lượng ............................................................................. 24

1.6. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ
THÔNG TIN.......................................................................................... 26
1.6.1. Lý thuyết các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin. 26
1.6.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin ................ 28

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ...................................................................... 32
CHƯƠNG 2. THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH
HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN ......................... 33
2.1. ĐẶC ĐIỂM CỦA SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN HÀ NỘI .. 33
2.1.1. Nhiệm vụ....................................................................................... 33
2.1.2. Quyền hạn ..................................................................................... 34


chính........................................................................................................ 75
4.1.5. Tăng cường công tác kiểm toán nội bộ, nâng cao vai trò của kiểm
toán độc lập ............................................................................................. 76
4.1.6. Tăng cường xử phạt vi phạm công bố thông tin của các doanh
nghiệp niêm yết ....................................................................................... 77

4.2. KẾT LUẬN..................................................................................... 78
4.2.1. Kết quả đạt được ........................................................................... 78
4.2.2. Hạn chế của đề tài ......................................................................... 80

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................ 82
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCTC

: Báo cáo tài chính

CBTT

: Công bố thông tin

CTCP

: Công ty cổ phần

DNNY



DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu bảng
2.1.
2.2.
3.1.

Tên bảng
Danh sách 80 DNNY có tổng tài sản sắp xếp từ
thấp đến cao
Đo lường các biến độc lập của 80 doanh nghiệp
Chỉ số công bố thông tin của 80 doanh nghiệp
niêm yết

Trang
49
53
58

3.2.

Thống kê mô tả biến chỉ số công bố thông tin

61

3.3.

Thống kê mô tả các biến độc lập

63

các tổ chức cá nhân, nhà đầu tư đều dựa vào các thông tin do doanh nghiệp
công bố, thông tin là nền tảng cho quá trình hoạt động và phát triển của thị
trường chứng khoán.
Thông tin thị trường chứng khoán rất đa dạng và phong phú. Thông tin
sẽ phản ảnh tình hình tài chính, bản chất của doanh nghiệp. Qua đó các nhà
đầu tư có thể nhận định, phân tích và đầu tư có hiệu quả. Vì vậy để đảm bảo
cho thị trường chứng khoán hoạt động một cách minh bạch, công khai thì
thông tin tiết lộ cung cấp của các doanh nghiệp phải thực hiện một cách công
khai, minh bạch nguyên tắc công khai được hiểu như là sự cung cấp thông tin
đầy đủ, trung thực và kịp thời. Trong thực tế việc công bố thông tin của các
doanh nghiệp niêm yết đã xem nhẹ, có những doanh nghiệp niêm yết, nhưng
website sơ sài, không cập nhật thường xuyên, thông tin không công bố kịp
thời cho người sử dụng. Điều đáng nói hiện nay là sự chậm công bố thông tin,
trong thời gian qua đã có một số doanh nghiệp niêm yết đã bị phạt vì vi phạm
công bố thông tin và một điều đáng quan tâm là số liệu tài chính sau khi được
kiểm toán là một con số hoàn toàn khác với số liệu trước khi kiểm toán. Liệu
có những yếu tố nào ảnh hưởng đến thực trạng này, do chính bản thân doanh
nghiệp hay do các nhà đầu tư, các cơ quan quản lý, các yếu tố bên trong hay
bên ngoài doanh nghiệp có ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của
doanh nghiệp?
Có nhiều tác giả đã nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến công bố


2
thông tin của doanh nghiệp niêm yết, ở mỗi quốc gia cũng như của các nghiên
cứu trước đã có các nhân tố ảnh hưởng khác nhau như: Quy mô doanh nghiệp,
khả năng sinh lời, chủ thể kiểm toán, đòn bẩy tài chính. Vậy ở thị trường
chứng khoán Việt Nam những nhân tố nào ảnh hưởng. Xuất phát từ mục đích
nên tôi đã chọn đề tài: “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ
công bố thông tin trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết

bố thông tin
Chương 3: Phân tích kết quả nghiên cứu
Chương 4: Hàm ý chính sách và kết luận
6. Tổng quan tài liệu
Nhiều nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến
mức độ công bố thông tin ở các nước trên thế giới. Các nghiên cứu thực
nghiệm chủ yếu tập trung vào các doanh nghiệp niêm yết ở các nước đang
phát triển. Mitchell (Mitchell, Jason D, Chia. Chris WL & Loh, Andrew S
năm 1995 , p1-16) đã thực hiện nghiên cứu thực nghiệm các yếu tố ảnh hưởng
đến mức độ công bố thông tin của các doanh nghiệp niêm yết qua thăm dò ở
Úc và các ngành công nghiệp dầu. Kết quả cho thấy kích thước doanh nghiệp
và kích thước đòn bẩy có tác động đến công bố thông tin. Cooke, TE 1992,
p229-237 cũng đã hoàn thành một nghiên cứu thực nghiệm tại các công ty ở
Nhật bản cũng cho thấy kích thước của các công ty niêm yết và các loại ngành
công nghiệp có tác động đáng kể đến mức độ công bố thông tin của các doanh
nghiệp sản xuất niêm yết nhiều hơn các công ty trong các ngành công nghiệp
khác. Antti và Hannu (Antti, J. Kanto & Hannu. J. Schadewitz, 1997, p229241) cũng đã kiểm tra các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách công bố thông
tin tự nguyện và các công khai bắt buộc thông qua các công ty tài chính và phi
tài chính tại sở giao dịch chứng khoán Helsinki của Phần lan từ năm 1985 đến
năm 1993. Kết quả cho thấy rằng các nhân tố ảnh hưởng đến công bố thông


4
tin của doanh nghiệp không chỉ là kích thước doanh nghiệp, mà còn là cơ cấu
vốn, và sự tăng trưởng của doanh nghiệp. Tiếp đến sự tăng trưởng kinh tế và
phát triển toàn cầu hoá nhiều học giả bắt đầu chú ý đến các công bố tự nguyện
của các công ty đa quốc gia. Điển hình Gray, Meek (Meek, G. K, Roberts, CB
& Gray, SJ, 1995 p555- 572) đã nghiên cứu thực nghiệm ở 116 doanh nghiệp
ở Mỹ, 64 doanh nghiệp ở Anh và 46 lục địa châu Âu các tập đoàn đa quốc gia
để thực nghiệm nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến công bố thông tin

niêm yết.
Tiếp đến nghiên cứu của tác giả Lê Thị Trúc Loan2 (2012, P 119- 126)
kết quả nhân tố tỷ suất lợi nhuận được đo bằng lợi nhuận sau thuế trên tổng
vốn chủ sở hữu tại thời điểm 31/12/210) có ảnh hưởng đến mức độ công bố
thông tin của doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Bên cạnh những nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công
bố thông tin, có một số tác giả Lê Trường Vinh, Hoàng Trọng cũng đã nghiên
cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ minh bạch thông tin của các doanh
nghiệp niêm yết theo cảm nhận của nhà đầu tư”. Kết quả của nghiên cứu đã
cho rằng sự nhân tố Q có ảnh hưởng đến sự minh bạch trong công bố thông
tin.
Kế thừa và phát triển các nghiên cứu trước, luận văn tiếp tục xem xét các
nhân tố ảnh hưởng mức độ công bố thông tin của các doanh nghiệp niêm yết
trên SGDCK Hà Nội thông qua sử dụng các mô hình, kết quả các nhân tố của
các tác giả đã nghiên cứu trước đây như: Quy mô doanh nghiệp, khả năng
thanh toán, khả năng sinh lời, chủ thể kiểm toán cũng như thời gian hoạt động
của doanh nghiệp… những nhân tố nào có mối quan hệ và ảnh hưởng đến
mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp niêm yết.
1

Kỷ yếu hội thảo “35 năm phát triển và hội nhập trường Đại học kinh tế , Đại học Đà Nẵng”trang 210 -216
Bàn về mối quan hệ giữa một số nhân tố thuộc về đặc điểm doanh nghiệp và mức độ công bố thông tin của
các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Ths Lê Thị Trúc Loan, trang 119-128
2


6
CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN

bố tự nguyện hay không bắt buộc. Công bố bắt buộc (Madatory disclosure) là
những công bố kế toán được yêu cầu bởi luật pháp và những quy định của
một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ. Những công bố này phải được tình bày
theo những qui định của Luật Kinh Doanh, Uỷ ban chứng khoán, Các cơ quan
quản lý về kế toán, GAAP và sự lựa chọn của doanh nghiệp, không bắt buộc.
Có nghĩa là một công ty có thể hoặc không cần phải công bố các thông tin kế
toán mà luật pháp không yêu cầu. Theo Adina P. and Ion P. (2008), công bố
tự nguyện chỉ như là các thông tin được cung cấp thêm nhằm thoả mãn nhu
cầu của người sử dụng thông tin bên ngoài doanh nghiệp như các nhà phân
tích tài chính, các công ty tư vấn, các nhà đầu tư là các tổ chức… Theo xu
hướng hiện nay thì các công bố tự nguyện đang thu hút mối quan tâm lớn của
người sử dụng thông tin vì tính ảnh hưởng của nó, và các công ty cũng ngày
càng được khuyến cáo là sẽ thu được nhiều lợi ích hơn khi công bố các thông
tin dạng này.
Công bố thông tin là một yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến việc công
bố hiệu quả các nguồn lực của xã hội và giảm thiểu sự nhiễu loạn thông tin
giữa doanh nghiệp và các đối tượng sử dụng thông tin bên ngoài doanh
nghiệp (Adian, Ion-2008). Chính vì thế mà mọi nền kinh tế, tác động của hành
vi công bố thông tin, đặc biệt của các doanh nghiệp niêm yết trên các sàn giao
dịch chứng khoán là vô cùng to lớn. Ảnh hưởng này không chỉ giới hạn ở tầm
vi mô trong tình hình tài chính của từng đơn vị, từng nhà đầu tư mà lan rộng
trong cả nền kinh tế. Đó là lý do vì sao mà các nghiên cứu về công bố thông
tin, tác động và các yếu tố ảnh hưởng không ngừng được thực hiện bởi các
nghiên cứu trên khắp thế giới. Việc nghiên cứu ảnh hưởng của việc công bố
thông tin kế toán đến việc ra quyết định vẫn đã và đang là mối quan tâm của
các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách và các nhà quản trị doanh


8
nghiệp không chỉ ở các nước phát triển mà còn cả các nước đang phát triển.

hoạt động của doanh nghiệp.
1.2.2. Phân loại theo phạm vi bao quát
Thông tin đơn lẻ của từng nhóm chứng khoán
Thông tin ngành, thông tin nhóm ngành
Thông tin nhóm cổ phiếu đại diện và tổng thể thị trường
Thông tin của SDGCK hay cả quốc gia, thông tin có tính quốc tế
1.2.3. Phân loại thông tin theo thời gian
Thông tin quá khứ, thông tin hiện tại và thông tin dự báo cho tương lai
Thông tin theo thời gian (phút, ngày...)
Thông tin tổng hợp theo thời gian (tuần, tháng, quý, năm...)
1.2.4. Phân loại theo nguồn thông tin
Thông tin trong nước và quốc tế.
Thông tin của các tổ chức tham gia thị trường: Tổ chức niêm yết, công ty
chứng khoán và thông tin của SGDCK.
Thông tin tư vấn của các tổ chức tư vấn đầu tư và tổ chức xếp hạng tín
nhiệm.
Thông tin từ các phương tiện thông tin đại chúng (báo, truyền hình,
mạng Internet...)
1.3. YÊU CẦU VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN
1.3.1. Yêu cầu công bố thông tin kế toán
Theo VAS 01: Chuẩn mực chung, quy định rõ các yêu cầu cơ bản đối
với kế toán.
Thứ nhất là trung thực, các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép
và báo cáo trên cơ sở các bằng chứng đầy đủ, khách quan và đúng với thực tế
về hiện trạng, bản chất nội dung và giá trị của nghiệp vụ kinh tế phát sinh.
Thứ hai là khách quan, các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi


10
chép và báo cáo đúng với thực tế, không bị xuyên tạc, không bị bóp méo.

Vốn chủ sở hữu
Tình hình kinh doanh
Doanh thu và Thu nhập khác
Chi phí
Ghi nhận các yếu tố của báo cáo tài chính
Ghi nhận tài sản
Ghi nhận nợ phải trả
Ghi nhận doanh thu và thu nhập khác
Ghi nhận chi phí
Bên cạnh chuẩn mực chung quy định các yếu tố của BCTC thì chuẩn
mực 21: Trình bày BCTC quy định và hướng dẫn các yêu cầu và nguyên tắc
chung về việc lập và trình bày báo cáo tài chính gồm: Mục đích, yêu cầu,
nguyên tắc lập báo cáo tài chính; kết cấu và nội dung chủ yếu của các báo cáo
tài chính.
Yêu cầu lập và trình bày BCTC
Trung thực và hợp lý;
Lựa chọn và áp dụng chính sách kế toán phù hợp với quy định của từng
chuẩn mực kế toán.
Nguyên tắc lập và trình bày BCTC, gồm:
Hoạt động liên tục; Cơ sở dồn tích; Nhất quán; Trọng yếu; Bù trừ; Có thể
so sánh.
Kết cấu và nội dung chủ yếu của BCTC
Những thông tin chung về doanh nghiệp cần phải được trình bày trong
từng BCTC.
Kỳ báo cáo.
Kết cấu và nội dung bảng cân đối kế toán


12
Kết cấu và nội dung của Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.

Việc công bố thông tin phải được thực hiện đồng thời với việc báo cáo
UBCKNN, SGDCK về nội dung thông tin công bố, cụ thể như sau:
Công ty đại chúng, tổ chức phát hành, công ty chứng khoán, công ty
quản lý quỹ khi thực hiện công bố thông tin phải đồng thời báo cáo
UBCKNN; SGDCK, TTLKCK khi thực hiện công bố thông tin phải đồng
thời báo cáo UBCKNN đối với những thông tin phát sinh từ SGDCK,
TTLKCK;
Tổ chức niêm yết, đăng ký giao dịch, công ty chứng khoán thành viên,
công ty quản lý quỹ có quản lý quỹ đại chúng dạng đóng và công ty đầu tư
chứng khoán đại chúng khi thực hiện công bố thông tin phải đồng thời báo
cáo UBCKNN, SGDCK;
Công ty quản lý quỹ có trách nhiệm công bố thông tin về hoạt động của
quỹ đại chúng, công ty đầu tư chứng khoán đại chúng do mình quản lý theo
quy định của pháp luật có liên quan. Trường hợp công ty quản lý quỹ là công
ty đại chúng thì phải thực hiện trách nhiệm công bố thông tin áp dụng cho
công ty đại chúng.
Ngày công bố thông tin là ngày thông tin xuất hiện trên phương tiện công bố
thông tin; ngày báo cáo về việc công bố thông tin là ngày gửi fax, gửi dữ liệu điện
tử (qua email hoặc qua hệ thống công nghệ thông tin tiếp nhận báo cáo), ngày
UBCKNN, SGDCK nhận được thông tin công bố bằng văn bản.
Ngôn ngữ thực hiện công bố thông tin trên thị trường chứng khoán Việt
Nam phải là tiếng Việt. Trường hợp pháp luật quy định công bố thông tin bổ
sung bằng ngôn ngữ khác, ngôn ngữ thực hiện công bố thông tin bao gồm
tiếng Việt và ngôn ngữ khác theo quy định.
Trường hợp có sự thay đổi nội dung thông tin đã công bố, các đối tượng
công bố thông tin theo quy định tại Điều 1 Thông tư này phải đồng thời báo


14
cáo và có văn bản giải trình cho UBCKNN, SGDCK (trường hợp là tổ chức

được mức giá cao tương ứng và các dự án với chất lượng tuyệt vời có thể có
được đủ vốn, có thể đảm bảo rằng thị trường chứng khoán hoạt động có hiệu
quả. Vì vậy, nó có thể được nhìn thấy, thông tin là quan trọng đối với thị
trường chứng khoán. Việc công bố thông tin là mãi mãi dai dẳng quá trình về
thời điểm công bố thông tin và là sự kết hợp của khoảng thời gian thường
xuyên và không thường xuyên. Theo kinh nghiệm các nhà nghiên cứu các
doanh nghiệp trên toàn thế giới, thị trường chứng khoán là một kết quả cần
thiết của sự phát triển của công ty cổ phần hệ thống. Chỉ khi cổ đông được
cung cấp với một mức độ công bố thông tin đầy đủ mà trong đó họ có thể
nhận ra các cổ phần của mình tại bất kỳ thời điểm nào, được thúc đẩy nhanh
chóng hơn và lợi ích có thể nhận ra được tạo ra từ vốn quy mô lớn.
Công bố thông tin hay nói cách khác là thông tin kế toán còn được xem
là thông tin nền tảng cho sự phát triển của thị trường chứng khoán, kết quả
dịch chuyển nguồn vốn trong doanh nghiệp, tình hình sản xuất kinh doanh của
các tổ chức niêm yết, mức cổ tức được chia trong kỳ, cách tạo và sử dụng tiền
của các doanh nghiệp niêm yết và các thông tin khác trong báo cáo tài chính,
chính là yếu tố củng cố niềm tin của nhà đầu tư, cổ đông cũng như các đối tác
khác của doanh nghiệp. Đó chính là chìa khoá cho sự thành công và phát triển
bền vững của thị trường chứng khoán.
Chính vì thế sự đầy đủ của thông tin trong báo cáo tài chính của các
doanh nghiệp niêm yết trình bày đầy đủ là điều trước tiên mà các nhà đầu tư,
cổ đông, ngân hàng quan tâm. Qua những số liệu được trình bày đầy đủ mà
các đối tượng sử dụng thông tin công bố của doanh nghiệp có thể dễ dàng
nhận thấy, phân tích và đánh giá được tình hình tài chính cũng như triển vọng
trong tương lai, qua đó nhà đầu tư, cổ đông, các tổ chức tín dụng có thể có
những quyết định đúng đắn, đầu tư có hiệu quả.


16
Đối với công tác quản lý thị trường

nhà quản lý, nhà đầu tư có nhiều cách nhìn nhận và kiểm tra, giám sát khác
nhau đối với các doanh nghiệp niêm yết.
Báo cáo nhanh chóng tình hình hoạt động theo định kỳ. Hoạt động công
bố thông tin sẽ đảm bảo cho phép các DNNY có khả năng công bố thông tin
về tình hình hoạt động của mình theo định kỳ, cho nên nếu chúng ta xây dựng
được các tiêu chuẩn cho các thông tin công bố thì chúng ta có thể nhanh
chóng hệ thống hoá được các yêu cầu thông tin. Từ đó tạo điều kiện thuận lợi
cho các tổ chức phát hành công bố thông tin của mình một cách nhanh chóng,
thuận tiện nhất đảm bảo tính chính xác của dữ liệu thông tin.
Đối với nhà đầu tư
Đảm bảo nhận được thông tin một cách chính xác. Hoạt động công bố
thông tin sẽ đảm bảo công bố thông tin một cách chính xác cho các nhà đầu
tư, nhà đầu tư luôn cần có các thông tin cần thiết cho các dự báo, phỏng đoán
để nắm bắt thị trường nhằm phục vụ cho nhu cầu đầu tư của mình.
Đảm bảo tính công bằng chống các hành vi gian lận. Tính công bằng của
thông tin thể hiện ở hệ thống công bố thông tin đối xử công bằng, lành mạnh
đối với các nhà đầu tư, đang đầu tư hay chính là các đối tượng khai thác và xử
lý thông tin. Người ta vẫn nói rất nhiều tới sự thành công trên TTCK phần lớn
là biết cách nắm bắt thông tin đưa ra các quyết định hợp lý tại nhiều thời điểm
có lợi nhất dựa trên những hiểu biết về thông tin thị trường.
Hoạt động công bố thông tin phải đảm bảo theo nguyên tắc bảo đảm sự
công bằng đối với mọi nhà đầu tư, nhà đầu tư có thể khai thác thông tin một
cách trực tiếp thông qua hệ thống truyền thông, máy tính nối mạng hoặc gián
tiếp thông qua các bản tin, công ty tư vấn.
Các công bố thông tin sẽ được xây dựng dựa trên nguyên tắc đảm bảo
tính công bằng, có trật tự, đáp ứng được nhu cầu cần thiết cho mọi nhà đầu tư.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status